1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích khổ 2 và 3 và 4 bài thơ bếp lửa

5 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích khổ 2, 3 và 4 bài thơ Bếp lửa
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 21,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích khổ 2 và 3 và 4 bài thơ Bếp Lửa Bài làm Có lẽ thưở thơ bé, chúng thơ ai cũng được nằm trong vòng tay của người bà, được bà yêu thương và chăm sóc, từ đó nó đã trở thành một đề tài cho các th.

Trang 1

Phân tích khổ 2 và 3 và 4 bài thơ Bếp Lửa

Bài làm

Có lẽ thưở thơ bé, chúng thơ ai cũng được nằm trong vòng tay của người bà, được bà yêu thương và chăm sóc, từ đó nó đã trở thành một đề tài cho các thi sĩ chấp bút

“Thương nội lắm cả đời tần tảo, Năm tháng dài cơm áo nuôi con,”

Tình cảm bà cháu thiêng liêng chẳng thua gì tình cảm ba mẹ dành cho ta, nhà thơ Bằng Việt cũng đã có một tác phẩm đầu tay nói về điều ấy Ông thuộc các nhà thơ thế hệ chống Mĩ, bài thơ đầu tay của ông chính là bài thơ “Bếp Lửa” Bài thơ đã khắc sâu kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình “cháu” qua từng dòng hồi ức ở khổ 2 và 3 và 4

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”

Thi phẩm “Bếp Lửa” được Bằng Việt đệm bút vào năm 1963, lúc đất nước đang trong trận chiến khốc liệt với Mĩ khi tác giả là sinh viên ngành Luật, được in trong tập thơ “Hương cây - Bếp lửa” Với thể thơ tự do kết hợp với 7 chữ 9 chữ, giọng điệu tâm tình, tha thiết, tự nhiên, chân thành đã gợi lại bao kỉ niệm đầy cảm xúc về tình bà cháu Phản phất ra hình ảnh giản dị của người bà và sự nhớ thương ba khi cháu lớn khôn qua từng dòng kỉ niệm Đây xứng đáng là một áng thơ hay trong làng thơ Việt

Đầu tiên, tác giả quay về tuổi thơ khi mình bốn tuổi với kỉ niệm mùi khói qua khổ 2

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

Từ láy “đói mòn đói mỏi” đã hiện thực hóa lại cảnh khó khăn của nước ta năm 1945, nạn đói xảy ra truyền miên do chính sách cai trị độc ác của phát xít Nhật và đế quốc Pháp khiến cho dân tộc chúng ta phải chết gần hai triệu người Giọng thơ ở câu này được trĩu xuống như là đang nao núng, nghẹn ngào vì đó chẳng mấy là những thứ tốt đẹp đáng nghi nhớ Để khắc họa sâu hơn trong tâm trí của mình, tác giả đã sử dụng động từ “quen”, quen là gợi cho ta một cảm giác thân thuộc, chả xa lạ gì và ở người cháu đó chính là “mùi khói” Hình ảnh

“khô rạc ngựa gầy” đã phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn của gia đình người cháu khi đó Như vậy với sự liên kết hình ảnh “đói mòn đói mỏi” và “khô rạc ngựa gầy” tác giả đã phác họa ra một bức tranh đậm buồn, nghèo khó của chốn làng quê thiếu thốn Trong hoàn cảnh ấy, người cháu vẫn bên bà quay quần bên bếp lửa

“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Hình ảnh “khói” được tác giả lặp đi lặp lại xuyên suốt đoạn thơ “mùi khói”, “khói hun” gợi

sự ám ảnh về thời gian khổ cực lúc đó Bếp lửa được nhóm lên thể hiện cho sự ấm no nhưng đối với cảnh “đói mòn đói mỏi” như vậy thì chắc rằng nó không thể làm no lòng người cháu Thay vào đó, làn khói từ bếp tỏa ra lại là nơi lưu trữ bao kí ức đẹp về bà Hình ảnh “sống mũi còn cay” là hình ảnh rất chân thực về đời sống khi xưa, khói tràn vào mũi khiến cay xé mắt nhưng cái “cay” ở đây liệu có phải chỉ riêng của khói bếp lửa hay không? Hay là còn

Trang 2

chất chứa trong đấy là cảm xúc xúc động của người cháu khi nó về quá khứ bên bà, những ngày cùng bà bên bếp lửa Những hình ảnh, những kỉ niệm bên bà, bên bếp lửa đã cho thấy một tuổi thơ gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn và đầy ám ảnh của tác giả Để rồi khi đã đi xa, ông không khỏi xúc động mỗi khi nghĩ về bà và những kỉ niệm bên bà Thật đáng trân quý!

Tiếp theo, nối tiếp dòng kí ức đó chính là khoảng thời gian cháu bên bà hồi lên tám tuổi được thể hiện qua khổ 3

“Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

Cụm từ chỉ thời gian “tám năm” đã gợi ra khoảng thời gian cháu bên bà, tuy rằng khoảng thời gian ấy gặp không ít khó khăn nhưng nó luôn chứa chan tình cảm bà cháu Bếp lửa hiện diện cho sự ấm áp của người bà, sự cưu mang và đùm bọc của bà suốt thời gian qua Đấy chính là những năm tháng hồn nhiên, vô lo vô nghĩ

“Tu hú kêu trên những cảnh đồng xa 

Tu hú kêu bà còn nhớ không bà? 

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”

Hình ảnh chim “tu hú” luôn gắn kết mật thiết với hình ảnh người bà trong nỗi nhớ của tác giả, cộng thêm cụm từ chỉ nơi chốn “trên những cánh đồng xa” gợi ra một không gian vô tận

và bình yên chốn làng quê Câu hỏi tu từ “Tu hú kêu bà còn nhớ không bà?” như là tác giả đang sống lại với kỉ niệm thuở bé và muốn hỏi bà rằng còn nhớ những khoảnh khắc của bà cháu mình không? Những câu chuyện bà kể về Huế vẫn còn in đậm trong tâm trí của cháu

để rồi tác giả phải cảm thán tiếng chim “tu hú”

“Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

Tiếng chim tu hú như cứ đang giục giã như khoắc khoải điều gì tha thiết lắm khiến lòng người trỗi dậy bao kí ức đã chôn vùi trong chúng ta Tiếng chim tu hú là tiếng chim da diết, thân thuộc ở làng quê và cũng là báo hiệu cho một mùa hè, một mùa lúa chín, mùa vải thơm ngất trời như trong tác phẩm “Khi Con Tu Hú” của Tố Hữu

“Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không ”

Tiếng kêu của nó cứ vang dội gợi niềm nhớ thương Nhớ đến những ngày

“Mẹ cùng cha bận công tác không về”

Chỉ còn mình cháu cùng bà sống nương tựa vào nhau, bà đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho cháu khi không có cha mẹ ở nhà

“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe 

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

Trang 3

Các động từ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả sâu sắc tấm lòng bao la của người bà,

sự chăm chút từ li từng tí đối với người cháu Đại từ xưng hô “bà-cháu” được điệp lại bốn lần đan xen trong các câu thơ đã tạo ra sự gần gũi, tình cảm bà cháu quấn quít bên nhau Bà vừa là bà, vừa hiện lên với tình cha, nghĩa mẹ ơn thầy Tình yêu của người cháu, cùng sự kính trọng của mình đối với người bà thân thương đã khiến cho người cháu dồn lại với câu thơ

“Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

Hình ảnh “tu hú” tiếp tục được tác giả gợi ra ở cuối khổ thơ

“Tu hủ ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cảnh đông xa?”

Cảm thương cho sự sống cô đơn của bà, tác giả đã hỏi con tư hú kêu chi hoài trên cánh đồng sao không đến đây ở cùng bà Đó là một câu hỏi tu từ chứa chan đầy cảm xúc của Bằng Việt diễn tả một nỗi lòng da diết của mình khi nhớ về bà Dường như sau bao năm sống cùng bà, người cháu đã trót yêu luôn cả con chim tu hú, nó sống lại cùng với kí ức về bà Qua khổ thơ này, chúng ta thấy được nỗi niềm của tác giả cùng với bao nhớ thương vô tận bị dồn nén đã lâu Thật đáng ngưỡng mộ tình bà cháu của họ!

Cuối cùng, khép lại dòng hồi tưởng đó chính là hình ảnh cùng bà lúc chiến tranh loạn lạc và lời dặn dò đầy thăm tình năm ấy được thể hiện qua khổ 4

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Giặc đã đến vùng đất bình yên của thi sĩ để rồi tàn phá, đốt làng Hình ảnh “cháy tàn cháy rụi” là hình ảnh tả thực gợi ra sự tàn phá của chiến tranh cùng với bao khó khăn, gian nan mà nhân dân ta phải chịu Hàng xóm quanh nhà đều trở thành những ngọn lửa bừng cháy hòa cùng với tiếng chân chạy vội vã, tiếng hét của dân làng đã tạo ra một bức tranh tàn khốc và cũng như phản ánh sự ác độc của giặc Mĩ Từ láy tượng hình “lầm lụi” càng nhấn mạnh thêm nỗi cơ cực của người Việt mất mạng, mất nhà mất của, mất mùa, đói kém, chỉ còn có thể dựng đại cái lều che nắng che mưa Nhưng trong sự tàn lụi của thôn làng vẫn có một ngọn lửa chứa đầy ý chí, đó là lửa trong tim bà

“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh: 

Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,  Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, 

Cứ báo nhà vẫn được bình yên!”

Từ “vững lòng” thể hiện một ý chí kiên cường, bất khuất khó mà xoay chuyển được nằm trên cùng câu thơ với từ láy “đinh ninh” chỉ sự chắc chắn đã tạo cho câu thơ thành một lời dặn dò đầy rắn chắc của bà Đại từ xưng hô “mày” gợi ra sự gần gũi trong tình cảm bà cháu, niềm tin tưởng tuyệt đối Cụm từ “chớ kể này kể nọ” là lời dặn cháu rằng viết thư đừng kể này kể

nọ khiến người bên kia đất nước lo âu Bà không chỉ điểm tựa vũng chắc cho người cháu mà

Trang 4

giờ đây là điểm tựa của cả tiền tuyến Chữ “bình yên” ở câu thơ cuối liệu có phải là một niềm động lực to lớn cho người đi xa yên lòng không? Vâng! Bởi vì gia đình luôn là thứ khiến ta nhớ nhung khi đi xa kia mà Như vậy, chỉ cần một lời dặn cháu ngắn ngủi nhưng ý nghĩa sâu xa của nó lại khiến cho độc giả cảm động về bà Trong bà bộc lộ ra một phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam gồng mình, lặng lẽ gánh vác lo âu để cho con yên mình

mà đi lính vì một lẽ rằng nếu nó biết chắc chắn nó sẽ quay về bỏ mặc chiến sự Thật cao cả hình ảnh phụ nữ Việt Nam thơi xưa và lời dặn dò đầy sâu đậm!

Không chỉ có bài thơ “Bếp Lửa” nói đến tình cảm gia đình trong hoàn cảnh chiến tranh mà còn có truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà” của Nguyễn Quang Sáng Hình ảnh ông Sáu hiện lên là một người rất yêu con, một người cha mẫu mực, đấng sinh thành vĩ đại Trong những ngày nghỉ phép trở về nhà sau bao năm ở chiến khu, khao khát gặp con trong ông đốt lòng, được nghe một tiếng hô hoán “ba”, được sống trong tình yêu của con bấy lâu trong ông trở nên cuộn trào Vì vậy mà trong khi gần về tới nhà, trông thấy hình ảnh của con xa xa,

“không chờ được thuyền cặp bến, ông nhón chân nhảy thốt lên, xô chiếc thuyền tạt ra” Từ chi tiết ấy ta có thể thấy rằng ông mặc kệ nguy hiểm nếu nhảy hụt, mặc kệ sự an nguy của bản thân, nôn nóng gặp con đến như vậy làm cho người đọc cũng nghẹn ngào “Ông bước vội vàng với những bước chân dài” và xúc động kêu một tiếng: “ Thu! Con” Với dòng suy nghĩ rằng “con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh” Nhưng ngược lại với những gì ông mong muốn, đứa con gái ngơ ngác hốt hoảng rồi vụt chạy và kêu thét lên khiến cho ngời cha đâu khổ, khổ tâm đến mức không ghìm nổi cảm xúc “vết thẹo bên má má phải lại đỏ ửng lên, giần giật”, “hai tay buông lõng như bị gãy” Nhưng rồi mặc dù gặp con trong hoàn cảnh éo le và bao lần con khiến ông buồn đến nỗi chỉ có thể cười thay, hai cha con của

họ cuối cùng cũng đã đoàn tụ sau một trận khóc thấm thiết Đấy chính là sợi dây liên kết giúp con người ta tìm lại người thân vào thời chiên stranh loạn lạc Nhưng rồi sau một lần làm nhiệm vụ, ông Sáu đã ra đi mãi mãi trong sự tiếc nuối chưa kịp đưa chiếc lược cho con Thật lên án chiến tranh-thứ giết chết tình cảm!

Cả hai tác phẩm “Bếp Lửa” và “Chiếc Lược Ngà” đều đã vang lên thứ tình cảm thiêng liêng-tình cảm gia đình Tuy nhiên giữa hai tác phẩm cũng còn một số điểm khác biệt Bài

“Bếp Lửa” là thơ tự do ra đời năm 1963 và khắc họa ra tình cảm bà cháu trong thời chiến tranh chống Pháp Còn bài “Chiếc Lược Ngà” là truyện ngắn ra đời năm 1966 và khắc họa ra tình cảm cha con lúc chiến tranh chống Mĩ Nói đi thì cũng phải nói lại, bài “Bếp Lửa” đã xuất sắc phóng đại tình cảm bà cháu Thật cảm động!

Khép lại thi ca, Bằng Việt đã thành công mở ra khung cảnh chứa chan tình cảm bà cháu qua sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự và nghị luận, sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa cụ thể, vừa gần gũi, vừa giàu cảm xúc, vừa mang ý nghĩa tượng trưng

Là thế hệ trẻ của đất nước, chúng ta phải biết trân quý tình cảm gia đình vì đó chính là cái nôi nuôi dưỡng ta tới thành công Trong đợt thi tuyển sinh lần này, chúng ta càng phải trân quý từng lời động viên từ gia đình vì đó là liều thuốc cứu rỗi tâm hồn ta như câu nói:

“Không có ở đâu bằng ở nhà”

Ngày đăng: 21/04/2023, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w