1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học, phân tích vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với chính sách công hiện nay

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với chính sách công hiện nay
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Hệ thống chính trị và quy trình chính sách
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 46,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đời sống kinh tế xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng. Bên cạng đó, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng lớn đối với Nhà nước. Đồng thời, các biến động lớn về môi trường, tài nguyên, dân số... đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Đảng và Nhà nước ban hành các chính sách công để giải quyết. Các chính sách kinh tế xã hội, giải quyết nhiều vấn đề bức thiết, góp phần nâng cao chất lượng người dân... Ở nước ta, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước; là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng; được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, song nó bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích kinh tế. Để làm được điều đó cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chính sách công. Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa của chính sách công; những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo , phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc ban hành, triển khai thực hiện các chính sách của nhà nước và đạt những kết quả tích cực. Nền kinh tế tăng trưởng và có bước phát triển kinh tế khá; đất nước ta từng bước vượt qua khỏi tình trạng các nước kém phát triển; chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, việc thực thi chính sách công vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, việc nghiên cứu và làm rõ hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng, tác giả đã chọn đề tài: “ Phân tích vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với chính sách công hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn Hệ thống chính trị và quy trình chính sách.

Trang 1

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,đời sống kinh tế - xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng Bên cạng đó, quátrình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực

và thế giới đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đếnđời sống người dân Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân tríngày càng lớn đối với Nhà nước Đồng thời, các biến động lớn về môi trường,tài nguyên, dân số đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Đảng và Nhà nước banhành các chính sách công để giải quyết Các chính sách kinh tế - xã hội, giảiquyết nhiều vấn đề bức thiết, góp phần nâng cao chất lượng người dân

Ở nước ta, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản đượcNhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước; là sự

cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng;được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứpháp lý cho việc thi hành, song nó bao gồm những phương án hành độngkhông mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích kinh tế

Để làm được điều đó cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Namđối với chính sách công Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa của chínhsách công; những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã tập trung lãnhđạo, chỉ đạo , phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc banhành, triển khai thực hiện các chính sách của nhà nước và đạt những kết quảtích cực Nền kinh tế tăng trưởng và có bước phát triển kinh tế khá; đất nước

ta từng bước vượt qua khỏi tình trạng các nước kém phát triển; chủ động thamgia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, dân chủ vàtiến bộ xã hội Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, việc thực thi chính sáchcông vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình

Trang 2

mới Vì vậy, việc nghiên cứu và làm rõ hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng, tácgiả đã chọn đề tài: “ Phân tích vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối vớichính sách công hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn Hệ thống chínhtrị và quy trình chính sách

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình đã công bố.Sau đây là những công trình điển hình:

“Tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng ViệtNam”, T.S Đinh Xuân Lý, NXB Chính trị Quốc gia, 2005

“Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động Quốc hội ởnước ta hiện nay” chủ nhiệm Phạm Văn Đạt, Học viện Báo chí và tuyêntruyền, 2008

“ Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam (1996-2011)”, Nguyễn Thị Phúc, Học viện Báo chí và Tuyêntruyền, 2012

“ Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc đảng

bộ khối các cơ quan thành phố Hà Nội”, Trần Thu Trinh, Học viện Báo chí

Và tuyên truyền, 2013

“ Vai trò tổ chức của Đảng bộ thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyêntrong phát triển bền vững hiện nay”, Lại Văn Nam, Học viện Báo chí vàTuyên truyền, 2018

“ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách công ở Việt Namhiện nay”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền- Trung tâm thông tin khoa học,

2018

Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến chính sách công, vaitrò của ĐCS Việt Nam nhưng có ít đề tài làm rõ vai trò lãnh đạo của ĐCS

Trang 3

Việt Nam đối với chính sách công hiện nay, vì vậy tác giả đã chọn đề tài này

để nghiên cứu và làm rõ hơn

3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1.Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với chínhsách công ở nước ta hiện nay Góp phần khẳng định vai trò của ĐCS ViệtNam và từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của ĐCS ViệtNam đối với chính sách công hiện nay

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản nhưsau:

- Phân tích làm rõ vấn đề lý luận của vai trò lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam đối với chính sách công

- Làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chínhsách công

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạocủa ĐCS Việt Nam đối với chính sách công

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam đối với chính sách công ở nước ta hiện nay

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu xung quanh vấn đề lý luận của chính sáchcông và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chínhsách công hiện nay

Trang 4

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Cơ sở lý luận

- Đề tài dựa trên cơ sở pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng HồChí Minh; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với chính sáchcông

- Quan điểm của Đảng về vai trò chính sách công

- Kế thừa hệ thống quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu khoa học củacác tác giả đi trước thuộc lĩnh vực chính sách công, vai trò lãnh đạo của đảng

5.2.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận Mác- Lênin, cụthể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để có những nhìnnhận khách quan, toàn diện về vai trò ĐCS Việt Nam đối với chính sách công

ở nước ta hiện nay

- Phương pháp riêng: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụngtổng hợp các phương pháp như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh,nghiên cứu tài liệu trong đó phương pháp logic – lịch sử và phân tích – tổnghợp kết hợp với nghiên cứu các tài liệu để tiếp cận lịch sử hình thành và pháttriển của chính sách công, thao tác tư duy về vai trò lãnh đạo của ĐCS đối vớichính sách công

6.Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài có 2 chương, 6 tiết

Chương I: Cơ sở lý luận về chính sách công

Chương II: Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với chính sách công –Giải pháp

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

1.1.Quan niệm về chính sách và chính sách công

1.1.1 Quan niệm về chính sách

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách nhưsau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực

cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộcvào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mụcđích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà

họ quan tâm”

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhàlãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vithẩm quyền của mình

1.1.2.Quan niệm về chính sách công

Chính sách công là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đờisống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa đảng chính trị cầm quyền, nhà nước và

xã hội Theo Oxford English Dictionary, chính sách công là một đường lốihành động được thông qua hoặc theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị,chính khách Như vậy, nếu gạt đi phương thức thực hiện chính sách công màchỉ bàn về chủ thể can dự vào chính sách theo cách tiếp cận này, có thể thấy,vai trò của “đảng”, “chính khách” là cực kỳ quan trọng Thực tế cho thấy,chính sách đôi khi ra đời là sự thỏa hiệp hay đấu tranh giữa các đảng chính trị

Trang 6

trong thế cân bằng giữa các nhóm lợi ích của các chính đảng này trong đờisống xã hội.

Việc nhìn nhận về bản chất của chính sách công theo hai xu thế chính:chính sách công là công việc của nhà nước hay có sự can dự của các đảngchính trị cầm quyền Thực tế không thể phủ nhận vai trò rất tích cực và thenchốt của các đảng chính trị, nhất là các đảng chính trị cầm quyền trong đờisống chính trị quốc gia Nói cách khác, chính sách công có quan hệ mật thiếtvới hoạt động của các chính đảng

Bản chất chính sách công thể hiện ở:

1- Là công cụ điều hành mà các chủ thể chính trị (thường trực vẫn là cơquan nhà nước có thẩm quyền) sử dụng để theo đuổi lợi ích công cộng; 2- Là kết quả của việc nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mìnhđịnh hướng sự vận động và phát triển của cả hệ thống xã hội;

3- Là quá trình thể chế hóa các mục tiêu tổng thể của chủ thể chính trịtheo đuổi thông qua nhà nước;

4- Là kết quả của quá trình đấu tranh giành quyền lực chính trị, hướng đếntrung tâm là quyền lực công giữa các bên có liên quan

Nhận thức về nội hàm từ “công” trong chính sách công ở Việt Nam vẫnđang còn là sự tranh luận trong giới nghiên cứu và trong thực tiễn lãnh đạo,quản lý “Công” trong chính sách công tiếp cận ở nhiều phương diện manghàm nghĩa khác nhau

Có quan niệm cho rằng, “công” là nhà nước, gắn với quyền lực công, lợiích cho số đông, toàn dân; là sự tương phản với khu vực tư nhân Quan niệmnày đúng nhưng chưa đầy đủ, toàn diện và sâu sắc

Có quan niệm khác cho rằng, “công” gắn liền với Nhà nước (một thành tốtrong hệ thống chính trị Việt Nam bên cạnh Đảng, các tổ chức chính trị - xã

Trang 7

hội) với hệ thống tài chính, nhân sự, công cụ quản lý, điều hành xã hội mạnhmẽ; và vì vậy, chỉ duy nhất Nhà nước mới là chủ thể của chính sách công;công việc của Đảng, chính sách của Đảng không liên hệ gì với công việc làmchính sách của các cơ quan nhà nước Thực tế diễn ra không phải như quanniệm này

Quan niệm tiếp cận rộng hơn cho rằng, “công” hàm nghĩa - hướng đến lợiích chung, tập thể, số đông, khác biệt với mục tiêu vì cá nhân Cách tiếp cậnnày thừa nhận Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thậm chí cả chủ thểtrong khu vực tư nhân, khu vực hỗn hợp (hợp tác công - tư) cũng là chủ thểcủa chính sách công, miễn là chính sách ấy vì giá trị nhân văn, hướng đến sốđông thành viên trong tổ chức, cộng đồng, quốc gia Ở góc độ này, chính sáchcủa Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, thậm chí cả doanh nghiệp nhằm giảiquyết các lợi ích công cũng được công nhận là chính sách công

Từ thực tiễn đất nước, quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Namthống nhất rằng: chính sách công là một tập hợp các quan điểm, tư tưởng, giảipháp, công cụ quyết định có liên quan đến nhau của chủ thể chính trị có thẩmquyền về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết một vấn đềhay đáp ứng một nhu cầu thiết yếu của thực tiễn xã hội

1.2.Đặc thù và bản chất của chính sách công ở Việt Nam

1.2.1 Đặc thù của chính sách công

Từ thực tế Việt Nam, chính sách công ở nước ta có những đặc thù sau:Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chu trìnhchính sách là trực tiếp, toàn diện và sâu sắc

Vai trò, sự tác động, chi phối của Đảng đối với “vòng đời” chính sáchquốc gia (từ khi ban hành, thực hiện, có kết quả, rút ra bài học) trở nênthường trực, xuyên suốt, sâu sát vào những vấn đề quan trọng đối với cácchính sách then chốt của quốc gia Các hoạt động này diễn ra thường xuyên,

Trang 8

thể hiện công khai, trực tiếp và toàn diện trong suốt quá trình lãnh đạo đấtnước của Đảng Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn, ra nghịquyết về các quyết sách lớn của đất nước, căn cứ vào đó, Nhà nước có nhiệm

vụ hiện thực hóa thành các nhiệm vụ cụ thể thông qua nhiều cách thức màchính sách công là trụ cột

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam có hệ thống phương thức chuyển tải,thể hiện vai trò lãnh đạo hết sức đa dạng, phong phú và linh hoạt, mà ở đóthông qua Nhà nước đôi khi chỉ là một trong những cách hiện thực hóa mụctiêu, lý tưởng của Đảng thông qua chính sách công

1.2.2 Bản chất của chính sách công

Chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực côngcộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đónhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự củađảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhândân Nhà nước dựa trên nền tảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lựccủa nhân dân ban hành chính sách công Ngoài mục đích phục vụ cho lợi íchcủa giai cấp, của đảng cẩm quyền còn để mưu cầu lợi ích cho người dân và xãhội Chính sách công được hoạch định bởi đảng chính trị nhưng do chính phủxây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Bản chất của chính sách công làcông cụ để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện cáchoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quátrình phát triển thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển

Chính sách công là ý chí chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện

cụ thể là các quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước Các quyết địnhnày nhằm duy trì tình trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn để xã hội, đáp ứngnhu cầu của người dân Ý chí chính trị của đảng cầm quyển được cụ thể hóathành chính sách, thông qua đó thiết lập mối quan hệ giữa đảng, nhà nước vớingười dân Thông qua chính sách công đảng cầm quyền dẫn dắt các quan hệ

Trang 9

trong xã hội theo định hướng của đảng Các cá nhân trong xã hội là những đốitượng trực tiếp thụ hưởng và thực hiện chính sách Vì vậy, chính sách chỉ cóhiệu lực, hiệu quả thực sự khi được các cá nhân trong xã hội tiếp nhận và thựchiện Để đạt được điều đó thì điều kiện tối thiểu là chính sách phải minh bạch,

ổn định, dễ hiểu và vai trò chủ thể thực hiện chính sách công phải là côngchúng, mặc dù người khởi xướng chính sách là nhà nước

1.3.Vai trò và ý nghĩa của chính sách công

1.3.1 Vai trò của chính sách công

Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệuchủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồntại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ ngườidân Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sáchcông như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội

để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước Ngoài vai trò cơ bản này,hính sách công còn có vai trò cụ thể sau:

Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt độngkinh tế - xã hội,

Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với mộtvấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên cácchủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mànhà nước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp vớinhững nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hộihoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàngđạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhànước hay xã hội Điểu đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cáchthức tác động của CSC cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hànhđộng

Trang 10

Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xãhội theo mục tiêu chung.

Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung, nhà nướcphải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cáchthức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thànhphần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất ưuđãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ ưu đãi đặcbiệt khác, Sự tác động của CSC không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyếnkhích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước Chẳng hạn, để tăngcường đầu tư vào nền kinh tế, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khíchcác chủ thể trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnh vựchay những vùng cần được ưu tiên phát triển

Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế củanền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thịtrường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinhdoanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chấtượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ

đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởnq lợi như: hànghóa và dịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thươnghiệu, mẫu mã, chất lượng ngày càng tược nâng cao với giá tiêu dùng ngàycàng rẻ Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêucực mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thịtrường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa côngcộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổnđịnh kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xãhội và mỗi người dân Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thốnghính sách công để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục

Trang 11

những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứng dịch vụ công chongười dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công hay hội,

tổ chức phi chính phủ thực hiện

Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển

Để kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùngchính sách để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng - tiền,cung - cầu, xuất - nhập khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng, Đồng thời, nhà nước còndùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùngmiền của đất nước

Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội

Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng cácnguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng

về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tựnhien và xã hội của một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quantâm chính yếu của nhà nước Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướngbền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát qué trìnhkhai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội,

ví dụ như chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xây dựng khucông nghiệp, khu chế xuất, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sáchbảo vệ tài nguyên, môi trường

Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết đểhình thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chínhsách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học vàcông nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 12

Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà nhànước sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô, chúng có chức năng chung là tạo ranhững kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của đảng cầmquyền thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọingười trong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộcmục tiêu bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chungcủa phát triển kinh tế quốc dân.

Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành.Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ vàkhông thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia củanhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cámân Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạtđộng giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớpnhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thichính sách công

1.3.2 Ý nghĩa của chính sách công

Chính sách công có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và thựctiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ,cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích của nhà nước.Tính chính trị của chính sách công biểu hiện rõ nét qua bản chất của nó làcông cụ quản trị, quản lý của nhà nước, phản ánh bản chất, tính chất của nhànước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tổn tại Nếu chính trị của nhànước thay đổi, tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách Điều này khẳng địnhhính sách công mang tính chính trị hay ý nghĩa chính trị đậm nét

Tính pháp lý hay ý nghĩa pháp lý của hính sách công ở chỗ, chính sáchcủa nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật, nhưng pháp luật là của nhànước nên hính sách công đương nhiên có ý nghĩa hay tính pháp lý Chính sách

Trang 13

công dựa trên cơ sở của pháp luật cũng chính là dựa trên ý chí của nhà nước,chuyển tải ý chí của nhà nước thành chính sách, công cụ quan trọng để nhànước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Ngược lại, chính sáchcông cũng có mối liên hệ và tác động trở lại với pháp luật, là nguồn khơi dậysức sống của các quy phạm pháp luật Các sáng kiến pháp luật đều xuất phát,bắt nguồn từ thực tiễn triển khai thực hiện chính sách công Thực tiễn chothấy chính sách công chỉ có thể được thực hiện hiệu quả khi được thể chế hóathành những nội dung, quy định cụ thể, áp dụng cụ thể như áp dụng các quyđịnh của pháp luật Từ chính sách công có thể thể chế hóa thành các quy địnhcủa pháp luật và ngược lại, từ các quy định của pháp luật có thể cụ thể hóathành các nguyên tắc, yêu cầu trong xây dựng chính sách công Ví dụ, từ kếtquả thực hiện chính sách tiền lương, để đảm bảo công bằng và thực hiệnthống nhất, nghiêm túc chính sách này trong hệ thống hành chính nhà nướccần phải được quy định chặt chẽ trong Luật cán bộ, công chức là “trả lươngcho cán bộ, công chức ngang bằng với nhiệm vụ, công vụ công chức thựchiện” Cũng trên cơ sở quy định này của Luật cán bộ, công chức, cơ quanquản lý nhà nước xây dựng chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức.Quy định này trong Luật cán bộ, công chức trở thành nguyên tắc, yêu cầu cơbản của chính sách tiền lương nhà nước đối với cán bộ, công chức Chínhsách công và pháp luật đều là các công cụ quan trọng, hữu hiệu trong hoạtđộng quản lý của nhà nước, có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫnnhau Hoạch định, xây dựng chính sách công phải tuân thủ nguyên tắc quản lýbắt buộc hay nguyên tắc pháp lý của chính sách Tôn trọng nguyên tắc này là

để bảo đảm việc thực hiện chính sách công đạt được mục tiêu đề ra, cũngchính là mục tiêu quản lý của nhà nước Mặt khác chính sách công là chínhsách của nhà nước, việc thực hiện chính sách là bắt buộc đối với đối tượngthuộc phạm vi điểu chỉnh cũng như đối với toàn thể nhân dân Do đó, trongnội dung, nội hàm của chính sách công cần phải xác định các hình thức, mức

độ chế tài hợp lý để bảo đảm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chính sách

Trang 14

Tính chất xã hội hay ý nghĩa xã hội của chính sách công thể hiện ởchức năng xã hội của chính sách công Chính sách công là chính sách của nhànước ban hành để thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, ngoài phục vụ lợiích của nhà nước còn để phục vụ xã hội, phục vụ quảng đại quần chúng nhândân, tạo điều kiện và định hướng cho xã hội phát triển Cính sách công phảnánh rõ vai trò là chức năng xã hội của nhà nước, phản ánh bản chất, tính ưuviệt của nhà nước Do đó, Cính sách công luôn hàm chứa tính xã hội, ý nghĩa

xã hội Chính sách công còn ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, nếu xãhội phản đối, chống lại chính sách của nhà nước, sẽ dẫn đến khủng hoảng, bất

ổn định trong xã hội Một khi xã hội bất ổn định thì hệ quả tất yếu, tác độngtrực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước Vì vậy, khi nhà nước banhành hính sách công phải đặc biệt chú ý đến yếu tố xã hội, tính chất và ýnghĩa xã hội của hính sách công

Cính sách công có tính khoa học hay có ý nghĩa lý luận và thực tiễnthiết thực Tính khoa học của chính sách công thể hiện ở tính khách quan,công bằng tiến bộ và sát với thực tiễn Nếu chính sách công mang tính chủquan duy ý chí của nhà nước sẽ trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển của

xã hội Điều này cũng có nghĩa là việc ban lành chính sách công của nhà nướcbất thành, sẽ ảnh hưởng đến uy tín và vai trò của nhà nước Nếu chính sáchcông nhà nước ban hành đảm bảo các yếu tố khách quan, công bằng và tiến

bộ, phù hợp với lòng dân và xã hội, phù hợp với ý chí, nguyện vọng, quyền vàlợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ được người dân và xã hội ủng hộ, chínhsách đó sẽ được thực hiện trong cuộc sống một cách nhanh chóng, hiệu quả

uy tín và vai trò của nhà nước được đề cao tính khoa học của chính sách cònthể hiện ở ý nghĩa thực tiễn và tính thiết thực của chính sách, yêu cầu khi nhànước ban hành chính sách phải phù hợp với diều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụthể của đất nước, thực tại khách quan của chính trị, kinh tế, xã hội của đấtnước Điều này cũng có nghĩa là khi ban hành chính sách công cần phải tính

Trang 15

đến các điều kiện các nguồn lực để duy trì chính sách, các yếu tố ảnh hưởngđến việc tổ chức thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống Để đảm bảo ýnghĩa thực tiễn hay tính sát thực, hính sách công không thể cao hơn hay thấphơn trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước đến đâu thì đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, công

cụ của hính sách công đến đó

CHƯƠNG II: VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐCS VIỆT NAM ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CÔNG – GIẢI PHÁP

2.1 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phươngpháp, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tácđộng vào đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh Chính trị,đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, xây dựng thành công chủnghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc

2.1.1 Phương thức định hướng, chỉ đạo chiến lược cho toàn bộ quá trình chính sách công

Với vai trò tiên phong, cầm lái dẫn dắt cách mạng, Nhà nước và xã hội,Đảng thể hiện rất rõ bản chất, tầm nhìn xa trông rộng, trí tuệ và thực tiễn kinhnghiệm dày dặn của mình thông qua phương thức định hướng, chỉ đạo chiến

Trang 16

lược của mình, trong đó có đối tượng là quá trình chính sách công Nội dungđịnh hướng về tư tưởng, quan điểm, sứ mệnh, mục tiêu chính trị, khát vọngcủa đông đảo nhân dân, chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với chu trình chínhsách công hàm chứa, được thể hiện thông qua các công cụ và hoạt động lãnhđạo cụ thể của Đảng như bằng Cương lĩnh Chính trị, đường lối, chiến lược,chủ trương, quan điểm và quyết sách chính trị từ Trung ương đến địa phương.

Để lãnh đạo toàn diện, biến các định hướng, chỉ đạo chiến lược củamình vào trong hoạt động của Nhà nước khi thực hiện quá trình chính sáchcông, Đảng ban hành văn bản hàm chứa các nội dung trên dưới dạng Cươnglĩnh, nghị quyết, chiến lược, chỉ thị, thông tri, thông báo, kết luận, kế hoạchlàm căn cứ dẫn dắt, định hướng các cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viênquán triệt, nắm vững và vận dụng thống nhất, sáng tạo vào trong toàn bộ quátrình hoạch định, tổ chức hoặc đánh giá hiệu quả chính sách

2.1.2 Thể chế hóa định hướng, quan điểm chỉ đạo chiến lược thông qua Nhà nước

Trong Nhà nước pháp quyền, Đảng cầm quyền nói chung sẽ không thểthể hiện vai trò lãnh đạo trực tiếp của mình đối với Nhà nước và toàn xã hội,trong đó có quy trình chính sách công với tư cách là sản phẩm, công cụ quản

lý vĩ mô của Nhà nước mà không được thể chế hóa thành pháp luật bởi Nhànước

Có thể thấy, không chỉ ở nước ta mà các nước trên thế giới, đảng chínhtrị cầm quyền muốn thể hiện vai trò của mình đều phải được pháp lý hóatrong văn bản tối cao nhất là Hiến pháp và các đạo luật có liên quan do các cơquan Nhà nước xây dựng và ban hành Điều này thể hiện tính hợp pháp cả về

tư cách, vị thế của Đảng trong toàn bộ hệ thống chính trị

Theo nguyên tắc chung, toàn bộ quan điểm, định hướng chỉ đạo, đườnglối, quyết sách chính trị của Đảng muốn có hiệu lực và được tổ chức thực thinghiêm túc, đầy đủ trên thực tế, phản ảnh rõ mục tiêu và sứ mệnh chính trị

Ngày đăng: 13/04/2023, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w