1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lý luận và pháp luật về quyền con người những nguyên tắc hiến định trong hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân

17 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận Và Pháp Luật Về Quyền Con Người Những Nguyên Tắc Hiến Định Trong Hiến Pháp 2013 Về Quyền Con Người, Quyền Công Dân
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THU HOẠCH MÔN LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI NHỮNG NGUYÊN TẮC HIẾN ĐỊNH TRONG HIẾN PHÁP 2013 VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 3 MỤC LỤC A LỜI NÓI ĐẦU 1 Néi dung 2 I Khái niệm quyền con[.]

Trang 1

MÔN: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

NHỮNG NGUYÊN TẮC HIẾN ĐỊNH TRONG HIẾN PHÁP

2013 VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

Trang 2

A LỜI NÓI ĐẦU 1

Néi dung 2

I-Khái niệm quyền con người, quyền công dân 2

1 Một số quan niệm cơ bản về quyền con người 2

1.1 Quan niệm về quyền con người với tư cách là con người thực thể tự nhiên 2

1.2 Quan niệm xem con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội 2

1.3 Quan niệm về quyền con người theo quan điểm biện chứng của triết học Mác-Lênin: 3

2 Một số vấn đề về quyền con người hiện nay 3

2.1 Một số khái niệm chung 3

3 Khái niệm về quyền công dân 4

3.1 Một số khái niệm chung 4

3.2 Khái niệm quyền công dân 4

II Đặc trưng của quyền con người 4

1 Tính lịch sử 5

2 Tính phổ biến và tính đặc thù 5

3 Tính nhân loại và tính giai cấp 5

4 Tính không thể chuyển nhượng 5

5 Tính không thể phân chia 5

6 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau 6

7 Quyền con người là một phạm trù pháp lý nên phải được thể hiện và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền 6

III- Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 6

IV- Một số giải pháp bảo đảm các quyền cơ bản của con người, quyền công dân 10

KẾT LUẬN 11

Trang 3

D- TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 4

A LỜI NÓI ĐẦU

Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực d©n sự, chính trị, kinh tế, văn hoá Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân,

do dân, vì dân Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo

vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế Trong những năm chiến tranh, tuy phải tập trung cao nhất mọi nguồn lực cho kháng chiến chống thực dân, đế quốc, không lúc nào Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tân đến xây dựng nhà nước, chính quyền cuả nhân dân, vì nhân dân và chăm lo cải thiện đời sống của người lao động, thực thi các quyền công dân đã được khẳng định trong Hiến pháp Trải qua lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam càng hiểu và trân trọng giá trị thiêng liêng của các quyền con người, trước hết là quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do quyết định vận mệnh của mình, quyền được sống trong sự tôn trọng nhân phẩm Dân tộc Việt Nam hiểu rõ quyền con người gắn với độc lập, hoà bình, dân chủ và phát triển Chính vì vậy ngay từ khi giành chính quyền, Việt Nam đã nhanh chóng tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, xây dựng và ban hành Hiến pháp 1946, trong đó quyền tự do cơ bản của công dân – bộ phận quan trọng nhất của quyền con người đã đc trân trọng ghi nhận Tiếp tục sau đó là sự ra đời của các bản hiến pháp 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 đã hoàn thiện hơn và hướng tới các quyền con người ngày càng được đảm bảo một cách tốt nhất trong nước Việt Nam

Vì vậy, em chọn đề tài “Những nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp

2013 về quyền con người, quyền công dân” để viết bài thu hoạch sau khi kết

thúc môn học Lý luận và pháp luật về quyền con người

Trang 5

Néi dung I-Khái niệm quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là vấn đề có tính lịch sử lâu đời, có nội dung rộng lớn và phức tạp Từ những lợi ích khác nhau, người ta có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về quyền con người

1 Một số quan niệm cơ bản về quyền con người

1.1 Quan niệm về quyền con người với tư cách là con người thực thể tự nhiên

Đây là quan niệm của những người theo học thuyết về quyền tự nhiên

“Natural rights”, còn gọi là trường phái pháp luật tự nhiên

Đại diện cho các nhà tư tưởng theo trường phái này là: Zenno (333-264 TCN), Thomas Hobber (1588-1679), John Locke (1632-1704), Kant (1724-1804), Thomas Paine (1731-1809) và Rousseau cho rằng: Quyền con người là đặc quyền

tự nhiên Đặc quyền tự nhiên này do có pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định, theo đó:

Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà cá nhân sinh ra đều được hưởng Quyền con người không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào Không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có thể ban phát tặng cho

Quan niệm này phủ nhận, đối lập với quyền lực nhà nước, pháp luật thực định

1.2 Quan niệm xem con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội

Nhân quyền là một giá trị nhân loại, là một phạm trù lịch sử, là thành quả đấu tranh giai cấp của nhân loại, được bổ sung những nội dung mới qua từng thời đại Quyền con người không phải là một khái niệm trừu tượng, không chỉ là quyền

cá nhân mang tính tự nhiên, bẩm sinh, mà luôn gắn với cuộc đấu tranh giai cấp, chịu sự tác động của chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; chỉ được đặt ra khi

xã hội có giai cấp; quyền con người do nhà nước quy định trong pháp luật

Trang 6

Con người là “động vật chính trị”, con người cần xã hội để tồn tại và phát triển Xã hội tồn tại các giai cấp, tập đoàn, nhóm người; xã hội cần đến quyền lực để quản lý xã hội; quyền lực là nhu cầu của con người để được bảo vệ, tồn tại, cứu trợ

Đây là là quan niệm của những người theo học thuyết về các quyền pháp lý

“legal rights” còn gọi là trường phái pháp luật thực định Đại diện là: Edmund Burke (1729-1797), Jeremy Bentham (1748-1832)

1.3 Quan niệm về quyền con người theo quan điểm biện chứng của triết học Mác-Lênin:

Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội Con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật xã hội”, do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”- sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội

Quyền con người là một sản phẩm của phương thức sản xuất: là sản phẩm của những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định, phát sinh từ những “quan hệ vật chất giữa người với người”; nội dung quyền con người bị chi phối bởi phương thức sản xuất “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định”

Quyền con người là một phạm trù lịch sử: không vĩnh hằng, bất biến, mà luôn biến đổi, phát triển qua các thời đại khác nhau; nhu cầu về quyền con người, việc đảm bảo quyền con người ở các quốc gia, dân tộc khác nhau có những nội dung khác nhau

Quyền con người gắn với nhà nước và pháp luật: Quyền con người ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật; không có nhà nước và pháp luật thì không có quyền; quyền con người là một bộ phận của kinh tế thị trường; không phải do nhà nước tạo ra một cách vô cớ, ngẫu nhiên mà là kết quả đấu tranh của chính con người để tự giải phóng mình “Quyền con người với tư cách là hiện thân của tự do”,…

2 Một số vấn đề về quyền con người hiện nay

2.1 Một số khái niệm chung

Trang 7

- Quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được

hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ quyền đó là trách nhiệm trước tiên của Chính phủ (Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, 1993)

- Quyền con người là những gì bẩm sinh của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể nào sống như một con người (LHQ: Hỏi đáp

về QCN, 2006)

- Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người (Văn phòng Cao ủy LHQ về QCN, OHCHR, 2006)

- Quyền con người là sức mạnh của ý chí để đảm bảo và bảo vệ chân giá trị con người bằng luật pháp chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức, hoàn cảnh hay sự ưu đãi (CEDAW – Thiết lập lại quyền cho phụ nữ, 2006)

- Khái niệm được ghi nhận trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2009): Quyền con người

là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

2.2 Khái niệm về quyền con người:

Quyền con người là các quyền tự nhiên, phản ánh nhu cầu và phẩm giá vốn

có của con người được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật.

Từ những khái niệm trên có thể thấy dù nhìn ở cấp độ nào, góc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện với tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử

Trang 8

3 Khái niệm về quyền công dân

3.1 Một số khái niệm chung

- Quyền công dân là những quyền con người được nhà nước thừa nhận và

áp dụng cho các công dân của mình

- Quyền công dân là những quyền cơ bản được đặc biệt bảo đảm cho công dân của một quốc gia cụ thể

- Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từ quyền tự nhiên hay gián tiếp thông qua sự sắp xếp chính trị trong một xã hội được thể hiện thông qua hiến pháp và các luật

3.2 Khái niệm quyền công dân

Quyền công dân là tổng hợp các quyền và tự do cơ bản được bảo đảm cho những người có quốc tịch của một quốc gia thông qua Hiến pháp và pháp luật.

II Đặc trưng của quyền con người

Đặc trưng quyền con người được thể hiện thông qua các thuộc tính cơ bản sau:

1 Tính lịch sử

Quyền con người không phải là khái niệm trừu tượng, không phải chỉ là quyền mang tính tự nhiên Quyền con người có những giá trị vĩnh hằng, song là đại lượng biến đổi gắn với cuộc đấu tranh giai cấp, với trình độ phát triển và tiến

bộ xã hội trong từng thời kỳ, tức là gắn với các hình thái kinh tế - xã hội

2 Tính phổ biến và tính đặc thù

Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có, gắn với bản chất của con người, được áp dụng bình đẳng cho mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, không có sự phân biệt đối

xử vì bất cứ lý do gì Quyền con người mang tính phổ biến vì tuy mỗi người là duy nhất, song chỉ có một loài người

Bên cạnh tính phổ biến, quyền con người còn mang tính đặc thù, nghĩa là bản chất của quyền con người là bình đẳng, nhưng không cào bằng, máy móc,

mà là bình đẳng về tư cách chủ thể, về cơ hội tiếp cận và hưởng thụ quyền Mọi

Trang 9

thành viên trong nhân loại đều có quyền, nhưng cần có những ưu tiên cho các đối tượng và trong trường hợp đặc biệt

3 Tính nhân loại và tính giai cấp

Tính nhân loại là kết quả cuộc đấu tranh của toàn nhân loại; là những giá trị nhân văn cao quý mà xã hội loài người hướng tới; là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con người để phát triển, hoàn thiện nhân cách của con người trong cộng đồng nhân loại

Tính giai cấp của quyền con người được thể hiện: tự do của mỗi giai cấp là

sự mất tự do của giai cấp đối kháng; trong xã hội có giai cấp đối kháng không thể có sự bình đẳng về quyền con người; bản chất xã hội, bản chất giai cấp quy định bản chất con người; không có quyền con người cho mọi chế độ

4 Tính không thể chuyển nhượng

Các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, trừ một số trường hợp đặc biệt nhưng phải do luật định

5 Tính không thể phân chia

Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc, không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất cứ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh cụ thể cần ưu tiên một số quyền để đảm bảo sự phát triển của con người

6 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Việc bảo đảm quyền con người, toàn bộ hay một phần, nằm trong mối liên

hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến

bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

7 Quyền con người là một phạm trù pháp lý nên phải được thể hiện và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền.

Trang 10

Quyền con người với tư cách là những đặc quyền tự nhiên thực ra mới ở dạng các khả năng, xu hướng và nhu cầu của con người; mà chưa phải là quyền con người Để đạt tới cái gọi là “quyền” bản thân chúng phải trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, tức là được pháp luật ghi nhận và được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật thông qua nhà nước Điều này xuất phát từ tính phức tạp của

sự thống nhất giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của cộng đồng, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia; giữa nhu cầu tự nhiên và nỗ lực của cá nhân

III- Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013

So với các Hiến pháp năm 1959,1980 và 1992, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 14) cũng như bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực

Với sự ra đời của Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến các quyền con người đã được ghi nhận một cách trân trọng và tập trung thành 01 chương riêng biệt, đó là Chương 2 với tên gọi "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" với tổng số 35 điều luật (từ điều 14 đến điều 49)

Về mặt nhận thức, cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn đề quyền con người cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng Hiến pháp năm 2013 (Điều 14) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và

khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật", Hiến pháp 2013 không chỉ

thừa nhận về mặt pháp lý các quyền con người trên 02 phương diện quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng mà còn khẳng định một cách rõ ràng cơ chế bảo vệ, bảo đảm thực hiện các quyền này trong thực tiễn đó chính là Hiến pháp và pháp luật

Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác

Trang 11

như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước Điều đó cũng đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: từ sự đồng nhất một cách

ấu trĩ khái niệm quyền con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị quan trọng, mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tố không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại

Tư tưởng bảo vệ các quyền con người được thể hiện rõ nét thông qua việc Hiến pháp 2013 đã quy định rõ các trường hợp quyền con người, quyền công dân bị hạn chế Ngoài những trường hợp này, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi phải được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện bởi toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế trong bốn (04) trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 14 bao gồm: Vì

lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng

Đồng thời thông qua quy định tại khoản 2 Điều 14, Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ cách thức duy nhất để có thể hạn chế quyền con người, quyền công dân đó là theo quy định của pháp luật Theo đó quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo các quy định của pháp luật chứ không thể bị hạn chế bằng bất cứ hình thức nào khác

Quyền con người, quyền công dân là quyền vốn có, quyền tự nhiên của mỗi con người Những quyền này được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm nên đã được nâng lên thành quyền hiến định, quyền luật định Tuy nhiên việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân của mỗi người, mỗi cá nhân trong xã hội không thể tùy tiện, vô lối mà phải đặt trong những khuôn khổ nhất định, có như vậy mới đảm bảo được tính ổn định và phát

Ngày đăng: 10/02/2023, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w