B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LU ẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Qu ản lý kin
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Qu ản lý kinh tế
NGUYỄN NGỌC THÁI
Hà Nội - 2022
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Ngành: Qu ản lý kinh tế
Mã s ố:8340410
Họ và tên: NGUYỄN NGỌC THÁI
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS LÊ THỊ THU HÀ
Hà Nội - 2022
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu “Chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tu ệ đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam” là của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS, TS Lê Thị Thu Hà
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 02 năm 2022
Tác giả
Nguy ễn Ngọc Thái
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH 9
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP 15
1.1 Tổng quan về chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 15
1.1.1 Khái niệm chính sách bảo hộ quyền SHTT 15
1.1.2 Vai trò c ủa chính sách bảo hộ quyền SHTT 16
1.1.3 N ội dung của chính sách bảo hộ quyền SHTT 18
1.2 Tổng quan về Doanh nghiệp khởi nghiệp 20
1.2.1 Khái niệm Doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) 20
1.2.3 H ệ sinh thái khởi nghiệp 24
1.3 Vai trò của các chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với các DNKN 25
1.4 Nội dung của chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 30
2.1 Thực trạng phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam 30
2.1.1 S ố lượng 30
2.1.2 Chất lượng 33
2.1.3 Quy mô, lĩnh vực khởi nghiệp 36
2.2 Các hình thức bảo hộ và nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ cho các Doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam 37
2.2.1 Cách th ức tiếp cận 37
2.2.2 Các hình th ức bảo hộ 38
2.2.3 Nguyên tắc bảo hộ 42
2.3 Thực trạng chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam 46
Trang 62.3.1 Thực trạng chính sách, pháp luật về quản trị sở hữu trí tuệ đối với các
DNKN ở Việt Nam 46
2.3.2 N ột số ví dụ về chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay 51
2.4 Thực tiễn trong việc thực hiện chính sách, quy định pháp luật về QSHTT đối với các DN khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay 54
2.5 Các biện pháp xử lý, bảo vệ hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam 57
2.5.1 X ử lý bằng biện pháp dân sự 57
2.5.2 Xử lý bằng biện pháp hành chính 59
2.5.3 X ử lý bằng biện pháp hình sự 64
2.6 Đánh giá chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam 64
Tiểu kết chương 2 67
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 68
3.1 Nhu cầu cần hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp 68
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các biện pháp bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp 71
3.2.1 Nâng cao nămg lực của các doanh nhân khởi nghiệp 71
3.2.2 T ổ chức cùng tham gia hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp 72
3.2.3 Xây d ựng hành lang pháp lí đồng bộ 73
3.2.4 Xây dựng quy định riêng về pháp luật bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghi ệp khởi nghiệp phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế 74
3.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin cho các chủ thể là bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp 75
3.2.6 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của các Cơ quan nhà nước và của các Hiệp hội trong thực thi pháp luật về SHTT trong tiến trình hội nhập 76
3.3 Các kiến nghị đối với việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp 78
3.3.1 Xây d ựng văn bản quy phạm pháp luật riêng bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp 78
Trang 73.3.2 Thúc đẩy vai trò hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp gắn liền với quyền sở
hữu trí tuệ của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, địa phương 80
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT T ừ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 CP TPP Comprehensive and
Progressive Agreement for Trans-Pacific
Partnership
Hiệp định Đối tác toàn diện
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
5 TRIPs Agreement on Trade -
Related Aspects of Irs
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
6 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế
giới
7 WIPO World Intellectual Property
Organization
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Tài sản trí tuệ (TSTT) là những sản phẩm được con người tạo ra nhờ chính trí tuệ của mình, nó có thể bắt đầu từ những hoạt động sáng tạo trong chính cuộc sống của con người hoặc trong nhiều lĩnh vực đời sống khác Tài sản trí tuệ là một loại tài
sản vô hình và không thể xác định do đặc điểm vật chất của nó, tuy nhiên, tài sản trí tuệ lại là một loại tài sản có giá trị lớn nhờ những lợi nhuận mà nó mang lại cho người
sở hữu Tài sản trí tuệ bao gồm: các sáng chế, nhãn hiệu; các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các ý tưởng khoa học, kỹ thuật; giống cây trồng mới; bí quyết kinh doanh; bản ghi âm, chương trình biểu diễn hay cũng có thể là công thức pha chế một món đồ
uống nào đó, Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề mang tính cấp thiết và cần được quan tâm hơn nữa, bởi việc này mang một ý nghĩa quan trọng không chỉ với chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ, chủ thể sản xuất hay người kinh doanh, người tiêu dùng
mà việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của một quốc gia Đối với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ: Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
là một sự tôn trọng, ghi nhận những đóng góp của họ, đồng thời cũng khuyến khích, thúc đẩy họ tiếp tục sáng tạo, cống hiến cho nghiên cứu khoa học, từ đó làm ra nhiều sản phẩm có ích trong đời sống phục vụ con người Đối với chủ thể sản xuất, kinh doanh: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần giảm thiểu tổn thất cho các nhà sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy họ phát triển sản xuất, kinh doanh hợp pháp Đối với người tiêu dùng: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể
tiếp cận và sử dụng những sản phẩm, dịch vụ chính hãng, chất lượng cao, đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống Đối với một quốc gia: Việc bảo vệ sở hữu trí tuệ lại càng quan trọng hơn, sở hữu trí tuệ chính là “một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”, chính vì vậy, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả sẽ giúp quốc gia đó có một môi trường cạnh tranh lành mạnh, đồng thời nó cũng là động lực
để thúc đẩy cả một nền kinh tế đi lên, tạo nhiều cơ hội hợp tác về công nghệ, khoa học
kỹ thuật với các quốc gia khác trên thế giới cũng như thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, các tài sản hữu hình cũng như vô hình đang luân chuyển một cách liên tục giữa các quốc gia, do đó, việc bảo vệ
Trang 12quyền sở hữu trí tuệ còn là bảo vệ lợi ích của cả quốc gia Hơn nữa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn có ý nghĩa chính trị "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ bắt buộc, điều kiện tiên quyết đối với các quốc gia là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới và với các quốc gia muốn trở thành thành viên của tổ chức này Nhiều nước, đặc
biệt là những nước phát triển, đã coi việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là điều kiện không thể thiếu để thiết lập các quan hệ thương mại, việc thực hiện không đầy đủ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể tạo ra sự căng thẳng về thương mại
Hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam bắt đầu tử những năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2015-2020 Theo tạp chí kinh tế The Economist “kinh nghiệm khởi nghiệp tại những quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Israel cho thấy điều quyết định đến giá trị doanh nghiệp là đăng ký quyền SHTT để bảo hộ thương hiệu; 100% giá trị của các công ty khởi nghiệp tại Mỹ là dựa vào SHTT” Một trong những đặc điểm của các doanh nghiệp khởi nghiệp là sự non trẻ về kinh nghiệm tham gia thị trường và nguồn vốn hạn chế Tại Việt Nam cũng vậy, các doanh nghiêp khởi nghiệp đang bị cuốn vào việc phát triển sản phẩm, gọi vốn đầu tư, lập kế hoạch quảng cáo và bán hàng mà bỏ quên tầm quan trọng của việc đăng ký quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp mình Trong khi đó SHTT là tài sản vô hình quan trọng nhất, có khi chiếm 90-97% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp khởi nghiệp Do đó, nếu các doanh nghiệp khởi nghiệp bỏ quên hay không quan tâm đúng mức tới việc đăng ký bảo hộ SHTT sẽ dẫn đến sự tổn thương và mất mát khi gặp phải những những vấn đề tranh chấp, kiện tụng bản quyền Hiện nay các nghiên cứu về SHTT còn hạn chế đặc
biệt là những nghiên cứu về SHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp Trước bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài: "Chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam" để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học
của mình với mục đích tìm hiểu về các chính sách bảo hộ quyền SHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam như một sự gợi mở cho các doanh nghiệp có thêm nguồn tài liệu trong hoạt động khởi nghiệp của mình
2 T ổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 13Các doanh nghiệp khởi nghiệp xuất hiện từ những năm 2012 – 2013, tuy nhiên phải đến năm 2016 – năm được đánh giá là “Quốc gia khởi nghiệp” – thì làn sóng khởi nghiệp mới nở rộ mạnh mẽ Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam mới dần được chú trọng hơn Các tài liệu nghiên cứu về chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam trước bài luận văn này đã đưa ra được các đánh giá và đề xuất về từng lĩnh vực trong nghiên cứu các chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Đó là:
Luận án tiến sĩ “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược
ph ẩm tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Lê Thị Bích Thủy
(2021) đã tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm ở Việt Nam hiện nay,
đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm cũng như phát huy giá trị của nhóm đối tượng này ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tổng quan “XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP: VAI TRÒ
CỦA CHÍNH SÁCH CHÍNH PHỦ” do Cục Thông tin KH&CN Quốc gia biên soạn
Trong bài tổng quan, các lý thuyết về định nghĩa, đặc điểm, vai trò và thành phần của
hệ sinh thái khởi nghiệp được đưa ra chi tiết, cùng với đó, các nghiên cứu về xây dựng
hệ sinh thái khởi nghiệp trên thế giới cũng được đưa ra Bài tổng quan chọn đối tượng nghiên cứu là chính sách, vì thế nội dung của bài nghiên cứu tổng quan này tập trung vào phân tích vai trò của Chính sách chính phủ đối với các công ty khởi nghiệp, với
việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp Từ đó, các định hướng phát triển, cải thiện chính xác được đưa ra và lí giải chi tiết
- Nghiên cứu “Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chính sách hỗ trợ phát triển: Đánh giá tại bốn địa phương Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” Bằng phương pháp phân tích nội dung, nghiên cứu này khảo sát và đưa ra những đánh giá về mức độ phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, và
hiện trạng các chính sách hỗ trợ phát triển hệ sinh thái tại bốn thành phố lớn Cần Thơ,
Trang 14Đà Nẵng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị cho các chính quyền thành phố
Và cùng với đó là rất nhiều những bài viết, bài bảo nhỏ trên các trang báo, các cộng đồng khởi nghiệp Hàng năm, những thay đổi của hệ thống pháp luật, những bước tiến phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam luôn được cập nhật liên tục Với bài luận văn này, tác giả tổng hợp các kết quả nghiên cứu đáng giá về chính sách bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam trước đó, đồng
thời các phân tích về các yếu tố thành phần khác được tổng hợp bên cạnh những nghiên cứu đánh giá về yếu tố Chính sách Chính phủ từ các nghiên cứu trước đó
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là nghiên cứu thực trạng cơ sở lý luận về chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam; Thực trạng chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách bảo hộ quyền SHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu, nhiệm vụ nghiên cứu của bài luận văn là:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ QSHTT với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam
- Phân tích và đánh giá thực trạng các DNKN tại Việt Nam đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất về đối tượng nghiên cứu, từ đó có những đánh giá chính xác nhất
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối
với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam
- Về thời gian: nghiên cứu giai đoạn 2017-2021
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: để thu thập dữ liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để tìm kiếm, tổng hợp từ các nguồn sách, báo, tạp chí, các báo cáo của các cơ quan quản lý … Các dữ liệu thu thập được được tác giả sử
dụng để nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng của các quy định chính sách bảo
hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam
- Phương pháp phân tích dữ liệu: tác giả sử dụng phương pháp định tính bằng các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích và tổng hợp để phân tích các dữ liệu thứ cấp
Chương 2: Thực trạng chính sách bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp
khởi nghiệp tại Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện chính sách về bảo hộ QSHTT đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP 1.1 T ổng quan về chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm chính sách bảo hộ quyền SHTT
Yếu tố cơ bản nhất để xây dựng quyền SHTT là tài sản trí tuệ Tài sản trí tuệ được hiểu một cách cơ bản là những gì do trí tuệ con người phát minh ra từ những hoạt động sáng tạo và những phát minh này được công nhận là một loại tài sản Cũng tương tự như các loại tài sản khác, tài sản trí tuệ cũng có thể được đem ra trao đổi, mua bán và sử dụng, Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy điều khác nhau khi so sánh các loại tài sản khác với tài sản trí tuệ, tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình
Loại tài sản này được xem là một loại tài sản vô hình vì nó là tổng hợp những thông tin khác nhau, sau đó những thông tin này lại kết hợp với nhau trong một vật thể hữu hình khác Trong trường hợp này, quyền sở hữu trí tuệ không phải là quyền được sở
hữu chính những vật thể hữu hình kia mà là quyền sở hữu những thông tin được tổng hợp ở trong đó Khi được thể chế hóa thì những thông tin này biểu hiện cụ thể thành các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như: bí mật kinh doanh, tên thương hiệu, quy trình sản xuất sản phẩm, tác phẩm văn học nghệ thuật, bản ghi ân, ghi hình, chương chình phất sóng, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, v.v…Khi tài sản SHTT được nhà nước bảo hộ, thì người nắm giữ tài sản đó có một số quyền nhất định đối với tài sản của mình, đó là quyền sở hữu trí tuệ và cũng từ đó tài sản SHTT mới trở thành một loại tài sản quan trọng có giá trị Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền mà nhà nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản trí tuệ sự kiểm soát độc quyền trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bất hợp pháp
Theo Jenkins (1978) chính sách công là “một tập hợp các quyết định liên quan đến nhau được thực hiện bởi một tác nhân chính trị hoặc nhóm các đối tượng liên quan đến việc lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt được trong một tình
huống cụ thể mà những quyết định trên, về nguyên tắc, trong phạm vi của đối tượng đạt được”, James Anderson (1984) đưa ra định nghĩa khái quát hơn về chính sách là
Trang 17“Chính sách là một hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” Theo đó, chính sách là hệ thống
những hành động có chủ đích, mang tính quyền lực nhà nước được ban hành theo những trình tự thủ tục nhất định nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề phát sinh trong
thực tiễn
Vậy chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là việc nhà nước và các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ sử dụng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ của mình, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền
sở hữu các đối tượng này
1.1.2 Vai trò của chính sách bảo hộ quyền SHTT
Trước hết, bảo hộ quyền SHTT bảo đảm sự công bằng cho mỗi cá nhân hoặc một doanh nghiệp, một công ty trong quan hệ xã hội đã đầu tư thời gian, tài sản và nguồn lực vào việc tạo ra các sản phẩm trí tuệ dưới dạng sáng chế, giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu quyền SHTT đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế cùng với quá trình phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thì nhu cầu về bảo hộ SHTT càng cao Tại một số quốc gia phát triển thì việc xây dựng một hành lang pháp lý với những quy định chặt chẽ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết So với nhiều năm trước đây, xu thế ngày nay đã có nhiều điểm khác biệt, có thể nói hiện nay, tài sản chính của các doanh nghiệp là các loại máy móc
và công cụ phục vụ công việc sản xuất
Thứ hai, việc sáng tạo và phát triển tài sản trí tuệ đòi hỏi cả một quá trình và
cần huy động một khoản đầu tư lớn, do đó việc này tiêu tốn rất nhiều thời gian đồng thời cũng có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong khi đó, trong xã hội hiện nay, việc tài sản trí tuệ bị chiếm đoạt hoặc khai thác một cách bất hợp pháp lại đang diễn ra rất nhiều, điều này đã trở thành một vấn đề cần được quan tâm Tuy tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình nhưng nó lại có khả nămg lan truyền nhanh và không giới hạn bởi hầu hết những sản phẩm là tài sản trí tuệ đều rất dễ sao chép, nhất là trong thời đại khoa học
kỹ thuật phát triển như hiện nay, nhiều công nghệ mới được tạo ra khiến việc sao chép trở nên dễ dàng hơn Nguồn lợi nhuận khổng lồ mà việc sử dụng, sao chép tài sản trí
Trang 18tuệ một cách bất hợp pháp chính là động cơ để các hành vi vi phạm pháp luận này tiếp diễn Trên thực tế, những hành vi này rất khó phát hiện và xử lý, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với tên nhãn hiệu hay tên thương mại, vẫn đang diễn ra hàng ngày với số lượng lớn Tuy vậy, những vụ việc này lại chưa nhận được sự quan tâm của các cấp lạnh đạo như một số hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự khác Bên cạnh đó, những biện pháp xử phạt hiện nay đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT cũng chỉ mang tính cảnh cáo, răn đe chứ chưa thực sự tương xứng với số
lợi nhuận khổng lồ mà những người cố tình vi phạm đã có được
Thứ ba, trong khi chủ sở hữu sáng tạo ra các tài sản trí tuệ không có đủ khả nămg bảo vệ các tài sản trí tuệ mà mình tạo ra trước những nguy cơ bị sao chép, đạo nhái Vì vậy, nếu không có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các chủ sỡ hữu tài sản trí tuệ, cũng như những quy định để loại bỏ những hành vi vi phạm quyền SHTT thì sẽ dẫn đến việc các cá nhân, doanh nghiệp không còn động lực để tiếp tục nghiên cứu sáng tạo hay phát triển những sản phẩm mới, đồng thời cũng sẽ không còn một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp trên thị trường Việc bảo vệ quyền SHTT nhằm mục tiêu bảo vệ kết quả của cả một quá trình đầu tư nhân lực, vật lực để sáng tạo và phát triển, mặt khác cũng là để bảo đảm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường sẽ diễn ra một cách công bằng và trung thực Làm nền tảng để sáng tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển bền vững Các quốc gia trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam đang chia các biện pháp xử lý những hành vi vi phạm quyền SHTT thành 5 nhóm biện pháp chính như sau:
Trang 19Với những vai trò đó, việc bảo vệ quyền SHTT đông thời cũng là bảo vệ quyền
sử dụng và quyền quyết định với tài sản trí tuệ của chủ thể nắm giữ quyền SHTT của tài sản trí tuệ Bên cạnh đó, việc này cũng giúp ngăn cản những chủ thể khác tiếp cận
và sử dụng những tài sản trí tuệ đó một cách bất hợp pháp Những quy định của pháp
luật điều chỉnh về quyền SHTT ra đời rất sớm, vào khoảng thế kỷ XV, quyền SHTT đối với các loại dược phẩm đã được đề cập đến lần đầu tiên Hầu hết các đạo luật SHTT đều không gắn chặt với khái niệm về quyền SHTT mà chỉ sử dụng phạm vi đối tượng điều chỉnh Quá trình xây dựng và phát triển các chế định điều chỉnh trong luật SHTT đã chỉ ra phạm vi điều chỉnh tương đối hoàn chỉnh của bộ luật này, bao gồm ba nhánh chính: quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ đối với phát minh các giống cây
trồng và quyền sở hữu công nghiệp
Chính sách bảo hộ quyền SHTT nhằm một trong những mục tiêu để đẩy mạnh
và khuyến kích các cá nhân, doanh nghiệp tiếp tục sáng tạo và phát triển Trong khi
đó, sáng tạo và phát triển chính là động lực giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững Sự phát triển kinh tế giúp nền kinh tế tạo thêm việc làm Theo các chuyên gia, sáng tạo phát triển và đổi mới có đóng góp đến 80% trong tăng trưởng về nămg suất kinh tế của những nước có thu nhập cao, những quốc gia có nền kinh tế phát triển Các nghiên cứu còn cho biết những doanh nghiệp có sự sáng tạo và sẵn sàng đổi mới ở những nền kinh tế phát triển thì dễ dàng đạt nămg suất cao hợn so với các thành phần kinh tế còn lại
1.1.3 Nội dung của chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Nội dung chính sách bảo hộ QSHTT được thể hiện qua các biện pháp bảo hộ
và các nguồn luật điều chỉnh dưới đây:
Các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:
- Bảo hộ bằng các biện pháp hành chính: thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được áp dụng ở nhiều nước với những mức độ khác nhau Tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị cảnh cáo hoặc phạt tiền
Trang 20Bên cạnh đó còn có các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, tịch thu tang vật…
- Bảo hộ bằng các biện pháp dân sự: Bảo hộ bằng biện pháp dân sự được pháp luật hầu hết các nước trên thế giới quy định với các mức độ khác nhau nhưng nhìn chung pháp luật các nước đều đảm bảo cho chủ thể bị xâm phạm thực hiện các thủ tục
tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi của mình
- Bảo hộ bằng các biện pháp hình sự: Các biện pháp hình sự bao gồm cả phạt tiền và phạt tù, áp dụng không chỉ với các cá nhân trực tiếp vi phạm mà với cả những người tham gia vào việc vi phạm Bảo hộ bằng các biện pháp kiểm soát biên giới Các biện pháp này được thực hiện nhằm ngăn chặn việc mang các sản phẩm vi phạm vào
quốc gia có liên quan Những biện pháp hình sự thường do phía hải quan tiến hành Ngoài ra còn có một số ngoại lệ khác như là vì lợi ích công cộng mà chính phủ được cho phép khai thác tài sản trí tuệ mà không cần sự đồng ý của bên thứ ba hoặc khi chủ
sở hữu không thực hiện sáng chế nhà nước sẽ chuyển giao việc đó cho bên thứ ba
Nguồn luật điều chỉnh:
Việc xây dựng một bộ luật về SHTT được các nhà nước trên thế giới bảo đảm theo ba mục tiêu chính bao gồm: Phải đưa ra các tiêu chuẩn thủ tục, quy trình cụ thể trong việc xác lập quyền của chủ sở hữu và ngăn cấm các chủ thể khác khai thác sai mục đích Phải quy định các giới hạn đối với những quyền sở hữu trí tuệ vì mục đích phát triển kinh tế trong nước và xã hội Phải xây dựng cơ chế thực thi và cơ chế xử lí
vi phạm phù hợp, khả thi Vào năm 1709, tại Anh quốc, Đạo luật Bản quyền của Nữ hoàng Anh được ban hành – văn bản luật quốc gia đầu tiên ra đời trên thế giới về quyền sở hữu trí tuệ Do nhu cầu bức thiết của ngành công nghiệp xuất bản Anh nên Công ước Berne năm 1886 về bảo vệ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật đã ra đời, nối tiếp sau đó là Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và các nước ngay lập tức hưởng ứng (những nguyên lý cơ bản của hai công ước này đều là: không phân biệt đối xử, có các chế độ đãi ngộ, quyền ưu tiên, )
Trang 21Hiệp định TRIPS ra đời năm 1993 nhằm bảo hộ và thực thi quyền SHTT áp dụng trong khuôn khổ các nước thành viên của tổ chức WTO dể đảm bảo cho viêc bảo
hộ thực thi các quyền SHTT, góp phần thúc đẩy việc cải tiến và chuyển giao công nghệ phục vụ lợi ích chung Nội dung Hiệp định TRIPS bao gồm bốn vấn đề:
Nội dung thứ nhất của “Hiệp định TRIPS” là các nguyêm tắc cơ bản và nghĩa
vụ chung Hiệp định đã tái khẳng định nguyên tắc đãi ngô quốc gia được nêu nhiều lần trong các hiêp ước về quyền SHTT Thêm vào đó, các nước được yêu cầu không phân biệt đối xử giữa những người nước ngoài với nhau
Nội dung thứ hai của Hiệp định TRIPS là các mức độ bảo hộ tối thiểu Hiệp định đã có bước đột phá trong việc xác định những yếu tố chủ yếu của bảo hộ , các quyền kèm theo và thời hạn bảo hộ tối thiểu cho mỗi một loại quyền sở hữu trí tuệ
Nội dung thứ ba của Hiệp định là các thủ tục và biện pháp khắc phục trong nước nhằm thực thi quyền SHTT Các thủ tục và biện pháp này bao gồm các chế tài hành chính, theo đó các cơ quan xét xử phải có trách nhiệm đưa ra những biện pháp khẩn cấp tạm thời và hiệu quả nhằm ngăn chặn các hàng hóa vào các kênh thương
mại,…
Nội dung thứ tư của Hiệp định là các quy định về giai đoạn quá độ nhằm thực thi các nguyên tắc ở cấp quốc gia Các quốc gia thành viên của WTO được trao những thời hạn nhất định sau ngày Thỏa thuận thành lập WTO có hiệu lực trước khi buộc phải áp dụng Hiệp định TRIPS
1.2 T ổng quan về Doanh nghiệp khởi nghiệp
1.2.1 Khái ni ệm Doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN)
Thuật ngữ doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) “startup” có hai nghĩa, tính từ phản ánh một trạng thái bắt đầu của một hoạt động kinh doanh hoặc một dự án mới, danh từ có nghĩa là một doanh nghiệp được thành lâp nhằm thực hiện ý tưởng mới trên cơ sở sáng tạo ra những tài sản trí tuệ, công nghệ, hay các mô hình kinh doanh
mới và có khả nămg tăng trưởng nhanh trong một thời gian ngắn
Trang 22“Khởi nghiệp” theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là việc bắt đầu tạo dựng công việc, sự nghiệp riêng Khởi nghiệp là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (startup compamy), theo một cách hiểu hẹp hơn chỉ những doanh nghiệp đang bắt đầu quá trình xây dựng DNKN thường sẽ cung
cấp những sản phẩm và các dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn, chính vì vậy chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng giữa việc khởi nghiệp và việc lập nghiệp Theo Chủ tịch FPT, ông Trương Gia Bình: "Một bên là Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo,
một bên hiểu là Lập nghiệp (entrepreneurship) Lập nghiệp cũng có thể trở thành doanh nghiệp cực kỳ lớn Còn nói đến startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm" Còn theo ông Bùi Thế Duy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ: "DNKN phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa
là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới"
Có sự khác nhau hay không giữa DNKN với Công ty startup? Neil Blumenthal, Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky phát biểu trên tạp chí Forbes cho rằng: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not
obvious and success is no t guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo) Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean
Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A
startup is “a human institution designed to create new products and services under conditions of extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”) 1 N ếu như “khởi nghiệp” là khái niệm chỉ việc bắt
đầu tạo dựng công việc, sự nghiệp riêng thì “startup” là một trong những loại hình, cách thức mà các chủ thể có thể lựa chọn để “khởi nghiệp" Startup theo khái niệm là
phải có mô hình kinh doanh có thể “lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng” mà DN khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin lại dễ có được đặc tính này hơn các DN
1 https://emc.vn/khai-niem-startup-khoi-nghiep-lap-nghiep-tu-doanh
Trang 23trong lĩnh vực khác Mặc dù “startup” không phải bắt buộc phải là công ty về công nghệ, nhưng trong thời đại ngày nay, để giải quyết các vấn đề mới, chưa có giải pháp, thì việc ứng dụng công nghệ là hướng đi đa số các startup lựa chọn Hiểu theo cách này, các startup được nhìn nhận như là các DN khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Ở góc độ pháp lý, Lưật hỗ trợ DNVVN 02/2017/QH14 mgày 12.6.2017 định
nghĩa: DNVVN khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp được thành lâp để thực hiện những ý tưởng trên cơ sở khai thác và sáng tạo tài sản trí tuệ, công nghệ và các mô hình kinh doanh mới và có khẳ nămg tăng trưởng nhanh Nếu bỏ qua yếu tố nhỏ và vừa thì DNKN sẽ được xác định trên cơ sở các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 1, về tư cách pháp lý: Phải là doanh nghiệp;
- Tiêu chí 2, về hoạt động: Cần dựa việc phát minh sáng tạo các tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới;
- Tiêu chí 3, về triển vọng: Có khả nămg tăng trưởng nhanh
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp
- Thứ nhất, các DNKN phải có tímh đột phá và sáng tạo: sự đột phá và sáng tạo được thể hiện ở những thứ chưa hề có trên thị trường, tạo ra giá trị khác biệt hơn so
với những thứ đang có sẵn trên thị trường Ví dụ có thể tạo ra một phân khúc thị trường mới trong sản xuất thiết bị thông minh đo lường sức khỏe cá nhân, mô hình kinh doanh taxi công nghệ, công nghệ in ấn 3D 4D đặc biệt là những ứng dụng kinh doanh online kết nối giữa người bán hàng và người tiêu dùng trong thời đại công nghệ 4.0
- Thứ hai, DNKN phải đảm bảo mục tiêu tăng trưởng: tăng trưởng là mục tiêu chung đối với mỗi doanh nghiệp nhưng với các DNKN nó còn mang tính bắt buộc và
là vấn đề sống còn Những doanh nghiệp này giống như những đứa trẻ cần phải được
lớn lên một cách nhanh chóng, nếu sự lớn lên đó bị trì hoãn chậm chễ đồng nghĩa với việc các DNKN sớm bị loại khỏi thị trường Tăng trưởng có thể là sự phát triển mở rộng về quy mô, mở rộng về nhân sự, mở rộng về thị trường, từ đó thu hút được nhiều
Trang 24nhà đầu tư hơn Để đạt được các mục tiêu tăng trường các DNKN sẽ phải nămg động, sáng tạo và linh hoạt hơn so với các đối thủ cạnh tranh mới đạt được mục tiêu
- Thứ ba, vốn đầu tư: DNKN được bắt đầu đầu tư từ chính những doanh nhân, hoặc những nhà đầu tư có liên quan tới của doanh nhân khởi nghiệp đó Những trường hợp gọi vốn từ cộng đồng rất ít Sau những thành công ban đầu, các DNKN sẽ có
những lần gọi vốn từ các quỹ đầu tư qua nhiều vòng gọi vốn khác nhau Đây cũng là một trong những đặc điểm khác biệt và nổi bật của DNKN Công nghệ thường là đặc tính tiêu biểu của sản phẩm từ một DNKN Ngay cả khi sản phẩm không cần dựa vào công nghệ thì các DNKN cũng cần áp dụng nhiều công nghệ để đạt được các mục tiêu kinh doanh cũng như những tăng trưởng Đặc biệt công nghệ thường được áp dụng trong hoạt động truyền thông quảng bá hình ảnh của sản phẩm tới người tiêu dùng vô cùng hiệu quả.;
- Thứ tư, về mô hình kinh doanh: các DNKN vẫn trong quá trình xác định tìm
hiểu những mô hình kinh doanh cho phù hợp với thị trường cũng như phù hợp với mục tiêu kinh doanh của DN Mục đích lớn nhất của DNKN đó không phải là doanh
số như những doanh nghiệp truyền thống và hoạt động còn mang tính chất cổ điển, đó
là tìm ra được mô hình kinh doanh hiệu quả kết hợp với quy trình làm việc hiệu quả nhất để đạt mục tiêu tăng trưởng Để có thể tìm được mô hình kinh doanh hiệu quả
nhất các DNKN phải không ngừng tăng cường sự thử nghiệm, cải tiến và thực hiện những cách làm mới Vì các DNKN thường phải đi kêu gọi các nhà đầu tư để huy động vốn, các nhà đầu tư có sự xem xét rất kỹ cách kiếm tiền, vận hành công ty của
những DNKN trước khi quyết định đầu tư vào một dự án mà họ tin tưởng sẽ đem lại lợi nhuận trong tương lai;
- Thứ năm, cách đối mặt với rủi ro: DNKN được xây dựng để sẵn sàng đối diện
và giải quyết những khó khăn hay rủi ro gặp phải Các DNKN thường có những phương án dự phòng cho sự đầu tư kinh doanh đầy rủi ro này Việc đối diện với rủi ro hay những khó khăn ban đầu khi khởi nghiệp là những bài học quý báu mà các DNKN trưởng thành hơn và rút ra được nhiều bài học quý báu hơn Việc tìm ra được các mô hình hoạt động kinh doanh hiệu quả thông qua các quá trình đối mặt hay trải nghiệm
Trang 25khó khăn sẽ khiến các DNKN hoạt động ngày càng hiệu quả hơn và đạt được mục tiêu tăng trưởng
1.2.3 H ệ sinh thái khởi nghiệp
Hệ sinh thái khởi nghiệp (tiếng Anh: entrepreneurial ecosystem) là một thuật ngữ chỉ một cộng đồng (community) bao gồm các thực thể cộng sinh, chia sẻ và bổ sung cho nhau, tạo nên môi trường thuận lợi thúc đẩy sự hình thành nên các DNKN sáng tạo và tăng trưởng nhanh Hệ sinh thái khởi nghiệp cũng là cách mà một quốc gia nói chung hay một thành phố nói riêng sử dụng để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong chính quốc gia hay thành phố đó.[2] Trong khi dó, OECD định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp như là “tổng hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm nămg hoặc hiện tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng,…) và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,…) và tiến trình
khởi nghiệp (tỉ lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp,…) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp
tại địa phương”
Gần đây, khái niệm về hệ sinh thái khởi nghiệp đang được sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động khởi nghiệp và sáng tạo kinh doanh Mặc dù hệ sinh thái
khởi nghiệp không có một định nghĩa riêng chính thức được công nhận nhưng thuật ngữ này vẫn đang được sử dụng trong nhiều trường hợp theo những cách khác nhau, song về cơ bản, khi nhắc tới hệ sinh thái khởi nghiệp, có thể hiểu là đang đề cập đến
một khu vực địa lý cụ thể hoặc một “điểm nóng” (ví dụ như Thung lũng Silicom) mà
ở đó tập trung các công ty cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp với một quy mô
lớn
Phạm vi của hệ sinh thái khởi mghiệp có thể thay đổi từ một vài tòa nhà cho đến cả một qưốc gia Ví dụ, Báo cáo Xếp hạng Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu, được coi là phân tích tổng hợp quốc tế toàn diện nhất, định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp là “một khu vực đô thị hoặc khu vực địa lý (bán kính khoảng 100km) có sử dụng chung các nguồn lực”
Trang 26Cũng giống như một hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái khởi nghiệp cũng có các đặc điểm như phụ thuộc lẫn nhau hay cùng có đặc trưng của các thực thể trong một hệ sinh thái Hay có thể nói, các hệ sinh thái không phải là các cá nhân riêng biệt hay một nhóm cá nhân mà hệ sinh thái là mối quan hệ giữa cá nhân hoặc nhóm cá nhân đó trong một môi trường Các thành viên chính của hệ sinh thái khởi nghiệp rõ ràng là các DNKN Các thành viên khác được coi như là một phần của hệ sinh thái bao gồm: các quỹ và các nhà đầu tư, các vườn ươm, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp và các nhà cung cấp các dịch vụ khác cũng như các quá trình và các sự kiện hay những thực thể khác
1.3 Vai trò c ủa các chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với các DNKN
Thứ nhất, giúp các cơ quan quản lý thực hiện chức nămg quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT với DNKN Những chính sách được cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý cơ bản của quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền SHTT nói chung Việc hình thành hệ thống cơ quan quản lý SHTT nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ cấp Trung ương xuống địa phương giúp cho hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về SHTT, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những vi phạm trong lĩnh vực này
Thứ hai, Chính sách bảo hộ quyền SHTT định hướng cho các tổ chức cá nhân thực hiện đúng các quy định về quyền SHTT Những quy định chính sách được cụ thể bằng văn bản pháp lý là điều kiệm đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn và bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau Hệ thống văn bản pháp lý có vai trò không thể thay thế trong việc đảm bảo thực hiện các quy định về vấn đề này Các chính sách bảo
hộ sẽ góp phần giúp các DNKN đi đúng hướng và hạn chế những sai sót hay vi phạm liên quan đến bản quyền SHTT sau khi DNKN thành công
Thứ ba, các chính sách bảo hộ quyền SHTT cũng là công cụ giúp khuyến khích các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển sản phẩm một cách độc lập của các DNKN vì khi các phát minh, sáng chế của những doanh nghiệp này được bảo vệ về mặt pháp luật, họ sẽ nhận được một sự khuyến khích để đầu tư thêm vào các chương
Trang 27trình nghiên cứu sáng tạo và phát triển sản phẩm cũng như nâng cấp các dây chuyền sản xuất, Nếu so sánh với những trường hợp không đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ thì chi phí cho việc bảo hộ các phát minh, sáng chế đã được cấp bằng sáng chế sẽ vào khoảng từ 180% đến 240% tùy từng lĩnh vực khác nhau Có thể nói theo cách khác rõ ràng hơn, khi chi phí để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm mà các
cá nhân, các doanh nghiệp sáng tạo ra tăng thêm 10% thì kinh phí mà các doanh nghiệp bỏ ra cho việc nghiên cứu và phát triển cũng sẽ tăng lên 6% Hiện nay, các nước trên thế giới đều đã công nhận tầm quan trọng của chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với những chương trình khuyến khích sự đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển Riêng ở Việt Nam, Bộ Khoa học công nghệ cũng đã đặc biệt nhấn
mạnh vai trò mang tính quyết định của quyền SHTT trong các hoạt động đổi mới sáng tạo, Thứ trưởng Trần Việt Thanh từng phát biểu như sau: “Việc bảo hộ và giao dịch quyền sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tại Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung”
Thứ tư, đối với xã hội thì các chính sách bảo hộ quyền SHTT đối với DNKN
có vai trò to lớn đối với quá trình phất triểm bềm vữmg của nỗi nột quac gia Chính vì
cậy, việc thông qua các văn bản về tính quy phạm pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT đối với DNKN là cơ sở pháp lí cho việc cơ quan nhà nước thực hiện chức nămg thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực SHTT Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định
kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lí vi phạm mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô
ý hoặc cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực SHTT
Thứ năm, các chính sách bảo hộ quyền SHTT đối với DNKN có vai trò quan
trọng trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về lĩnh vực này Với những hoạt động giáo dục, truyền thông và định hướng cho các tổ chức các nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các thành phần kinh tế về lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT Khi nhận thức của con người được nâng lên thì hành
Trang 28động sẽ được thực hiện đúng theo các chính sách của chủ thể tạo ra các quy định pháp
- Thương mại hóa quyền SHTT
- Giám sát và thực thi quyền SHTT
Ngoài ra, việc xây dựng chiến lược bảo hộ quyền SHTT là dựa theo cách tiếp cận về phạm vi tác động của chiến lược Theo đó, chiến lược bảo hộ quyền SHTT gồm chiến lược bảo hộ quyền SHTT bên trong và bên ngoài
Chiến lược bảo hộ quyền SHTT bên trong: gồm các nội dung kiểm toán SHTT, chính sách SHTT và chiến lược tạo lập và duy trì SHTT
Chiến lược bảo hộ quyền SHTT bên ngoài: gồm các nội dung chiến lược thực thi, chiến lược tình báo cạnh tranh và chiến lược chính sách công
Cả hai phần bên trong và bên ngoài của chiến lược SHTT cần phải được thực hiện bên trong DN Việc tạo ra văn hóa SHTT trong DN là mục tiêu cuối cùng của việc thực hiện chiến lược SHTT
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Hà và Nguyễn Thành Khang (2017) có bàn
về việc quản trị TSTT, các mô hình quản trị TSTT gồm 5 bước : i) Lập kế hoạch quản trị TSTT; ii) Tạo lập TSTT ii) đăng ký bảo hộ quyền SHTT; iii) khai thác thương mại TSTT; iv) đánh giá và báo cáo hiệu quả quản trị TSTT
Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng nội dung của một chính sách bảo hộ quyền SHTT có thể bao gồm các khía cạnh sau:
Trang 29Xác định mục tiêu của chiến lược về SHTT của DN mình (mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn) từ việc tạo lập, xác lập quyền, khai thác, bảo vệ quyền SHTT; Xây
dựng một Kế hoạch hành động (tổng thể) về SHTT, trong đó chỉ ra chương trình hành động theo thời gian cụ thể để thực hiện các mục tiêu nêu trên, trong đó bao gồm việc xác định được các nguồn lực cần có (kinh phí, nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo; Xây dựng được quy trình và trách nhiệm thực hiện, phân công thực hiện các kế hoạch…); Xây dựng được bộ phận/cá nhân quản lý các nội dung về SHTT của DN; Quy định các đầu mối phối hợp trong DN liên quan đến hoạt động SHTT, bao gồm cả các hoạt động nội bộ và ngoài DN; Quy định các thủ tục rà soát, xác định thời hạn và cơ chế đánh giá hoạt động quản lý TSTT trong DN
Theo nghiên cứu mới nhất được công bố vào năm 2021 của Văn phòng sáng chế châu
Âu (EPO) và Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Liên minh châu Âu (EUIPO) về quyền SHTT và hiệu quả hoạt động công ty ở EU, các DNNVV sở hữu quyền SHTT tạo ra doanh thu trên mỗi nhân viên cao hơn 68% so với các DNNVV không sở hữu bất kỳ quyền SHTT nào Nghiên cứu cho thấy, việc bảo hộ quyền SHTT có vai trò vô cùng quan trọng đối với thành công của các DNNVV và do đó, đây là chìa khóa để các DNNVV nhận thức được giá trị của SHTT cũng như cách tốt nhất để thu được lợi ích
từ quyền SHTT
SHTT liên quan đến tài sản vô hình, bao gồm tài sản trí tuệ và sở hữu công nghiệp Quyền SHTT có thể được pháp luật bảo hộ thông qua bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, bảo hộ giống cây trồng, nhưng cũng có thể thông qua bí mật kinh doanh, luật pháp về cạnh tranh không lành mạnh, luật dân sự và hình sự
Các DNNVV có thể hưởng lợi từ việc bảo hộ SHTT và nắm bắt cơ hội kinh doanh trên toàn cầu nếu danh mục SHTT của họ được quản lý hiệu quả Một chiến lược SHTT vững mạnh cũng giúp các DNNVV thu hút vốn từ các nhà đầu tư tiềm năng, giúp họ mở rộng hoạt động ra quốc tế ở các thị trường mới nổi Theo báo cáo chung
của EPO và EUIPO năm 2019, các ngành thâm dụng quyền SHTT tạo ra khoảng 45% tổng GDP tại EU, trị giá 6,6 nghìn tỷ EUR Những ngành này cũng chiếm phần lớn
Trang 30giá trị thương mại của EU với các quốc gia khác trên toàn cầu, tương đương 96% giá
trị hàng hóa xuất khẩu từ EU
Bảo hộ quyền SHTT cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy đổi mới, thông qua việc mang lại lợi tức đầu tư từ hoạt động Nghiên cứu và Phát triển (R&D) Hơn nữa, một chiến lược bảo hộ SHTT chặt chẽ sẽ giúp các DNNVV ngăn chặn người khác sử dụng
miễn phí quyền SHTT của họ Điều quan trọng, DNNVV là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT sẽ phải viện đến hành động thực thi để ngăn chặn hoạt động vi phạm quyền SHTT của họ
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 2.1 Th ực trạng phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam
2.1.1 Số lượng
Giai đoạn 2016 – 2020 được coi là giai đoạn phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam Trong đó, Việt Nam định hướng các ngành công nghiệp sản xuất
là tiền đề cho sự phát triển bền vững và nhanh chóng của nền kinh tế Tính riêng năm
2016, số lượng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp chiềm 55% tổng số lao động và đóng góp 62% vào giá trị gia tăng của Việt Nam Trong khi đó, khi xét về loại hình doanh nghiệp, các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ lại chưa thật sự phát triển đúng với tiềm nămg khi số lượng lao động hoạt đồng trong ngành là 17% lao động và chiếm 13% giá trị gia tăng quốc gia Như vậy, là quốc gia đông dân với nguồn lao động dồi dào, chúng ta cần phát triển toàn diện ngành công nghiệp để cung
cấp thêm việc làm cho các lao động, từ đó đảm bảo an sinh xã hội cũng như nâng cao đời sống người lao động
Theo thống kê của OECD Việt Nam, năm 2016 là năm phát triển mạnh của các doanh nghiệp khởi nghiệp khi tính đến thởi điểm này, có khoảng 110.100 doanh nghiệp đăng kí thành lập mới, so với năm 2015 con số này đã tăng gần 14% Các sáng
kiến kinh doanh đa dạng trong ngành nghề cũng như phương thức thể hiện, không gói gọn trong việc khởi nghiệp là phải thành lập doanh nghiệp, nhiều ý tưởng kinh doanh,
ý tưởng khởi nghiệp được hiện thực hoá ở quy mô nhỏ hơn như hộ kinh doanh, trang
trại,… (trong lĩnh vực nông nghiệp)
Các doanh nghiệp khởi nghiệp mới không chỉ đa dạng về số lượng doanh nghiệp mà còn đa dạng về ngành nghề kinh doanh từ y tế, giáo dục đến khoa học công nghệ, vận tải,… Trong đó đặc biệt nổi trội ở lĩnh vực khoa học công nghệ với số lượng doanh nghiệp đăng ký mới Đây cũng được coi là điều tất yếu khi cuộc sống dần chuyển sang công nghệ hoá mọi thứ
Trang 32Hình 2.1 dưới đây thể hiện tỷ lệ phần trăm các loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp được tổng hợp từ OECD Việt Nam Trong đó có thể thấy tài chính ngân hàng
là ngành có ít doanh nghiệp khởi nghiệp do rào cản gia nhập ngành lớn Bất động sản
là lĩnh vực có tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký mới cao nhất (95%) do đây là ngành nămg động, dễ gia nhập và chi phí ban đầu nhỏ
Hình 2.1 T ỷ lệ phần trăm các loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp
Ngu ồn: OECD Việt Nam
Năm 2020, do chịu ảnh hưởng lớn từ đại dịch Covid – 19, tuy nhiên lại là năm tăng trưởng mạnh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin Cả nước
có 134.941 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới chủ yếu thuộc lĩnh vực dịch vụ, công nghệ thông tin, y tế, chăm sóc sức khoẻ,… mặc dù giảm 2,3% về số doanh nghiệp so với năm 2019 nhưng vẫn ở mức cao so với một số quốc gia khác cùng khu vực
Trong năm 2020, theo thống kê thì số doanh nghiệp được đăng ký thành lập mới trong khu vực dịch vụ có số lượng doanh nghiệp nhiều nhất với 92.024 doanh nghiệp, tuy đã giảm 7,6% so với năm 2019 nhưng với tương quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội cũng như tình hình dịch bệnh thì đây vẫn là con số đáng mơ ước Đặc
Trang 33biệt trong hai lĩnh vực còn lại công nghiệp xây dựng và lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp,
số lượng doanh nghiệp thành lập mới đã tăng lên rất đáng kể Điều này có thể được
giải thích bởi vì các doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực này có cơ hội phát triển trong đại dịch khi người dân bắt đầu quan tâm đến sức khỏe cá nhân cũng như chất lượng của nông sản Đối với ngành công nghiệp và xây dựng số doanh nghiệp đăng ký mới đã tăng 10,2% đạt 40277 doanh nghiệp đối với lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp có 2640 doanh nghiệp được thành lập tăng 30,1% so với năm 2019
Phân chia theo địa phương, năm 2020 có 36/63 địa phương có doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đây là con số đã tăng so với năm 2019 mặc cho tình hình dịch bệnh căng thẳng tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn đăng ký thành lập và phát triển Như
vậy đã đánh giá được tình hình kiểm soát dịch bệnh trong nước Các doanh nghiệp đăng ký mới chủ yếu tập trung tại các vùng đang phát triển như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,… Đối với đối với các khu vực phát triển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm trong năm 2020, cụ thể: thành phố Hà Nội giảm 5,7%, thành phố Hồ Chí Minh giảm 7,5% Điều này có thể được giải thích vì sự khó khăn trong duy trì kinh doanh của các doanh nghiệp ở các thành phố
lớn cũng như các doanh nghiệp mới thành lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
Hình 2.2 Doanh nghi ệp thành lập mới năm 2020
Trang 34Chỉ riêng năm 2021, 1 năm mà Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng rất lớn bởi đại dịch Covid tác động trực tiếp lên nền kinh tế Việt Nam Nhất là sau đợt bùng dịch thứ
4 khó khăn rất lớn đối với người lao động và doanh nghiệp số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp mới năm 2021 giảm đáng kể so với năm 2020 Không chỉ các doanh nghiệp đăng ký mới giảm mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ dừng hoạt động cũng gia tăng đáng kể, các doanh nghiệp sản xuất cũng bị đình trệ, người lao động bị mất việc Theo worldbank có thể thấy số lượng doanh nghiệp mới đăng ký thay đổi theo từng đợt dịch Quý I/2021, sau 1 năm 2020 Việt Nam oằn mình chống dịch, các cửa khẩu đóng cửa và người dân lao động ở các thành phố lớn bỏ về quê, thương mại quốc tế chưa hoạt động trở lại bình thường nên nguồn cung các nguyên vật liệu ít và giá thành
bị đội lên cao dẫn đến các doanh nghiệp đăng ký mới giảm hơn so với cùng kỳ quý I
kể từ 2016 đến nay
Sang đến quý 2/2021, do Việt Nam đã thích ứng được với đại dịch và bắt đầu
hoạt động ổn định nền kinh tế vĩ mô Nên tình hình doanh nghiệp khởi nghiệp mới đã
ổn định và có dấu hiệu tích cực đáng vui mừng là vào tháng 4/2021 số doanh nghiệp
mới ra nhập thị trường đạt mức cao kỷ lục so với gian đoạn cùng kỳ các năm
Tuy nhiên, kể từ tháng 6/2021, tình hình đăng ký doanh nghiệp bắt đầu có dấu hiệu chững lại Bối cảnh dịch bệnh cùng thời gian phong tỏa kéo dài đã khiến cho tình hình đăng ký doanh nghiệp trong những tháng tiếp theo có sự sụt giảm “nghiêm trọng” so với những năm trước Sau thời gian dài chịu tác động dai dẳng của dịch Covid-19, sức lực của nhiều doanh nghiệp đã bị bào mòn Đặc biệt, trong Quý III/2021 đã xuất hiện hiện tượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể cao hơn
số doanh nghiệp thành lập mới Đồng thời, số lượng doanh nghiệp thành lập mới Quý III/2021 là thấp nhất trong giai đoạn Quý III kể từ năm 2015
2.1.2 Ch ất lượng
Các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam hiện đang được hỗ trợ rất lớn từ chính phủ Mặc dù ngân sách hỗ trợ từ chính phủ chủ yếu hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu phát triển R&D và các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ IPR Tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể có nhiều ưu đãi khi tham gia vào
Trang 35chuỗi giá trị và cụm giá trị với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2020 đã quy định về việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc nghiên cứu phát triển khi có những sáng tạo trong chuỗi giá trị “Đề án 884 thuộc hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia” do bộ công Bộ Khoa học Công nghệ đề xuất đã được triển khai trong giai đoạn 2017-2020, không những mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp mà còn hỗ trợ kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp, kết nối doanh nghiệp với nhà đầu tư Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển Nhìn chung các chính sách hỗ trợ của nhà nước chủ yếu về các vấn
đề bên ngoài doanh nghiệp chưa có những chính sách cụ thể về việc đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp tự phát triển Do đó nhà nước nên có thêm nhiều chính sách giúp đỡ doanh nghiệp khởi nghiệp cũng như giúp đỡ những đề án sáng tạo để có thể có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp toàn diện hơn trong cả về tài chính và những vấn đề
về chuyên môn
Về cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang chiếm tỷ lệ lớn nhất Tương tự trong các doanh nghiệp khởi nghiệp năm 2020 số doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất, một phần do các doanh nghiệp khởi nghiệp thường có số lượng lao động nhỏ trong đó doanh nghiệp có
từ 10 đến 49 lao động chiếm khoảng 30% và doanh nghiệp có 10 lao động chiếm gần 60% các doanh nghiệp này thường sẽ gói gọn trong hoạt động kinh doanh nội địa không có hoạt động xuất khẩu do đó quy mô nhân sự không đông tuy nhiên vẫn hoạt động hiệu quả tuy vậy những doanh nghiệp này sẽ khó có thể bước vào hoạt động xuất
nhập khẩu do nguồn lực chưa đủ lớn Biểu đồ 2.2 dưới đây đề cập đến quy mô lao động của doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam năm 2020 trong đó có thể thấy rõ doanh nghiệp dưới 10 lao động đang chiếm tỉ lệ lớn nhất
Bi ểu đồ 2.2: Quy mô lao động của doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam năm 2020
Trang 36Về công tác kêu gọi vốn của các DNKH tại Việt Nam nhìn chung khá sôi động Nguồn vốn đầu tư chủ yếu đến từ các quỹ đầu tư các tập đoàn lớn trong nước và quốc
tế cùng các quỹ đầu tư nước ngoài Năm 2020, vốn đầu tư vào Việt Nam đã tăng rất nhiều tuy nhiên vẫn còn hạn chế so với khu vực và thế giới Vốn đầu tư từ nước ngoài
chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ thông tin, công nghiệp,… do những lĩnh vực này tại Việt Nam đang được chú trọng đầu tư và phát triển với nguồn nhân
lực chất lượng cao dồi dào
Cũng có thể thấy, vốn đầu tư đang tập trung ở một số lĩnh vực nhất định Do đó nhà nước cần có những giải pháp nhằm hoàn thiện chương trình hỗ trợ để tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tham gia vào các diễn đàn, tổ chức nhằm tiếp cận những nhà đầu tư lớn Từ đó nâng cao hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp, ví dụ Đề án 844 do bộ khoa học công nghệ chủ trì đã có những hoạt động thiết
thực như những hội chợ việc khi khởi nghiệp nhằm đa dạng hóa Những tổ chức cá nhân tham gia từ đó tối ưu được khả nămg thực hiện đề án cũng như hoàn thiện tiêu
đã đề ra
Trang 372.1.3 Quy mô, lĩnh vực khởi nghiệp
Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2017, các công
ty khởi nghiệp tại Việt Nam đã thu hút tổng giá trị đầu tư gần 300 triệu USD cho 92 thương vụ đầu tư, con số này gần gấp đôi so với số thương vụ đầu tư vào các doanh nghiệp tại Việt Nam năm 2016 Trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chiếm tỷ
lệ lớn Năm 2017 cũng đánh dấu dấu mốc quan trọng khi doanh nghiệp khởi nghiệp tăng tới 65% (Hoàng Thị Kim Khánh và cộng sự, 2020)
Trong các lĩnh vực của doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ thông tin vẫn là doanh nghiệp đứng đầu trong hoạt động thu hút vốn đầu tư Nguyên nhân của điều này
là do xu thế phát triển công nghệ trong thời đại mới, bên cạnh đó, đại dịch covid-19
xảy ra khiến cho việc chuyển đổi số là điều tất yếu Do đó càng nhiều những doanh nghiệp công nghệ thông tin với những sáng kiến sáng tạo đã được hình thành và tăng trưởng nhanh chóng công nghệ thông tin cũng là ngành dễ kết nối với những quốc gia khác trên toàn cầu qua công nghệ Do đó, việc tiếp cận với các nguồn vốn từ nước ngoài cũng dễ dàng hơn về mô hình hoạt động kinh doanh càng ngày những doanh nghiệp này càng có những mô hình kinh doanh độc đáo và hoàn thiện học hỏi từ các
mô hình thành công khác trên thế giới
Về quy mô doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, nước ta đang chú trọng phát triển khởi nghiệp do đó phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam đang có quy mô vừa
và nhỏ Đối với các doanh nghiệp này khả nămg tăng trưởng sẽ tốt và linh động đặc biệt trong tình hình kinh tế xã hội biến động như hiện nay Các doanh nghiệp khởi nghiệp thường có tuổi đời khoảng 1 năm, quy mô nhỏ và vốn đầu tư nhỏ Bên cạnh đó các doanh nghiệp khởi nghiệp có hoạt động kêu gọi vốn nhỏ lẻ trẻ chưa tập trung do
đó khó thu hút các vốn đầu tư Bên cạnh đó nhà nước chưa có nhiều ưu đãi cũng như hành lang pháp lý cụ thể cho những quỹ đầu tư của các quốc gia khác có thể tiếp cận
để DNKH dẫn đến tình trạng doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn
và xảy ra tình trạng doanh nghiệp ra nước ngoài để thành lập công ty
Về lĩnh vực khởi nghiệp, có 6 lĩnh vực đang nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư bao gồm: thương mại điện tử, công nghệ thực phẩm, công nghệ tài chính,
Trang 38công nghệ giáo dục, bất động sản và truyền thông Trong đó, đối với mỗi lĩnh vực sự quan tâm của nhà đầu tư là khác nhau, cụ thể trong giai đoạn 2016 – 2017 các doanh nghiệp về thương mại điện tử công nghệ tài chính và truyền thông nhận được nhiều sự quan tâm từ nhà đầu tư Tuy nhiên do biến động từ hoạt động đầu tư giai đoạn gần đây các nhà đầu tư đang chú trọng nhiều hơn đến ngành công nghệ giáo dục, bất động sản Điều này cho thấy các nhà đầu tư đã và đang đưa ra những đánh giá tích cực lạc quan
về tiềm nămg của những doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam, điều này thúc đẩy chúng ta cần phải phát triển hơn nữa để đáp ứng được yêu cầu của giới chuyên môn và thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư
Giai đoạn 2016 2018 đánh dấu mốc phát triển của các lĩnh vực liên quan đến công nghệ như III internet vạn vật cùng với dữ liệu lớn là xu hướng phát triển của công nghệ thế giới
2.2 Các hình th ức bảo hộ và nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ cho các Doanh nghi ệp khởi nghiệp ở Việt Nam
2.2.1 Cách th ức tiếp cận
Pháp luật điều chỉnh về quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp được xuất hiện xuất hiện từ rất sớm, quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm là dược phẩm đã được đề cập đến vào thế kỷ XV, nó đã đã phát triển song song với sự phát triển của nền kinh tế xã hội trên toàn thế giới Tuy nhiên các đạo luật về quyền sở
hữu trí tuệ đối với dược phẩm dường như không thực sự dựa trên cơ sở là khái niệm
về quyền sở hữu trí tuệ mà định nghĩa nói tới mà nó sử dụng phạm vi đã được điều chỉnh Quá trình hình thành và điều chỉnh các văn bản pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đã cho thấy phạm vi điều chỉnh của quyền sở hữu trí tuệ tương đối hoàn chỉnh
và gồm ba nhánh cơ bản
Bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp được hiểu một cách khái quát là việc nhà nước thông các quy định của pháp luật xác lập, duy trì quyền cho các tổ chức và cá nhân đối với sáng chế và bảo vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thể khác Từ đó ta có thể định nghĩa bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp như sau: Bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp là
Trang 39việc nhà nước thông qua hệ thống pháp luật nhằm xác lập quyền của chủ thể đối với sáng chế dược phẩm của họ thông qua hình thức cấp bằng bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba
Theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện hành, “sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” Bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp có nghĩa là “bảo hộ quyền của chủ sở hữu được toàn quyền khai thác cả về kỹ thuật và thương mại đối với sáng chế đã được đăng ký trong thời gian được bảo hộ” (thông thường là 20 năm) Đối với các sáng chế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp,
“việc bảo hộ độc quyền cho phép chủ sở hữu có thể khai thác hợp pháp sáng chế để thu hồi chi phí nghiên cứu đã bỏ ra đồng thời kích thích việc tìm ra các sáng chế mới” Tuy nhiên, thực tế hiện nay có thể thấy rằng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp cũng mang lại những mặt trái nhất định Có thể kể đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã làm cho giá các loại thuốc chữa bệnh bị đẩy lên cao, điều này đồng nghĩa với việc người dân sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận
những sáng chế mới, những loại thuốc mới khi khi chữa bệnh, những loại thuốc này
có thể là dược phẩm nói chung hoặc các loại thuốc chữa những căn bệnh đặc hiệu nói riêng
Để giải quyết mâu thuẫn này, “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” (TRIPS) và “Tuyên bố của WTO về TRIPS và
Sức khỏe cộng đồng” (Tuyên bố Đô-ha) đã đưa ra một số biện pháp linh hoạt trong việc bảo hộ sáng chế Các quy định về phân tích các quy định của TRIPS và pháp luật hiện hành về SHTT của Việt Nam liên quan đến việc bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực kinh doanh, sự ảnh hưởng của việc cấp bằng bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam
2.2.2 Các hình thức bảo hộ
Theo Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, một số hình thức bảo vệ hiện nay sử dụng
là bằng sáng tạo Do sở hữu trí tuệ bao gồm cả tài sản và sở hữu cá nhân về cơ bản
Trang 40luật về sở hữu trí tuệ cho phép bảo vệ tài sản liên quan đến trí tuệ chấp việc sử dụng trái phép cụ thể được quy định như sau:
Thứ nhất, bản quyền: “Bản quyền là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền lợi kinh tế của người sáng tác ra các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng
Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ âm nhạc, phim ảnh, tiểu thuyết, thơ ca, kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn hóa khác Khi nghệ sỹ và người sáng tác đưa ra
những hình thức thể hiện khác thì những loại hình thể hiện mới này cũng được bao gồm trong trong những công trình được bảo hộ bản quyền Các chương trình máy tính
và ghi âm giờ đây cũng được bảo vệ”
“Bản quyền cũng được bảo vệ lâu hơn nhiều so với một số hình thức sở hữu trí tuệ khác Công ước Berne, công ước quốc tế được ký năm 1886, theo đó các nước tham gia công ước công nhận các tác phẩm được bảo hộ bản quyền của các nước thành viên, quy định rằng thời gian bảo hộ bản quyền là 50 năm kể từ khi tác giả qua đời Theo Công ước Berne thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật và các tác phẩm có giá trị khác được bảo hộ bản quyền ngay từ khi ra đời Tác giả không cần phải đăng
ký chính thức quyền bảo hộ cho tác phẩm của mình tại những quốc gia là thành viên của Công ước đó”
“Tuy nhiên, Công ước Berne cho phép cấp bản quyền có điều kiện, chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ chỉ bảo hộ bản quyền đối với những tác phẩm được sáng tác theo những hình thức nhất định Nhiều nước cũng có các trung tâm bản quyền
quốc gia để quản lý hệ thống bản quyền Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, Hiến pháp cho phép Quốc hội ban hành luật để thiết lập hệ thống bản quyền và hệ thống này do Phòng Bản quyền thuộc Thư viện Quốc hội quản lý”
“Phòng Bản quyền của Hoa Kỳ là nơi nhận các khiếu mại về bản quyền và là nơi các văn bản liên quan tới bản quyền được lưu giữ khi đáp ứng được các yêu cầu của luật bản quyền Hoa Kỳ Tuy nhiên, đối với tất cả các tác phẩm – kể cả tác phẩm nước ngoài – thì việc đăng ký bản quyền mau lẹ ở Hoa Kỳ sẽ đem lại những thuận lợi