1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) PHÂN TÍCH QUY TRÌNH lập HIẾN THEO các bản HIẾN PHÁP QUA các năm HIẾN PHÁP 1946, HIẾN PHÁP 1959, HIẾN PHÁP 1980 và HIẾN PHÁP 2013

49 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 325,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn thông qua việc phân tích, so sánh không chỉ giới hạn ở các bản Hiến pháp của Việt Nam qua các năm mà còn có sự phân tích, đối chiếu với các bản Hiến pháp của các quốc gia Đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

KHOA LUẬT KINH TẾ

-BÀI TẬP NHÓM:

Môn: LUẬT HIẾN PHÁP

Giảng viên phụ trách: Lưu Đức Quang

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT 4

BÀI TẬP SỐ 1 5

Lời mở đầu 5

1 TẠI SAO NGƯỜI TA ĐỀ CAO, TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN VÀO QUY TRÌNH LẬP HIẾN? 7

1.1 Khái niệm hiến pháp, lập hiến 7

1.2 Chức năng của Hiến pháp 8

1.3 Hiến pháp ảnh hưởng người dân như thế nào? 9

2 SO SÁNH QUY TRÌNH LẬP HIẾN THEO CÁC BẢN HIẾN PHÁP QUA CÁC NĂM: HIẾN PHÁP 1946, HIẾN PHÁP 1959, HIẾN PHÁP 1980 VÀ HIẾN PHÁP 2013 11

2.1 Điểm giống nhau về quy trình lập hiến 11

2.1.1 Quyết định xây dựng, sửa đổi Hiến pháp 11

2.1.2 Không giới hạn thời gian sửa đổi Hiến pháp 12

2.1.3 Không có quy trình ban hành mới Hiến pháp 12

2.2 Điểm khác nhau về quy trình lập hiến 13

3 PHÂN TÍCH QUY TRÌNH LẬP HIẾN THEO CÁC BẢN HIẾN PHÁP QUA CÁC NĂM: HIẾN PHÁP 1946, HIẾN PHÁP 1959, HIẾN PHÁP 1980 VÀ HIẾN PHÁP 2013 15

3.1 Điểm giống nhau về quy trình lập hiến 15

3.2 Điểm khác nhau về quy trình lập hiến 17

4 SO SÁNH QUY TRÌNH LẬP HIẾN THEO HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH CỦA CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á 25

5 PHÂN TÍCH QUY TRÌNH LẬP HIẾN THEO HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á 28

5.1 Brunei 28

5.2 Indonesia 29

5.3 Thái Lan 29

5.4 Lào 31

5.5 Campuchia 31

5.6 Malaysia 32

Trang 3

5.7 Singapore 33

5.8 Myanmar 34

5.9 Philippines 34

5.10 Đông Timor 35

BÀI TẬP SỐ 2 36

Lời mở đầu 36

1 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT 38

1.1 Quyền con người 38

1.2 Khái niệm “ấu dâm” 38

1.3 Pháp luật Việt Nam đối với hành vi xâm hại tình dục 38

2 GIỚI THIỆU VỤ VIỆC 40

2.1 Tiểu sử nghi phạm 40

2.2 Diễn biến sự việc 40

2.3 Điều tra xét xử 42

3 PHÂN TÍCH HÀNH VI 43

3.1 Chủ thể liên quan 43

3.1.1 Gia đình nạn nhân 43

3.1.2 Bị cáo Nguyễn Hữu Linh 43

3.2 Công luận 45

3.2.1 Trước giai đoạn điều tra xét xử 45

3.2.2 Trong giai đoạn điều tra xét xử 46

3.2.3 Sau khi thi hành án 48

3.3 Cơ quan nhà nước 48

3.4 So sanh Điêu 146 BLHS 2015 va Điêu 114 BLHS 1999 53

4 BÌNH LUẬN, MỞ RỘNG 54

5 BIỆN PHÁP 59

5.1 Đối với gia đình 59

5.2 Đối với xã hội 59

6 KẾT LUẬN 60

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật Hình sựHĐXX: Hội đồng xét xửTAND: Tòa án nhân dânVKS: Viện kiểm soátUBND: Ủy ban Nhân dânTANDTC: Tòa án nhân dân tối caoBLTTHS: Bộ luật tố tụng Hình sựVKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 6

là Hiến pháp 2013 với nhiều sửa đổi, bổ sung.

Quy trình lập hiến có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động lập hiến Một bản Hiến pháp được xây dựng theo một quy trình, công nghệ dân chủ, khoa học, hoàn hảo các bước, các thủ tục quy định chặt chẽ, logic thì chắc chắn sẽ cho ra đời một sản phẩm là Hiến pháp có chất lượng tốt Trên thực tế có thể thấy rằng, quy trình lập hiến của các bản Hiến pháp Việt Nam trước rơi vào tình trạng bị tản ra khá nhiều, vẫn chưa đầy đủ và thiếu tính toàn diện, còn tồn tại nhiều lỗ hổng trong quy trình này và có thể nói là chưa có một quy trình lập hiến rõ ràng và đầy đủ Chính những điều đó đã khiến cho quy định lập hiến thiếu

đi tính thống nhất và ổn định Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 - bản Hiến pháp mới nhất của Việt Nam đã có sự kế thừa cũng như có những sự đổi mới, có thể coi là hoàn thiện, đầy

đủ, rõ ràng nhất, nêu ngắn gọn, tổng thể và tiến bộ nhất về quy trình ban hành và sửa đổi Hiến pháp mặc dù vẫn còn đó những thiếu sót và không rõ ràng.

Với mong muốn thông qua việc phân tích, so sánh không chỉ giới hạn ở các bản Hiến pháp của Việt Nam qua các năm mà còn có sự phân tích, đối chiếu với các bản Hiến pháp của các quốc gia Đông Nam Á để có một cái nhìn rõ ràng và tổng thể về quy trình lập hiến của Việt Nam; nhóm 7 chúng em xin tiếp cận đề tài "Quy trình lập hiến" - một đề tài đáng chú ý mà các sinh viên trong ngành học luôn hướng tới.

Đê tai đươc nghiên cưu dươi goc nhin va sư hiêu biêt co đươc qua qua trinh tim hiêu cua nhom sinh viên nên không tranh khỏi nhưng sai sot nhât đinh, nhom hy vong se co đươc

Trang 8

Hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ

Lập hiến bao gồm các hoạt động xây dựng và ban hành Hiến pháp, bổ sung hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và bãi bỏ̉ Hiến pháp

Quy trình lập hiến là trình tự, thủ tục mà các chủ thể tham gia phải tuân theo trong quá trình ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp; quy định các chủ thể,quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong quy trình đó

Cụ thể, ở Việt Nam, quy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Việt Nam theo quy định tại Điều 120 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 như sau:

“1 Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

2 Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3 Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.

4 Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.

5 Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.’’

Hiến pháp được coi là đạo luật gốc của quốc gia, đặt nền móng pháp lý vững chắc để xây dựng các đạo luật khác Từ những chế định, quy phạmđược quy định trong Hiến pháp, các đạo luật thông thường mới được đặt ra Qua đó, những tinh thần, nội dung của bản Hiến pháp được cụ thể hóa và đi vàothực tiễn cuộc sống cũng như tạo được tính thống nhất trong hệ thống pháp luật Vì vậy, việc lập hiến có vai trò vô cùng quan trọng, cần có sự đồng thuận của

để có thể tạo ra một bản Hiếnpháp dân chủ, tiến bộ

Thứ nhất, hiến pháp trao quyền cho các cơ quan nhà nước.

Cụ thể, hiến pháp trao quyền lập pháp cho quốc hội hay nghị viện, quyền hành pháp cho chính phủ, và quyền tư pháp cho tòa án Do đó, sự hiệndiện quyền lực của các cơ quan nhà nước là hợp pháp khi và chỉ khi được quy định định trong hiến pháp Như vậy, hiến pháp là nguồn hình thành nên cácquyền lực chính đáng của các cơ quan của Nhà nước

Thứ hai, hiến pháp giới hạn quyền lực của các cơ quan nhà nước.

1 Thái Vĩnh Thắng, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung, NXB Tư pháp),

tr 47

2 Uông Chu Lưu, Hiến pháp - nền tảng pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới, < https://bit.ly/3xobHFx >

Trang 9

: “Hiến pháp không phải là công cụ của chính phủ để đàn áp nhân dân, mà là công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ” Song

song với việc trao quyền, hiến pháp xác định các giới hạn pháp lý của việc sử dụng quyền lực để tránh việc lạm quyền, qua đó trở thành công cụ để nhân dânkiểm soát quyền lực nhà nước, là công cụ chủ yếu để thiết lập trật tự pháp luật, trật tự xã hội Chức năng giới hạn quyền lực của hiến pháp góp phần hình thànhnên chủ nghĩa hợp hiến (constitutionalism) trong một quốc gia

Thứ ba, hiến pháp xác lập và bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao, hiến pháp chính là bức tường chắn quan trọng ngăn ngừa các hành vi lạm dụng xâm phạm quyền con

Đồng thời, Hiến pháp cũng là cơ sở pháp lý chủ yếu để nhà nước, xã hội thừa nhận, tôn trọng và xác lập các cơ chế bảo vệ quyền conngười, quyền công dân

Thứ tư, hiến pháp là luật cơ bản, tinh thần pháp luật của quốc gia.

Hiến pháp chính là cơ sở nền tảng để xây dựng nên hệ thống pháp luật một quốc gia Tất cả các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật khác rađời đều phải căn cứ vào tinh thần, nội dung của Hiến pháp để ban hành và thực hiện Bất kì văn bản pháp luật nào trái với Hiến pháp đều phải bị bãi bỏ̉

Thứ năm, hiến pháp xác định cách thức tổ chức quyền lực nhà nước

Trong Hiến pháp có những chế định quy định về cách thức thành lập, các quy tắc tổ chức, vận hành và xác lập mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp,hành pháp và tư pháp Dựa vào những chế định này, đạo luật về tổ chức nhà nước sẽ được xây dựng để cụ thể hóa những nội dung quy định trong Hiến pháp

Thứ sáu, hiến pháp là một hình thức xác lập các nguyên tắc pháp luật chung và định hướng cơ bản của sự phát triển đất nước

Hiến pháp xác lập các nguyên tắc cơ bản của chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quốc phòng, anninh quốc gia, đường lối đối nội, đối ngoại

Thông qua việc tìm hiểu, phân tích định nghĩa và chức năng năng của Hiến pháp, có thể thấy, Hiến pháp là bản khế ước xã hội trao quyền lực chonhà nước, đồng thời xác lập, bảo vệ quyền con người và quyền công dân Thực tế, không có một bản hợp đồng nào là hợp pháp nếu thiếu đi sự tham gia thỏ̉athuận của bất kì một chủ thể có liên quan Do đó, việc tăng cường, chú trọng sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập hiến là yếu tố không thể thiếu bởi lẽ:

Thứ nhất, Hiến pháp là bản khế ước xã hội của nhân dân mà ở đó khẳng định quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân trao cho và để

Một bản Hiến pháp dân chủ,

văn minh là một bản Hiến pháp mà ở đó: “Nhà nước chịu sự ràng buộc của Hiến pháp là chịu sự ràng buộc của Nhân dân Quyền nhân dân đối với nhà nước

là quyền của chủ nhân, quyền được thực hiện khả năng kiểm soát và giám sát người được giao quyền, ủy quyền”6

Vì vậy tăng cường sự tham gia của nhândân giúp đảm bảo chủ quyền nhân dân, đảm bảo Hiến pháp phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, ngăn ngừa sự tùy tiện, lạm quyền của các lực lượngchính trị.Tăng cường tính công bằng, minh bạch, trung thực

3 Patrick Henry (1736-1779) - Thống đốc bang Virginia của Mỹ những năm 1790, một trong những người sáng lập nước Mỹ, thành viên Hội nghị lập hiến 1787, nổi tiếng với tư tưởng cách mạng và tinh thần chống tham nhũng

4 ABC về Hiến pháp 83 Câu hỏ̉i - Đáp (NXB Thế Giới), Tr 27

5 ABC về Hiến pháp 83 Câu hỏi - Đáp (NXB Thế Giới) Tr 21.

6 Đào Trí Út, Vũ Công Giao, Sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập hiến - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam (Viện Chính sách công & Pháp luật, NXB ĐHQG Hà Nội),

Tr 11.

Trang 10

Thứ hai, sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tìm hiểu và tiếp nhận ý kiến từ nhân dân qua đó thấy

được những vấn đề chung của xã hội, của đất nước với góc nhìn sâu sát, thực tiễn hơn Khi những ý kiến của người dân được tôn trọng, tiếp thu và được chútrọng trong quá trình lập hiến thì sẽ góp phần đảm bảo một bản Hiến pháp ghi nhận và phản ánh đầy đủ ý chí chung của toàn dân; mở ra cánh cửa giải quyết,hàn gắn những mâu thuẫn của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng như đáp ứng được nhu cầu của các nhóm lợi ích khác nhau Và một khi xã hội đạt được

sự đồng thuận và nhất trí cao thì đó cũng chính là biểu hiện cho một xã hội dân chủ trên nền tảng tự do thể hiện ý chí, mà cụ thể ở đây chính là việc người dânđược tham gia vào quy trình lập hiến

Thứ ba, Hiến pháp là một hình thức xác lập các nguyên tắc và định hướng cơ bản của sự phát triển đất nước một cách lâu dài mà ở đây, chính nhân

dân là người trực tiếp thực hiện, trực tiếp bị ảnh hưởng Nếu không có sự đồng thuận từ phía nhân dân thì những định hướng đó chỉ có ý nghĩa trên “mặt giấy”

mà hoàn toàn vô nghĩa trên thực tế

Thứ tư, việc tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình lập hiến sẽ thúc đẩy sự hiểu biết, nâng cao ý thức chính trị, tính tích cực của mỗi

công dân, khả năng sử dụng các quyền lợi hợp pháp cũng như thực hiện nghĩa vụ của mình Đó là tiêu chí quan trọng đánh giá sự thành công của một bản Hiếnpháp vì sự thực thi hiến pháp chỉ có giá trị khi người dân hiểu biết, chấp nhận và sử dụng nó

Thứ năm, gia tăng sự thống nhất giữa chính quyền và nhân dân qua đó tăng tính chính danh và trách nhiệm giải trình của nhà nước trước toàn thể

nhân dân

Như vậy, Hiến pháp là một biểu tượng và hiện thân pháp lý của quyền lực, quyền kiểm soát nhân dân với nhà nước Vì vậy mà không một cá nhânhay cơ quan quyền lực nào có thể xây dựng, sửa đổi Hiến pháp mà không có sự tham gia và đồng thuận của nhân dân Trong lịch sử, Hiến pháp Nhật Bản dướithời Minh Trị thiên hoàng năm 1889 chính là trường hợp điển hình trong việc “coi thường” sự đóng góp của nhân dân trong quy trình lập hiến Hậu quả là dù

đã được thông qua những bản Hiến pháp này trên thực tế hoàn toàn không có hiệu lực Vì vậy việc tăng cường sự tham gia của người dân trong quy trình lậphiến chính là thước đo đánh giá tính dân chủ, tiến bộ

PHÁP 1980 VÀ HIẾN PHÁP 2013.

2.1.1 Quyết định xây dựng, sửa đổi Hiến pháp:

Các bản Hiến pháp của Việt Nam đều có quy định về thẩm quyền trong việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp thuộc về Quốc hội, và đây là cơ quan duy nhất

có thẩm quyền ( Khoản 1 Điều 120 Hiến pháp 2013, quy định “Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp,…”, và khoản 1 Điều 50 Hiến pháp 1959, Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 1980, Điều 83 Hiến pháp 1992 cũng có quy định tương tự.)

Cả 5 bản Hiến pháp đều có quy định: Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Nghĩa là các quyết định về việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp chỉ được thông qua khi có ⅔ số đại biểu Quốc hội tán thành

2.1.2 Không giới hạn thời gian sửa đổi Hiến pháp

Cả 5 bản Hiến pháp đều không có quy định về giới hạn thời gian sửa đổi Hiến pháp

2.1.3 Không có quy trình ban hành mới Hiến pháp

Cả 5 bản Hiến pháp đều không có quy trình ban hành mới Hiến pháp

Trang 11

11

Trang 12

2.2 Điểm khác nhau về quy trình lập hiến

năm 1946

nghị viên yêu

- Ủy ban cầu” (khoản a

thường vụ Điều 70 Hiến

- Quốc hội pháp 1946)

- Chính phủ

- Bàn về lập hiến.

Hoặc ít nhất ⅓ tổng số đại biểu Quốc hội

(khoản 1 Điều

120 Hiến pháp 2013)

Trang 14

(khoản 3 Điều

120, Hiến pháp 2013)

đã được Nghị dựng, sửa đổi Hiến pháp soạn thảo, tổ

pháp được Nghị nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc có ít nhất hai

viện ưng hội biểu quyết tán thành phần ba tổng số

Trang 15

(Khoản 4 Điều

120 Hiến pháp 2013)

nước công công bố

bố (khoản 1 Điều (khoản 1 88 Hiến pháp Điều 103 2013)

Hiến pháp 1992)

HIẾN PHÁP 1980 VÀ HIẾN PHÁP 2013.

Đầu tiên là quyết định việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp

Đứng ở góc độ khách quan, nếu xem Hiến pháp là một văn bản của nhân dân, nó được sinh ra để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân thì chủ thể có thể sửa đổi Hiến pháp là nhân dân của quốc gia đó Tuy nhiên, nhân dân thực hiện quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo Hiến pháp các năm 1959,

1980, 1992 có quy định rằng chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp vả phải có sự đồng ý của ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, cụ thể được quy định tại Khoản 1 Điều 50 Hiến pháp 1959, Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 1980 và Điều 83 Hiến pháp

1992 Tuy nhiên Điều 70 Hiến pháp 1946 chỉ quy định khá ngắn gọn về việc sửa đổi Hiến pháp “Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu” Hiến pháp 2013 Điều 120 khá hoàn chỉnh

về quy trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp khi quy định khá rõ về quy trình lấy ý kiến nhân dân, dự thảo, sửa đổi và ban hành Và cũng chỉ rõ chủ thể có thẩm quyền đề nghị làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp là Quốc hội khi có đủ các điều kiện về biểu quyết tán thành của các thành viên Quốc hội thông qua, cụ thể được quy định tại Khoản 1 Điều 120 Hiến pháp 2013 “Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần

Trang 16

ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” Như vậy, Hiến pháp các năm chỉ ra rằng chủ thể được sửa đổi Hiến pháp là Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện nhân dân Nói cách khác các quy định này đảm bảo đúng nguyên tắc đề cao vai trò của nhân dân trong

xã hội.

Thứ hai, không giới hạn thời hạn sửa đổi Hiến pháp

Cả 5 bản Hiến pháp đều không có giới hạn thời gian sửa đổi Hiến pháp Điều này hoàn toàn phù hợp bởi xã hội luôn vận động, chuyển đổi không ngừng Sẽ có những trường hợp Hiến pháp phù hợp trong thời kỳ này nhưng đến khi tình thế biến chuyển thì bản Hiến pháp đó sẽ không hợp thời nữa Do vậy Hiến pháp có thể thay đổi bất cứ lúc nào, không cần phải trải qua một thời hạn nhất định Sự thật đã chứng tỏ̉ rằng khi nào nhân dân không công nhận một Hiến pháp nữa thì dù chưa đủ bốn năm hay tám năm cũng phải tìm cách sửa đổi ngay, nếu không Hiến pháp sẽ bị nhân dân lật đổ.

Thứ ba, không có quy trình ban hành mới Hiến pháp

Cả 5 bản Hiến pháp đều không có quy trình ban hành mới Hiến pháp Việc ban hành Hiến pháp mới thường xảy ra khi: i) khi thành lập quốc gia mới; ii) khi thay đổi chế độ chính trị; iii) khi có những thay đổi cơ bản về chế độ kinh tế, chính sách phát triển xã hội trong đường lối, chính sách của giới cầm quyền Nước ta và rất nhiều nước khác không có quy trình ban hành mới Hiến pháp được giải thích bởi 2 lý do sau:

Hiến pháp là văn bản pháp lý có tính cương lĩnh, quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của một quốc gia Đó là những vấn đề mang tính ổn định cao, ít bị tác động bởi sự thay đổi thường xuyên diễn ra của đời sống kinh tế - xã hội và vì vậy, các bản Hiến pháp bao giờ cũng rất ổn định, ít bị thay đổi như các đạo luật thường Cũng vì vậy, trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định, vấn đề ban hành mới Hiến pháp để thay thế Hiến pháp hiện hành ít được đặt ra.

Khi ban hành Hiến pháp, nhìn chung về mặt chủ quan, các nhà lập hiến đều mong muốn và tin tưởng bản Hiến pháp được ban hành cũng như thể chế chính trị đã sản sinh ra

nó phải tồn tại lâu dài, nếu không nói là vĩnh viễn Do đó, trong các Hiến pháp họ thường không đặt ra quy định về việc ban hành mới Hiến pháp mà chỉ có các quy định về việc sửa đổi Hiến pháp.

Trang 17

Đầu tiên là các bước trong quy trình lập hiến

Tính từ thời điểm ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đến nay, lịch sử lập hiến của nước nhà đã chứng kiến năm lần tiến hành hoạtđộng lập hiến, thông qua năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) Nhưng do các quy định về thủ tục lập hiến chưa đầy đủ, cụ thể nên những hoạtđộng lập hiến nêu trên chủ yếu dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có sự sáng tạo trong từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình đất nước Cụ thể trongHiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 147: “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểuQuốc hội biểu quyết tán thành”, quy định trên không nêu rõ các bước thực hiện quy định đó ra sao? Với những quy định trên thì ai là người có quyền đề xuấtxây dựng, sửa đổi Hiến Pháp, có cần thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp hay không? Công bố Hiến pháp sẽ như thế nào? Giới hạn của việc sửa đổi Hiến phápbao gồm những gì? Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 2013 là hai bản duy nhất có quy định cụ thể về các bước trong quy trình lập hiến, quyđịnh tại Điều 70 Hiến pháp năm 1946 và Điều 120 Hiến pháp năm 2013 Điều này giúp phân biệt rõ được quy trình lập hiến và quy trình lập pháp, thể hiện tínhtrội của quyền lập hiến so với quyền lập pháp “Để bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quy trình lập hiến không thể đồng nhất với quy trình lập pháp hay có thểlấy quy trình lập pháp thay thế cho quy trình lập hiến như hiện nay Quy trình lập hiến phải được hoàn thiện một cách phù hợp với vị thế của Hiến pháp và đồng

Trong hệ thống pháp luật nước ta, Hiến pháp là đạo luật cơ bảncủa Nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất Các chế định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ̉ quy định củacác ngành luật cụ thể Do đó, quy trình lập hiến cần được quy định một cách cụ thể, rõ ràng và phải tuân theo một trình tự, thủ tục, chặt chẽ

Thứ hai, đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến pháp

khi “do 2/3

7 Lê Minh Tùng (2013), Quy trình lập hiến ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc Hà Nội, < https://bit.ly/3dXYdZA> truy cập ngày 15/04/2021

Trang 18

- Bàn về lập hiến Hiến pháp

Hoặc ít nhất ⅓ tổng 1946)

số đại biểu Quốc hội8

Hiến pháp năm 1946 quy định Hiến pháp chỉ được xem xét xây dựng và sửa đổi khi “do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu” (Khoản a Điều 70 Hiến pháp1946) Như vậy, chỉ khi ⅔ số nghị viên yêu cầu thì vấn đề xây dựng, sửa đổi Hiến pháp mới được đưa ra thảo luận Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992: Hiến phápkhông quy định rõ chủ thể yêu cầu sửa đổi Hiến pháp Cụ thể, trong Điều 146 của Hiến pháp năm 1992 có quy định “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việcsửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” quy định này không rõ ràng về “việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là haiphần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” điều đó có nghĩa là vấn đề sửa đổi Hiến pháp được đặt ra khi có 2/3 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành hay dự

án sửa đổi Hiến pháp chỉ trở thành một bộ phận của Hiến pháp khi có ⅔ đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Nói cách khác, việc “tán thành” đó là việc thực hiện sángquyền sửa đổi Hiến pháp hay là việc thực hiện quyền thông qua Hiến pháp sửa đổi? Hiện nay việc “tán thành” đó có thể được hiểu là cả trong việc đề xuất sửa đổi Hiến

pháp lẫn trong việc phê chuẩn dự án Hiến pháp sửa đổi9

Trên thực tế, những lần sửa đổi ở các năm 1959, 1980, 1992 Hiến pháp được đề xuất sửa đổi ngay trong các kỳhọp Quốc hội các khóa tuy nhiên quyền đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến Pháp được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Ví dụ: đề nghị soạn thảo Hiến pháp năm 1946 do

Chính phủ thực hiện 10

; đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 do Ban thường trực Quốc hội thực hiện11

; đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Ủy ban Thường vụ

Quốc hội thực hiện12

Tuy nhiên Hiến pháp năm 2013: Việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp đã được đề xuất bởi những chủ thể nhất định Do đó, Hiến pháp 2013 nêu rõnhững chủ thể được quyền đề nghị xây dựng, sửa đổi Hiến pháp được quy định tại Khoản 1 Điều 120 Hiến pháp năm 2013 bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụQuốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất ⅓ tổng số đại biểu Quốc hội có quyền được đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổiHiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Và đây là một trong những điểm mới trong Hiến pháp năm 2013, trong đó “Hiến pháp

2013 chính thức quy định những chủ thể có quyền sáng kiến lập hiến thể hiện sự nghiêm túc, minh bạch, công khai, trành tùy tiện trong việc đề nghị làm Hiến pháp và sửa

đổi Hiến pháp”13

Vì vậy, Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc, toàn diện sự đổi mới đồng bộ

8 khoản 1 Điều 120 Hiến pháp năm 2013

9

Trường Đại học Kiểm soát Hà Nội, ‘Bàn về lập hiến’ , <https://bit.ly/2QJo929> truy cập ngày 12/04/2021

10Sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 của Chính phủ lầm thời dân chủ cộng hòa Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998,tr 391.

11 Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp ngày 02/7/1976 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

12 Nghị quyết số 43/2001/QH10 ngày 29/6/2001 của Quốc hội về thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992

13

Trang 20

cả về kinh tế và chính trị, thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Với những điểm mới này, Hiến pháp 2013 được thông qua là một bước tiến quan trọng trong lịch sử lập hiến của Việt Nam

Thứ ba, xây dựng dự thảo Hiến pháp

Quốc hội xem xét.15

Sau khi vấn đề xuất ban hành, sửa đổi Hiến pháp được thông qua thì Quốc hội sẽ thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp với các đại biểu đại diện các

cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, các cơ quan của Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội khác, một sốchuyên gia pháp lý có trình độ cao, có kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng pháp luật,… để thực hiện nhiệm vụ soạn thảo dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảoNghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp và Tờ trình; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội, của các ngành, các cấp,của nhân dân để chính lý dự thảo văn bản trình Quốc hội xem xét, thông qua Và trong Hiến pháp năm 1946: Khoản b Điều 70 Hiến pháp 1946 quy định nghịviện sẽ bầu ra một ban dự thảo những điều phải thay đổi của Hiến pháp để soạn thảo ra các bản dự thảo Hiến pháp Trên thực tế, ngày 06/01/1946, nước ta tiếnhành tổng tuyển cử bầu Quốc hội và trên cơ sở đó Quốc hội đã bầu Ủy ban dự thảo Hiến pháp với 11 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu TrongHiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 không quy định rõ về cơ quan phụ trách dự thảo Hiến pháp Tuy nhiên, trên thực tế, Quốc hội vẫn thành lập những cơquan đảm trách việc xây dựng dự thảo chỉ khác nhau về tên gọi và số thành viên tham gia vào quá trình Chẳng hạn như Ủy ban dự thảo Hiến pháp (ban hànhHiến pháp năm 1946 và sửa đổi Hiến pháp năm 1959 thành Hiến pháp năm 1980); Ban sửa đổi Hiến pháp (sửa đổi Hiến pháp năm 1946 thành Hiến pháp năm1959); Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001) hay Ủy ban sửa đổi Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1989 khi sửa đổi cơ bản, toàn diện Hiến pháp năm 1980) Trong đó, Hiến pháp năm 1959: Ban dự thảo gồm 28thành viên, Hiến pháp năm 1980: Ủy ban dự thảo gồm 36 người, Hiến pháp năm 1992: Ủy ban dự thảo gồm 28 người Tuy nhiên, sau các kỳ họp thảo luận củaQuốc hội, tất cả các bản dự thảo Hiến pháp sẽ được đưa ra trước toàn dân để cùng nhau thảo luận và đóng góp ý kiến Điều này cũng phần nào thể hiện rõ vaitrò của nhân dân trong suốt quá trình lập hiến Đối với Hiến pháp năm 2013: Theo Khoản 3 Điều 120, Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đểsoạn thảo ra bản dự thảo sau đó trình lên Quốc hội xem xét Trong bản dự thảo đó cần nêu rõ những nội dung cần được thảo luận ( trong quá trình này có tổchức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp) Việc thảo luận sẽ được thực hiện trong các kỳ họp của Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp, bao gồm quá

14 Khoản b Điều 70 Hiến pháp năm 1946

15 Khoản 3 Điều 120 Hiến pháp năm 2013

Trang 21

trình thảo luận, đóng góp ý kiến đại biểu về dự thảo, sau đó Ủy ban dự thảo sẽ tiếp nhận ý kiến và tiến hành sửa đổi dự thảo sao cho phù hợp Như vậy, việcthành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp là một việc rất cần thiết khi việc sửa đổi Hiến pháp không chỉ bao gồm các đại biểu Quốc hội, mà cần phải có sự đóng gópcủa các chuyên gia giỏ̉i về các lĩnh vực của đất nước Chỉ khi đó, các nhu cầu phát triển của đất nước mới được đáp ứng một cách đầy đủ và kịp thời

Thứ tư, tham vấn nhân dân

đã được Nghị dựng, sửa đổi Hiến pháp thảo, tổ chức lấy

quyết.”16

Tham vấn nhân dân là giai đoạn không thể thiếu trong quy trình lập hiến Hoạt động này có thể diễn ra tại tất cả các giai đoạn khác của quy trình lậphiến với nhiều hình thức khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp Việc lấy ý kiến của nhân dân, các ngành, các cấp thường được tiến hành sau khi Quốc hội đã thảoluận, cho ý kiến bước đầu vào dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp Đây chính là cơ chế phát huy quyền làmchủ của nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước; biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng theo ý chí, nguyệnvọng của nhân dân thành các quy định của Hiến pháp Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được Ủy ban dự thảo Hiến pháp tổng hợp đầy đủ, trung thực, nghiêncứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện dự thảo văn bản, bảo đảm chất lượng cả về nội dung và hình thức Cụ thể trong Hiến pháp năm 1946 nêu rõ “Những điềuthay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” tại Khoản c Điều 70 Hiến pháp 1946 Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992luôn đề cao việc tham vấn nhân dân trong suốt quá trình lập hiến Tuy nhiên, hầu như không có Hiến pháp nào quy định cụ thể về việc tham vấn nhân dân trongquá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp Nhưng trong suốt quá trình tiến hành, Quốc hội luôn xem trọng ý kiến đóng góp của nhân dân đối với việc xây dựng,sửa đổi Hiến pháp Hiến pháp năm 2013: đề cao việc tham vấn nhân dân trong suốt quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, thể hiện tính dân chủ của nước ta.Tại khoản 3 Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định: “Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp” Hơnnữa, mục đích của hoạt động tham vấn nhân dân quy trình lập hiến là một xu hướng chung của nền lập hiến nhân loại bời vì nó thể hiện rõ nét quyền lập hiếnthuộc về nhân dân, quyền này được cụ thể hóa trong Lời nói đầu Hiến pháp năm 2013: “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Tuy nhiên để thực hiện được hoạt động tham vấn nhân dân trong quy trình lập hiến thì còn phụ

16 Khoản c Điều 70 Hiến pháp năm 1946

17Khoản 3 Điều 120 Hiến pháp năm 2013

Trang 22

thuộc nhiều yếu tố khác như: sự phát triển kinh tế trong giai đoạn lúc bấy giờ, trình độ dân trí, tình hình trật tự an toàn xã hội, Trong điều kiện của nước tahiện nay thì Hiến pháp năm 2013 giao cho Quốc hội tùy từng trường hợp cụ thể mà quyết định tham vấn nhân dân về Hiến pháp Quy định này vừa có ý nghĩađảm bảo quyền lập hiến thuộc về nhân dân, vừa phù hợp với xu hướng lập hiến của các quốc gia trên thế giới, vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam

Thứ năm, thông qua Hiến pháp

Thông qua Hiến pháp “Những điều thay đổi Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải Hiến pháp được thông

quyết”19

quyết tán thành Việctrưng cầu ý dân vềHiến pháp do Quốc hội

Để Dự thảo Hiến pháp có hiệu lực thì nó cần phải được cơ quan có thẩm quyền thông qua, cơ quan đó chính là Quốc hội Tuy nhiên, ở tất cả cácbản Hiến pháp, Quốc hội sẽ thông qua các bản Dự thảo Hiến pháp, sau quá trình thảo luận khi Quốc hội có ít nhất ⅔ tổng số đại biểu tán thành Cuối cùng,Quốc hội sẽ ban hành một Nghị quyết về việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp để thông qua bản Dự thảo Khoản 4 Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định “ Hiến phápđược thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”

Thứ sáu, công bố Hiến pháp

18 PGS.TS Vũ Văn Nhiêm, tldd

19 Khoản c Điều 70 Hiến pháp năm 1946

20 Khoản 4 Điều 120 Hiến pháp năm 2013

21

Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 1992

22

Trang 23

Trên thực tế, hầu hết các bản Hiến pháp đều do Chủ tịch nước công bố, ngoại trừ Hiến pháp 1946 bởi vì ngày 19/12/1946, 12 ngày sau khi Quốchội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Vì thế Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầuNghị viện nhân dân cũng không có điều kiện thực hiện Điều đó có nghĩa, Chủ tịch nước sẽ là người có trách nhiệm công bố Hiến pháp với toàn dân Tuynhiên, chỉ có Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 quy định rõ ràng về việc Hiến pháp sẽ do Chủ tịch nước công bố, cụ thể tại khoản 1 Điều 103 Hiếnpháp 1992 và khoản 1 Điều 88 Hiến pháp 2013 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước Thời hạn công bố và thời điểm Hiến pháp bắt đầu cóhiệu lực do Quốc hội quyết định theo khoản 5 Điều 120 Hiến pháp 2013

Quyên đê xuât, sưa đôi Hiên phap

cử tri với số lượng từ 50 ngàn người trở lên

Chủ tịch Hạ nghị viện (nêu có yêu cầu của ít nhất ¼ tổng số thành viên của Hạ nghị viện, tức khoảng 30 Hạ nghị sĩ)

Hội nghị Hiến pháp được Nghị viện triệu tập trên cơ sở đề nghị của ⅔ tổng số nghị viên Hội nghị lập hiến cũng có thểđược thành lập theo đề nghị của ½ tổng số nghị viên và được đa số cử tri cả nước đồng ý

Nhóm cử tri bao gồm ít nhất 12% tổng số cử tri có đăng ký, trong đó, mỗi đơn vị bầu cử có ít nhất 3% số cử tri đăng ký

Trang 24

Hinh thưc đê xuât sưa đôi

Thao luân, xem xét Dư thao Hiên Phap

Ngày đăng: 13/12/2022, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w