1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn hiến pháp những điểm mới về quốc hội theo hiến pháp 2013 so với hiến pháp 1992

9 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những điểm mới về Quốc hội theo Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992
Tác giả Nhóm Trường Đại học Luật Hà Nội
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 40,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Luật Hà Nội Bài tập nhóm Mục lục MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1 Điểm mới về vị trí, tính chất của Quốc hội 1 2 Điểm mới về chức năng của Quốc hội 2 2 1 Điểm mới về chức năng lập hiến, lập pháp.

Trang 1

NỘI DUNG 1

1 Điểm mới về vị trí, tính chất của Quốc hội 1

2 Điểm mới về chức năng của Quốc hội 2

2.1 Điểm mới về chức năng lập hiến, lập pháp 2

2.2 Điểm mới về chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước 3

2.3 Điểm mới về chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước 4

3 Điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội 4

4 Điểm mới về cơ cấu tổ chức của Quốc hội 6

4.1 Điểm mới về uỷ ban thường vụ Quốc hội 6

4.2 Điểm mới về hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội 7

KẾT LUẬN 7

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngày 28-11-2013, với 97,59% số phiếu tán thành, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) Ðây là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng có tính lịch sử,

mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta

Với tính cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, thể hiện bản chất dân chủ của một nhà nước, Quốc hội luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các quy định pháp luật, mà trước hết là Hiến pháp, về thể chế chính trị nói chung

và bộ máy nhà nước nói riêng Việc sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 lần mới đây nhất (năm 2013) tất yếu kéo theo những thay đổi đáng kể đối với chế

định Quốc hội Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Những điểm mới về Quốc hội theo Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)” làm

bài tập lớn học kì Dù đã có nhiều cố gắng song vẫn còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô góp ý để bài tập của em được hoàn thiện hơn

Trang 3

NỘI DUNG

Chương V của Hiến pháp 2013, sửa đổi, quy định về Quốc hội, với 16 điều, từ Ðiều 69 đến Ðiều 85 (so với 18 điều, từ Ðiều 83 đến Ðiều 100 tại Chương VI của Hiến pháp năm 1992) Về mặt kỹ thuật, số lượng các điều trong Chương có giảm đi (giảm 2 điều); cách thiết kế các điều cũng thể hiện sự hợp lý, logic, chặt chẽ hơn về văn phong, bố cục, thể hiện bước tiến mới về kỹ thuật lập hiến

1 Điểm mới về vị trí, tính chất của Quốc hội

Theo Hiến pháp năm 2013, vị trí, tính chất của Quốc hội được quy định tại Điều 69, Điều đầu tiên của chế định Quốc hội (Chương V), tương ứng với Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) So sánh hai Điều này, có thể thấy vị trí của Quốc hội trong cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa hoàn toàn Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Theo đó, cả hai Điều đều quy định cùng một nội dung:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Quốc hội vẫn được quy định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam như Hiến pháp năm 1992 Với vị trí này, Quốc hội tiếp nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Quốc hội thực hiện quyền lực đó thông qua chức năng của mình và thông qua bộ máy nhà nước do mình kiến tạo nên một cách trực tiếp hay gián tiếp Cũng với vị trí này, về mặt nhà nước, Quốc hội đứng ở vị trí cao nhất trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không

có cơ quan nhà nước nào đứng ở vị trí ngang bằng hoặc cao hơn Quốc hội

Tuy nhiên, khác với Hiến pháp năm 1992, Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013 không còn là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến Đây là một sự đổi mới cơ bản về nhận thức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời kế thừa tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hiến pháp năm 1946 Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân)1 mà còn thông qua các cơ quan nhà nước khác,

1 Trong mô hình tập quyền XHCN, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc toàn bộ quyền lực tập trung vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân Với quan niệm sau khi bầu cử, nhân dân chuyển hết quyền lực nhà

Trang 4

và bằng cả hình thức dân chủ trực tiếp như phúc quyết Hiến pháp khi Quốc hội quyết định (Điều 120), trưng cầu dân ý (Điều 29) Vì thế, quyền lập hiến cao hơn quyền lập pháp, Nhân dân sử dụng quyền lập hiến để thiết lập quyền lực nhà nước, trong đó có quyền lập pháp Bằng quyền lập hiến của mình, Nhân dân giao cho Quốc hội thực hiện một số quyền cụ thể như quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp; thảo luận và thông qua Hiến pháp khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (Điều 120)

2 Điểm mới về chức năng của Quốc hội

Kể từ khi bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo mô hình xã hội chủ nghĩa (từ Hiến pháp 1959 cho tới nay), Quốc hội luôn được quy định 3 chức năng là lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước So với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), về cơ bản nội dung ba chức năng của Quốc hội vẫn được kế thừa trong Hiến pháp 2013 Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 có sự đổi mới về cách thể hiện, không liệt kê dài dòng như Hiến pháp năm 1992 Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 đã xác định vai trò của Quốc hội là cơ quan “thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước”

2.1 Điểm mới về chức năng lập hiến, lập pháp

Về thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 đã có

sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp: “Thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” (điều 69) mà không quy định như Hiến pháp năm 1992 là “cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Lập hiến và lập pháp theo Hiến pháp năm 1992 là một quyền)

Đối với quyền lập hiến, sự khác biệt giữa hai bản Hiến pháp là không có nhiều do tính duy nhất của Hiến pháp nên dù quy định như thế nào thì Quốc hội cũng là cơ quan duy nhất làm Hiến pháp Đối với quyền lập pháp, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì chỉ có Quốc hội mới

có quyền này Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải chỉ có Quốc hội và một mình Quốc hội cũng không có đủ khả năng tự mình xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã không còn dùng từ “duy

nước của mình cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước Do vậy, Hiến pháp năm 1992 quy định nhân dân chỉ thực hiện quyền lực nhà nước của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (điều 6).

Trang 5

nhất” để chỉ chức năng lập pháp của Quốc hội Quy định này cũng mở đường cho việc Quốc hội có thể ủy quyền cho Chính phủ cùng tham gia công tác lập pháp Điều này cũng đã được thể hiện trong quy định về quyền ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ tại Điều 100 Hiến pháp năm 2013, theo đó “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật”2

Hiến định nội dung này, Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi Quốc hội phải tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật để khắc phục tình trạng vừa thiếu pháp luật, vừa mẫu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Quốc hội đều phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, không thể tự định cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn khác ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn đã được Hiến pháp, pháp luật quy định

2.2 Điểm mới về chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà

nước

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội như sau: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 83, đoạn 4) Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội … giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69) So với Hiến pháp năm 1992 thì quy định

này có các điểm mới sau đây: thứ nhất, không quy định giám sát tối cao toàn bộ

hoạt động của nhà nước (bỏ “toàn bộ”), tức là phạm vi giám sát tối cao có giới hạn Sự Điều chỉnh, bổ sung này trong Hiến pháp năm 2013 cũng phù hợp với thực tiễn, bởi trong suốt quá trình lịch sử, hầu như phạm vi hoạt động giám sát của Quốc hội chưa bao giờ được thực hiện đối với các cơ quan nhà nước từ cấp

tỉnh trở xuống Thứ hai, quy định khái quát để Luật có điều kiện cụ thể hóa

những hoạt động nào của nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội

2.3 Điểm mới về chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của

đất nước

Hiến pháp 2013 quy định Quốc hội “Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” (điều 69) mà không liệt kê quyết định những vấn đề gì như Hiến

2 Tô Văn Hòa, “Một số điểm mới về vị trí, chức năng của Quốc hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam”.

Trang 6

pháp năm 1992: “Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của công dân” Quy định liệt kê như Hiến pháp 1992 tưởng là cụ thể nhưng vẫn không bao quát được một số thẩm quyền quan trọng do Quốc hội thực hiện vốn vẫn được coi là lĩnh vực quan trọng của nhà nước, ví dụ như bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước hay thông qua ngân sách nhà nước hàng năm,… Quy định như vậy chỉ phù hợp với quan niệm Quốc hội là một thiết chế có toàn quyền trong mô hình tập quyền XHCN trước đây Trong Hiến pháp năm 2013, chức năng này đã được quy định ngắn gọn hơn, không theo phương pháp liệt kê

và do đó có tính bao quát cao hơn Giờ đây Quốc hội có thể quyết định bất kỳ vấn đề gì được coi là quan trọng của đất nước Những vấn đề quan trọng đó, tất nhiên, không phải do Quốc hội quyết định một cách tùy tiện mà phải được trình lên Quốc hội theo các thủ tục do pháp luật quy định Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội “quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” (Điều 69) sẽ là

cơ sở Hiến định để sau này Luật cụ thể hóa phù hợp với vai trò của Quốc hội trong từng thời kỳ

3 Điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi về quy định nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội sau đây:

- Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quốc hội… quyết định chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh” (Khoản 1 điều 84) Hiến pháp năm 2013 bỏ quy định này cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo vị trí của Quốc hội trong tổ chức quyền lực nhà nước

- Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử

và các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập (khoản 2 điều 70) Sở dĩ có

sự thay đổi này là do Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung ở chương X hai thiết chế hiến định độc lập (hai cơ quan) là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước

- Hiến pháp năm 1992 quy định Quốc hội có nhiệm vụ quyền hạn:

“Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” (khoản 3 điều 83) Đây là nhiệm vụ quyền hạn của hành pháp thuộc trách nhiệm của Chính phủ và không phù hợp với Quốc hội trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Vì vậy, Hiến

Trang 7

pháp năm 2013 đã quy định, Quốc hội “quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách

và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế xã hội của đất” (khoản 3 điều 70)

- Khoản 4 Hiến pháp 2013 có hai vấn đề mới: một là, Quốc hội quyết

định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung

ương và ngân sách địa phương; hai là, Quốc hội quyết định mức giới hạn an

toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ Với quy định mới này, trách nhiệm của Quốc hội được tăng cường trong lĩnh vực ngân sách nhà nước

- Khoản 6 Hiến pháp 2013 bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc quy định tổ chức và hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồng bầu cử quốc gia, Uỷ ban Kiểm toán nhà nước và các cơ quan khác do nhà nước thành lập

- Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (khoản 7 điều 70) cho phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án nhân dân, làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, thông qua

đó, Quốc hội kiểm soát được nhân sự của Tòa án tối cao, cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời nâng cao vị trí của thẩm phán, góp phần đảm bảo cho thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo tinh thần cải cách tư pháp Đây cũng là cách thức để Quốc hội thay mặt nhân dân kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp thông qua quyền phê chuẩn của mình

- Khoản 8 thêm nhiệm vụ, quyền hạn thứ tám cho Quốc hội: “Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” Bỏ phiếu tín nhiệm là một việc được bổ sung vào nhiệm vụ, quyền hạn thứ bảy (cũ) trong lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2001 Hiến pháp 2013 từ “một chi tiết” đã nâng lên thành “một nhiệm vụ, quyền hạn” ngang hàng với các nhiệm

vụ, quyền hạn khác của Quốc hội Việc quy định “bỏ phiếu tín nhiệm” là một nhiệm vụ, quyền hạn “độc lập” với các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Quốc hội

là hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện tại (khi cả nước đang quyết liệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI- Một số nhiêm vụ cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay)

- Phân định rõ hơn các loại điều ước thuộc thẩm quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội Theo đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có thẩm quyền: “Phê chuẩn, quyết định gia nhập, hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước

Trang 8

quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với Luật Nghị quyết của Quốc hội” (khoản 14 điều 70) Trong lúc đó Hiến pháp năm 1992 quy định: “Phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước” (khoản 13 điều 84) Như vậy, so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 phân định rõ những điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội, phân biệt được với thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế mà Hiến pháp năm 1992 chưa làm được

4 Điểm mới về cơ cấu tổ chức của Quốc hội

4.1 Điểm mới về uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trước hết Ủy ban thường vụ Quốc hội không còn nhiệm vụ “Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội”, vì nhiệm vụ này đã được chuyển cho Hội đồng bầu cử quốc gia (một thiết chế độc lập mới) So với Điều 91 Hiến pháp

1992 thì khoản 5 được tách thành hai khoản mới Đoạn đầu thuộc công tác giám sát, được quy định thành nhiệm vụ, quyền hạn thứ ba (khoản 3 Điều 74): “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập” Đoạn hai được quy định thành khoản 4 mới của Điều 74 Hiến pháp 2013, đó là quyền “Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội”

Một nhiệm vụ-quyền hạn hoàn toàn mới là: “Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” (khoản 8 Điều 74)

Bổ sung thẩm quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước (khoản 6 Điều 74);

Trang 9

Bổ sung thẩm quyền phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền củaCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 12 Điều 74) Bởi vì, vị trí của đại sứ là đại diện đặc mệnh toàn quyền của nước ta ở nước ngoài nên việc quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn để Chủ tịch nước bổ nhiệm, cử, triệu hồi đại sứ là cần thiết Quy định này cũng là sự kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế

4.2 Điểm mới về hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội

Từ tính chất hoạt động của Quốc hội và yêu cầu công tác cán bộ, Hiến pháp 2013 quy định về các cơ quan của Quốc hội có sự đổi mới theo sự phân cấp quản lý cán bộ Quốc hội chỉ bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc và Chủ nhiệm các Ủy ban; còn Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban và các Ủy viên Hội đồng, Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn Khác với Hiến pháp 1992 “Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.”

Xuất phát từ kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội (theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003), một thiết chế mới được chính thức quy định trong Hiến pháp năm 2013, đó là Ủy ban lâm thời của Quốc hội

Từ Quốc hội khóa XI đến nay có khá nhiều vấn đề mà Quốc hội phải thành lập các Đoàn giám sát (thực chất là Ủy ban lâm thời) để xử lý Phần lớn các vụ việc

đó là các vụ án oan, sai hoặc các vấn đề kinh tế có sai sót nghiêm trọng Vì vậy Hiến pháp năm 2013 có hẳn một điều quy định về Ủy ban lâm thời, đó là Điều

78, nội dung như sau: “Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra một vấn đề nhất định”

KẾT LUẬN

Ngày đăng: 01/05/2023, 23:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w