MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là nội dung đã được hiến định. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính sách, đặc biệt là thực tiễn chính sách công ở nước ta hiện nay có thể thấy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công (quy trình chính sách) là hiện thực. Những biểu hiện cụ thể về nguyên tắc, phương thức, nội dung được phản ánh rõ nét, cụ thể trong từng khâu, vòng đời chính sách công là vấn đề mới, có giá trị lý luận và thực tiễn nghiên cứu. Nhân vấn đề này, chúng ta lại bàn về Bộ luật lao động sửa đổi để thấy rõ hơn vai trò của Đảng trong quy trình chính sách này. Không thể phủ nhận quyết tâm, nỗ lực đưa Bộ luật Lao động đi vào cuộc sống từ phía cơ quan quản lý Nhà nước khi hơn 3 năm qua, khoảng 60 Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật được ban hành, trong đó có một số Nghị định quan trọng về điều chỉnh quan hệ lao động tại DN. Song nhiều Nghị định, hướng dẫn còn chồng chéo, trùng lắp. Đơn cử, cùng một vấn đề về hợp đồng lao động nhưng có tới 2 văn bản hướng dẫn là Nghị định 442013NĐCP và Nghị định 052015NĐCP. Điều này dẫn đến tình trạng, nhiều khi một vấn đề nhưng DN phải đọc tới vài Nghị định mới có thể áp dụng, triển khai được. Trước thực tế đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động 2012 và trình Quốc hội cho ý kiến vào tháng 52017 dù Bộ luật có hiệu lực mới được hơn 3 năm (tính từ ngày 0152013). Vậy Đảng sẽ có vai trò gì trong việc giải quyết vấn đề này? Để trả lời cho câu hỏi đó, tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình Bộ luật lao động (sửa đổi)” làm tiểu luận kết thúc môn học.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH 3
1.1 Khái niệm quy trình chính sách 3
1.2 Đặc điểm và các giai đoạn quy trình chính sách 3
1.3 Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình chính sách 8
CHƯƠNG 2: 13
PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI) 13
3.1 Sự cần thiết phải sửa đổi Bộ luật Lao Động 13
3.2 Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình Bộ luật Lao Động (sửa đổi) 14
3.3 Đánh giá kết quả quy trình sửa đổi Bộ luật Lao Động được quốc hội thông qua 22
CHƯƠNG 3: 31
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH HIỆN NAY 31
3.1 Nâng cao năng lực dự báo, phân tích, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống quyết sách chính trị 31
3.2 Nâng cao chất lượng thể chế hóa các quyết sách chính trị thông qua cơ quan nhà nước 33
3.3 Làm tốt công tác cán bộ trong các cơ quan tham vấn, xây dựng và thực thi chính sách 34
3.4 Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát “vòng đời” hệ thống chính sách của Đảng 35
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớiNhà nước và xã hội là nội dung đã được hiến định Tuy nhiên, dưới góc độkhoa học chính sách, đặc biệt là thực tiễn chính sách công ở nước ta hiện nay
có thể thấy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công (quy trìnhchính sách) là hiện thực Những biểu hiện cụ thể về nguyên tắc, phương thức,nội dung được phản ánh rõ nét, cụ thể trong từng khâu, vòng đời chính sáchcông là vấn đề mới, có giá trị lý luận và thực tiễn nghiên cứu Nhân vấn đềnày, chúng ta lại bàn về Bộ luật lao động sửa đổi để thấy rõ hơn vai trò củaĐảng trong quy trình chính sách này
Không thể phủ nhận quyết tâm, nỗ lực đưa Bộ luật Lao động đi vàocuộc sống từ phía cơ quan quản lý Nhà nước khi hơn 3 năm qua, khoảng 60Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật được ban hành, trong đó có một
số Nghị định quan trọng về điều chỉnh quan hệ lao động tại DN Song nhiềuNghị định, hướng dẫn còn chồng chéo, trùng lắp Đơn cử, cùng một vấn đề vềhợp đồng lao động nhưng có tới 2 văn bản hướng dẫn là Nghị định44/2013/NĐ-CP và Nghị định 05/2015/NĐ-CP Điều này dẫn đến tình trạng,nhiều khi một vấn đề nhưng DN phải đọc tới vài Nghị định mới có thể ápdụng, triển khai được
Trước thực tế đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ TB&XH) đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động 2012 và trìnhQuốc hội cho ý kiến vào tháng 5/2017 dù Bộ luật có hiệu lực mới được hơn 3năm (tính từ ngày 01/5/2013) Vậy Đảng sẽ có vai trò gì trong việc giải quyết
LĐ-vấn đề này? Để trả lời cho câu hỏi đó, tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích vai trò
của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình Bộ luật lao động (sửa đổi)”
làm tiểu luận kết thúc môn học
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích; Nghiên cứu về vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
quy trình Bộ luật lao động (sửa đổi)
Nhiệm vụ; Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về vai trò của Đảng
Cộng Sản Việt Nam trong quy trình chính sách; phân tsch vai trò của ĐảngCộng Sản Việt Nam trong quá trình Bộ Luật lao động (sửa đổi); chỉ ra những
Trang 3giải pháp để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trongquy trình chính sách hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng; Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quá trình Bộ
luật Lao động (sửa đổi)
Phạm vi; Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quá trình Bộ luật
Lao động (sửa đổi)
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xãhội như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, hệ thống, cấu trúc, nghiêncứu tài liệu lịch sử…
5 Ý nghĩa của tiểu luận
Tiểu luận hệ thống hóa được khái quát chung về vai trò của Đảng CộngSản Việt Nam trong quy trình Bộ luật Lao động (sửa đổi) Tiểu luận đi sâuphân tích vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình Bộ luật Laođộng (sửa đổi) trên mọi phương diện và đồng thời cũng chỉ ra những phươngpháp nhằm nâng cao vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trìnhchính sách hiện nay
Các kết quả nghiên cứu của tiểu luận sẽ được sử dụng để làm tài liệutham khảo, học tập, giảng dạy cho các công trình nghiên cứu về sau có liênquan tới hoạt động nghiên cứu vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trongquy trình Bộ luật Lao động nói riêng và quy trình chính sách hiện nay nóichung
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH
1.1 Khái niệm quy trình chính sách
Quy trình chính sách là những bước đi cơ bản, tất yếu, bao quát toàn bộ đời sống của một chính sách, kể từ khi nảy sinh ý tưởng (vấn đề chính sách) tới việc định hình, hoàn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc hủy
bỏ nó…Trong đó, mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối
với quá trình thực thi chính sách Là nhưng nguyên lý khoa học được đúc kết
từ thực tiễn cuộc sống, do đó việc tuân thủ đúng, đầy đủ các bước trong quuytrình chính sách thành yêu cầu hành động của các nhà quản lý
1.2 Đặc điểm và các giai đoạn quy trình chính sách
1.2.1 Đặc điểm quy trình chính sách
- Tính liên tục và biến động của quy trình chính sách
Qui trình chính sách là liên tục bởi nó bao quát toàn bộ đời sống chínhsách với nhiều khâu và giai đoạn nối tiếp nhau không ngừng Trong đó, ranhgiới giữa các giai đoạn chính sách chỉ là tương đối và không xác định rõ rệt;cũng không có sự khởi đầu và kết thúc rõ ràng của một chính sách Các giaiđoạn của quy trình chính sách đan xen nhau, quan hệ nhân quả với nhau trongmột quá trình liên tục không bao giờ dứt Trên thực tế, các chính sách củanhànước không phải được bắt đầu từ hư không mà chúng thường bắt nguồn từnhững ý đồ hay quyết định đã xuất hiện trong quá khứ; mặt khác sự kết thúccủa một chính sách luôn là tiền đề cho những ý tưởng hoặc chính sách mớitrong tương lai
Sự biến động của quy trình chính sách bị quy định bởi tác động củamôi trường chính sách Những đặc điểm của môi trường chính sách đã chỉ ranguyên nhân, nguồn gốc biến động của quy trình chính sách: do tác động qualại giữa môi trường đối với việc xây dựng và thực thi chính sách Ngoài ra, sự
Trang 5biến động cũng do tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các chính sách Có ýkiến cho rằng, chính sách là một quá trình vừa liên tục vừa biến động, chothấy không có một căn cứ nào để chúng ta có thể mô tả chính sách một cách
rõ ràng và chính xác Trên thực tế, một chính sách của chính phủ có thể đượcchắp nối từ nhiều nguồn gốc, trên cơ sở phân tích từ những quyết định vàhành động riêng biệt (Chẳng hạn, chính sách Cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước ở Việt Nam bắt nguồn từ những nỗ lực cải cách các doanh nghiệp nhànước, nó được chính thức đề cập đến trong Quyết định 217 / QĐ / HĐBTngày 14 / 11 / 1987 và được tiếp nối bằng một loạt các quyết định của nhànước và các cấp ngành về vấn đề này: các Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998,Nghị định 64/CP ngày 19/6/2002 và Nghị định 187/CP ngày 16/11/ 2004 củaChính phủ và việc thực hiện các Nghị định đó đã mở ra một chặng mới củachính sách cổ phần hoá ở nước ta Thực tế cũng cho thấy, chính sách này vẫncòn đang tiếp diễn ở nước ta )
- Tính năng động của quy trình chính sách
Được thể hiện trong mối tương quan giữa các giai đoạn của quy trìnhchính sách vừa độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau Mỗi giai đoạn của quy trìnhchính sách có đặc điểm, vai trò, vị trí riêng, vừa độc lập vừa phụ thuộc nhautạo nên sự thống nhất chung của cả quy trình Trong đó, giai đoạn thực hiệnchính sách thường bắt đầu trước khi chính sách được thiết lập vững chắc; giaiđoạn đánh giá chính sách thường dẫn đến những thay đổi trong hoạch định vàthực hiện; và phân tích chính sách là một quá trình bao trùm toàn bộ qui trìnhchính sách để giải quyết các hoạt động liên quan đến quy trình và chỉ ranhững mối quan hệ mang tính qui luật giữa các yếu tố cấu thành hoạt độngchính sách Ngoài ra, mỗi giai đoạn trong quy trình chính sách cũng lại là mộtquy trình phức tạp, gồm khởi đầu, quá trình tiếp diễn và kết thúc, trong đó cónhững bước tác giả này thì coi là độc lập song tác giả khác lại chia ra nhiềubước nhỏ hơn và vợc lại Điều đó cho thấy: quy trình chính sách là một quátrình năng động với một mức độ trùng lặp đáng kể giữa ba giai đoạn: hoạch
Trang 6định, thực hiện và đánh giá chính sách Xuyên suốt quy trình chính sách làmột cấu trúc vừa khán kín” vừa “mở”.
1.2.2 Các giai đoạn quy trình chính sách
a) Hoạch định chính sách
Hoạch định chính sách công (Public policy making) là việc xây dựngmột chính sách mới theo yêu cầu quản lý, bao gồm việc nghiên cứu đề xuất ramột chính sách và ban hành chính sách đó Quá trình hoạch định chính sách
do nhiều khâu hợp thành với ảnh hưởng tác động lẫn nhau tương đối phứctạp Thực chất hoạch định chính sách cũng là một quy trình với các bước đi
cụ thể Trọng tâm của toàn bộ quy trình đó là việc trả lời cho câu hỏi: làm thếnào để có được chính sách tối ưu? Và: Ai là người có tiếng nói quyết địnhtrong việc thông qua chính sách?
Hoạch định chính sách chủ được diễn ra trong bộ máy nhà nước, baogồm các hoạt động trao đổi thông tin về các nguồn lực, thảo luận và thươngthuyết giữa và trong các thể chế nhà nước; đồng thời cũng bao hàm cả sựtương tác vứi các tổ chức bên ngoài Những người tham gia chính ở đây là cácchuyên gia, các nhà tư vấn, các viên chức có kiến thức và kinh nghiệm tronglĩnh vực chuyên môn tương ứng
Các tổ chức đóng vai trò chính như các uỷ ban chuyên đa quốc hội, cácban chuyên môn của đảng cầm quyền, các cơ quan cứu (trường đại học, việnnghiên cứu), các bộ ngành liên quan, các tổ chức tư vấn phi chính phủ , vàđặc biệt là tiểu ban chuẩn bị chính sách Trong giai đoạn này, người ta sửdụng nhiều phương pháp và kỹ thuật đa dạng phục vụ cho quá trình làm chínhsách (thường sử dụng rộng rãi phương pháp trưng cầu ý kiến) Sản phẩm củahoạch định chính sách được biểu hiện dưới dạng các quyết định do cấp cóthẩm quyền ban hành để đưa vào áp dụng trong thực tiễn
b) Tổ chức thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách công là giai đoạn chính trong qui trình chínhsách, giai đoạn các chính sách đi vào cuộc sống Các chính sách được hoạch
Trang 7định xuất phát từ yêu cầu khách quan của cuộc sống, từ những nhu cầu của xãhội và của nhân dân Thực hiện chính sách là quá trình giải quyết trên thực tếnhững nhu cầu đó, đem lại những biến đổi trên các lĩnh vực của đời sống xãhội, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân Đó là chuỗi các hành động và biệnpháp cụ thể để thi hành một quyết định chính sách đã được thông qua Vềthực chất, đó “là quá trình chuyển những tuyên bố trên giấy tờ của chínhquyền về các loại dịch vụ, mục tiêu, đối tượng, phương thức thành nhữnghành động nhất định nhằm phân phối lợi ích từ tuyên bố” Trong quá trìnhthực hiện chính sách, các nguồn lực về tài chính, công nghệ và con ngườiđược đưa vào sử dụng một cách có định hướng Nói cách khác, đây là quátrình kết hợp giữa yếu tố con người với các nguồn lực vật chất nhằm sử dụngcác nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra
Vì vậy, có thể quan niệm: thực hiện chính sách là giai đoạn biến các ý đồchính sách thành những kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra
c) Đánh giá chính sách
Đánh giá chính sách công là việc xem xét mức độ đạt được mục tiêu đề
ra (hiệu quả kinh tế - xã hội của một chính sách) làm căn cứ cho việc lựa chọn
và hoàn thiện chính sách công Đánh giá chính sách công có nhiệm vụ: sơ kết,tổng kết việc thực hiện chính sách, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của chínhsách; rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết Đánh giá chính sách côngtrả lời các câu hỏi: Chính sách đó có cần thiết hay không, mục đích của chínhsách là gì; chính sách đó tác động đến đối tượng ra sao, hiệu quả thế nào, aiđánh giá các tác động; các phản hồi của chính sách là gì; những tiêu chuẩn đểđánh giá chính sách; chính sách đó nên tiếp tục duy trỡ, phát triển hay chấmdứt?
Nhìn chung, nghiên cứu đánh giá chính sách công thường tập trungvào 3 nhóm vấn đề sau:
Trang 8- Một là, xem xét một cách tổng thể, trên bình diện quốc gia, liên quanđến vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội Đây là vấn đề khó vì thường mangtính tương đối khi được lượng hoá
- Hai là, đánh giá thực hiện chương trình chính sách Việc đánh giá dựavào kỹ thuật, trên cơ sở giả định kết quả đầu ra và theo dõi kết quả đầu ra cóđúng với giả định không?
- Ba là, đánh giá kết quả chính sách Thông thường, khi có sự nghi ngờ
về kết quả thì người ta tiến hành đánh giá; song đối với một số trường hợpcho kết quả tốt cũng cần phải đánh giá để rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh chocác quyết định chính sách tiếp theo (công việc này có thể kéo dài vài nămhoặc theo định kỳ)
Về logic phân tích, đánh giá chính sách là giai đoạn cuối trong chínhsách nhưng trên thực tế đánh giá chính sách được thực hiện trong quá trìnhchính sách Ngay trong giai đoạn xây dựng (thông qua) chill người ta cũng cónhững đánh giá sơ bộ về khả năng tác động của các đề án chính sách trongcác cân nhắc của mình Những đánh giá ước lượng như vậy có thể dẫn tới sựđiều chỉnh, thay đổi hay thậm chí huỷ bỏ các đề án chính sách trước khi đưa
ra phê chuẩn Khi đó, quá trình chính sách có thể phải làm lại từ đầu và nhữngsáng kiến chính sách mới được triển khai cựng với quá trình đánh giá tácđộng, điều chỉnh chính sách sẽ trở nên thường xuyên Sự phân tích chính sáchcũng được tiến hành với những kinh nghiệm tích luỹ từ các chu kỳ trước
Đánh giá chính sách bao gồm đánh giá kết quả thực tế của triển khaichính sách cũng như việc đánh giá về bản thân quá trình triển khai để tổng kếtcác kinh nghiệm Để việc đánh giá đảm bảo tớnh khoa học thì khả năng đolường các chi phí và kết quả, cũng như vấn đề làm từ trách nhiệm là rất quantrọng
Việc đánh giá chính sách trước và sau khi triển khai như vậy có ảnhhưởng sống còn với một chính sách, ảnh hưởng không những về phương diệnvật chất mà còn cả uy tín và sinh mạng chính trị của các chủ thể liên quan
Trang 9(các nhóm ủng hộ, các chuyên viên xây dựng chính sách, các cơ quan triểnkhai Đánh giá chính sách cũng không đơn thuần là các đòi hỏi kỹ thuật kháchquan để hiểu thấu đáo tác động của một chính sách mà quá trình này thấmđẫm tính chính trị ngay từ bước khởi đầu Vì vậy, sự mặc cả, thoả hiệp, cácthủ đoạn chính trị là những hiện tượng có thể quan sát được trong quá trìnhthông qua kế hoạch, xác định tiêu chí, kết luận đánh giá một chính sách giữacác chủ thể chính trị Đánh giá còn là vấn đề mang tính tổ chức, bởi vì nhữngngười ra các quyết định thường không có đủ những thông tin giải quyết trongkhi những người trực tiếp cộng tác ở cơ sở có thể biết những vấn đề nàynhưng không có đủ quyền lực để đều chỉnh hay thực nghiệm, sáng tạo Ngay
cả khi các nhà soạn thảo chính sách có ý định tốt nhất, họ vẫn phải đương đầuvới những hạn chế thực tế tạo ra bởi sự thiếu hiểu biết Chính sách nhà nướcđược phổ biến cho một thế giới mà các mối quan hệ xã hội và kinh tế tươngtác hết sức phức tạp trong đó cán cân thường nghiêng về sự thiếu hiểu biếthơn là hiểu biết Điều quan trọng là chính quyền phải dự tính, đo lường và rút
ra những bài học từ những kết quả đó Vì thế, cần phải quan tâm đánh giáchính sách một cách nghiêm túc
1.3 Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình chính sách
1.3.1 Vai trò của đảng chính trị
- Đảng chính trị với giai đoạn hoạch định chính sách
Hầu hết các quốc gia hiện nay đều quan niệm chính sách công là sảnphẩm của các cơ quan quyền lực nhà nước, nghĩa là nhấn mạnh vai trò chủthể quan trọng nhất của nhà nước với quy trình chính sách công Tuy nhiên,như trong phần trên đã phân tích, đảng chính trị cũng đóng vai trò quan trọngvào quy trình chính sách công, và sự tham gia này thể hiện từ giai đoạn hoạchđịnh chính sách Trước hết, về cơ bản, mọi chính sách của nhà nước đều phảixuất phát từ những cương lĩnh, chủ trương, chiến lược lớn mà đảng cầmquyền đã định hướng Thậm chí, ở các nước xã hội chủ nghĩa, vì Đảng Cộng
Trang 10sản là lực lượng duy nhất nắm quyền lãnh đạo nên các chính sách, pháp luậtcủa nhà nước được coi là sự cụ thể hóa, thể chế hóa về mặt pháp lý các chủtrương, đường lối và chính sách lớn của Đảng Ở khía cạnh này, có thể nói,đảng cầm quyền quyết định đối với việc lựa chọn các vấn đề chính sách, đặcbiệt là các chính sách dài hạn và trung hạn.
Một trong những điều kiện cơ bản để một vấn đề chính sách có thểđược đưa ra bàn luận trong chương trình nghị sự là hoàn cảnh chính trị thíchhợp và sự ủng hộ của các nhà chính trị có ảnh hưởng quan trọng Thực tếcũng cho thấy ở khâu này, vai trò của các đảng chính trị thể hiện rất rõ nétthông qua cơ chế điều tiết và kiểm soát hoạt động của các đảng chính trị đốivới đảng viên của mình Đây cũng là một trong những nghi ngờ mà M.Weber
đã đặt ra đối với chức năng lí tưởng của Nghị viện ngày nay bởi cái gọi là
“chính trị đảng phái” khi mà mọi đảng viên đều phải tuân theo kỉ luật đảng
mà đảng này lại do một nhóm kĩ trị điều hành Khi đó, Nghị viện chỉ còn lànơi bảo vệ quan điểm của đảng và hợp thức hóa quyền lợi của đảng Đảngchính trị đại diện cho lợi ích của nhóm, lực lượng nào trong xã hội sẽ ủng hộ
và bảo vệ cho những chính sách có lợi cho nhóm ấy Chẳng hạn, ở Anh, Côngđảng trên danh nghĩa bảo vệ quyền lợi cho quần hausng lao động , đại diệncho giai cấp công nhân, tầng lớp trung lưu dưới nên sẽ ủng hộ các chính sáchnhằm mở rộng chương trình phúc lợi xã hội, quan tâm đến người nghèo, thuthuế cao đối với người giàu; trong khi đó, Đảng Bảo thủ đại diện cho quyềnlợi của tầng lớp trung lưu và thượng lưu, đại tư bản nên có thiên hướng ủng
hộ “tự do kinh doanh”, xóa bỏ chương trình quốc hữu hóa của Công đảng, tưhữu hóa nền công nghiệp, cắt giảm chương trình phúc lợi xã hội, giảm thuếcho người giàu Cũng tương tự ở Mỹ, Đảng Dân chủ thường bảo vệ quyền lợigiới lao động, chủ trương phân phối lại sản phẩm quốc dân có lợi cho tầng lớpnghèo và trung lưu, mở rộng hệ thống bảo hiểm và phúc lợi xã hội; còn ĐảngCộng hòa thường gắn với quyền lợi của giới kinh doanh, tài chính, côngnghiệp nên chủ trương bảo thủ trong kinh tế, ủng hộ nguyên tắc điều tiết nhà
Trang 11nước đối với kinh tế thị trường, phản đối vai trò phân phối lại phúc lợi xã hội.Như vậy, sự tác động của các đảng chính trị vào hoạch định chính sách khôngphải lúc nào cũng là tích cực mà đôi khi nó bộc lộ cả những hạn chế của nó.Tất nhiên, việc phân tích một cách tách bạch vai trò của đảng chính trị tronghoạch định chính sách cũng như trong các giai đoạn còn lại của quy trìnhchính sách là không hề đơn giản bởi vì sự tham gia này không trực tiếp và dễquan sát như các chủ thể khác trong đời sống chính trị Ngay trong 12 bướccủa quy trình chính sách ở châu Âu, chúng ta cũng có thể thấy chỉ có khâuđầu tiên: xác lập ưu tiên cũng là không duy nhất trong quá trình chính sách
mà sự tham gia của đảng cầm quyền thể hiện rõ nét nhất trong vai trò là cơquan chủ trì Ngoài khâu này, đảng chính trị cũng có thể tham gia ở mức độnào đó vào quá trình hoạch định định chính sách ở công trong công đoạn ởnghị viện Mức độ tham gia của đảng chính nào Khâu này của quy trình chínhsách tùy thuộc vào vị trí, quy mô, tầm ảnh hưởng của đảng chính trị đó trongnghị viện
- Đảng chính trị với giai đoạn thực hiện và đánh giá chính sách
Như trên đã đề cập, việc làm rõ vai trò của đảng chính trị vào các giaiđoạn của quy trình chính sách là rất khó khăn, điều này càng không đơn giản
ở giai đoạn thực hiện và đánh giá chính sách
Về hình thức, quá trình thực hiện chính sách công cũng như theo dõi
và đánh giá chính sách chủ yếu do các cơ quan, tổ chức được nhà nước lựachọn thực hiện dựa trên khả năng đáp ứng yêu cầu của các tổ chức này Thực
tế, giai đoạn thực hiện chính sách do các bộ chủ trì đảm trách, giai đoạn theodõi và đánh giá chính sách do các bộ chủ trì phối hợp cùng văn phòng chínhphủ chịu trách nhiệm nhưng trực tiếp tham gia vào hai giai đoạn cuối cùngnày lại là các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia bên ngoài và các tổ chứcphi chính phủ Điều này vừa đảm bảo cho việc thực hiện chính sách đạt hiệuquả, lại đảm bảo được tính khách quan, khoa học trong đánh giá chính sách
Trang 12Tuy nhiên đảng cầm quyền sẽ giám sát quá trình tổ chức thực hiệnchính sách để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng mục đích và chủtrương của Đảng, huy động và tranh thủ sự đồng thuận xã hội đối với cácchính sách này, qua đó góp phần định lượng uy tín của đảng để có những điềuchỉnh hợp lý Thông qua hoạt động của Nghị viện, đảng chính trị sẽ tham giavào quá trình huy động và phân bổ các nguồn lực cho việc thực hiện cácchính sách công Các đảng không cầm quyền cũng giám sát quá trình thựchiện chính sách công nhưng mục đích để đảm bảo cho việc thực hiện chínhsách ấy không đi chệch những mục tiêu đã được “thỏa thuận” tại quốchội/nghị viện, bảo vệ lợi ích của các giai tầng mà mình đại diện
Một khâu quan trọng trong công tác tổ chức thực hiện chính sách, trướckhi tiến hành triển khai thực hiện chính sách, đó là tuyên truyền, giải thíchchính sách Khi nghiên cứu ở các nước xã hội chủ nghĩa, có thể thấy, do tínhđặc thù về mặt mô hình, vai trò của đảng cộng sản với tư cách đảng duy nhấtcầm quyền thể hiện rất rõ nét Công tác tuyên truyền, giải thích và phổ biếnchính sách được thực hiện thường xuyên, tạo môi trường tâm lý – xã hội choviệc thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao
1.3.2 Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong quy trình chính sách
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quy trình chính sách:
- Đại hội Đảng đưa ra những quan điểm, chủ trương, đường lối làm nềntảng lâu dài cho chính sách quốc gia Hình thức văn bản là nghị quyết Đại hội
- Ban chấp hành Trung ương có quyền cụ thể hoá đường lối của Đại hộiĐảng thành các chủ trương lớn làm nền tảng cho chính sách trong các lĩnhvực đối nội, đối ngoại cụ thể Hình thức văn bản là nghị quyết Hội nghị trungương
- Bộ Chính trị có quyền quyết định những vấn đề về chủ trương, chínhsách, tổ chức, cán bộ Hình thức văn bản là quyết định, nghị quyết, chỉ thị
Trang 13- Ban Bí thư lãnh đạo công việc hằng ngày của Đảng, chỉ đạo sự phốihợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị , quyết định một sốvấn đề về tổ chức, cán bộ Hình thức văn bản là nghị quyết, chỉ thị Trongkhuôn khổ của quyền hạn của Bộ Chính trị và Ban bí thư, Tổng bí thư có vaitrò quan trọng trong việc đôn đốc, chỉ thị và kiểm tra việc thực hiện các nghịquyết
- Các ban Đảng là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng trên từnglĩnh vực, tham gia, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trongquá trình hoạch định chính sách trên lĩnh vực tương ứng
- Các đảng đoàn (đảng đoàn Quốc hội, đảng đoàn Chính phủ, đảngđoàn các bộ ) có nhiệm vụ lãnh đạo các cơ quan nhà nước xây dựng và thựchiện chính sách Trong các loại văn bản của Đảng, quan trọng nhất là xâydựng và thông qua báo cáo chính trị của Đại hội Đảng Đây là cương lĩnhđường lối của Đảng trong một giai đoạn dài, là nền tảng của mọi chính sáchquốc gia nên được soạn thảo công phu, qua nhiều công đoạn với nhiều lầnbiên tập, sửa chữa, lấy ý kiến của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương,các nhà khoa học, thậm chí công bố rộng rãi lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên
và các tầng lớp nhân dân (như Báo cáo chính trị trình Đại hội IX, Đại hội X)
Trang 14CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
QUY TRÌNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
3.1 Sự cần thiết phải sửa đổi Bộ luật Lao Động
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) dự kiến sẽsửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động 2012 để trình Quốc hộicho ý kiến vào tháng 5/2017 Vì sao một Bộ luật có hiệu lực mới được hơn 3năm (tính từ ngày 01/5/2013) nhưng cơ quan soạn thảo đã sớm tính đếnphương án sửa luật?
Lý giải vấn đề trên, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ LĐ-TB&XH) Mai
Kế Thiện cho biết: Nội dung của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới(FTA) mà Việt Nam tham gia gần đây không chỉ quy định các vấn đề liênquan trực tiếp đến thương mại mà còn bao gồm cả các vấn đề phi thương mại.Trong lĩnh vực lao động, nội dung của các FTA căn cứ vào các tiêu chuẩn laođộng quốc tế cơ bản tại Tuyên bố 1998 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO).Tuy nhiên, Bộ luật Lao động 2012 và các văn bản quy định chi tiết chưa hoàntoàn đáp ứng được một số yêu cầu của các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơbản Bởi vậy, việc sửa Bộ luật Lao động thời gian tới là nhằm đáp ứng yêucầu của các cam kết trong hội nhập Mặt khác, một số luật được ban hành gầnđây có nhiều quy định mới liên quan đến việc điều chỉnh quan hệ lao độngnhư Luật Hình sự, Luật DN, Luật Tố tụng dân sự và các Luật chuyên ngànhtách ra từ nội dung của Bộ luật Lao động Điều này đòi hỏi Bộ luật Lao động
2012 phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và đồng bộ với hệ thống pháp luật
Không thể phủ nhận quyết tâm, nỗ lực đưa Bộ luật Lao động đi vàocuộc sống từ phía cơ quan quản lý Nhà nước khi hơn 3 năm qua, khoảng 60Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật được ban hành, trong đó có một
số Nghị định quan trọng về điều chỉnh quan hệ lao động tại DN Song nhiềuNghị định, hướng dẫn còn chồng chéo, trùng lắp Đơn cử, cùng một vấn đề về
Trang 15hợp đồng lao động nhưng có tới 2 văn bản hướng dẫn là Nghị định44/2013/NĐ-CP và Nghị định 05/2015/NĐ-CP Điều này dẫn đến tình trạng,nhiều khi một vấn đề nhưng DN phải đọc tới vài Nghị định mới có thể ápdụng, triển khai được.
Qua theo dõi thi hành pháp luật lao động cũng như tiếp nhận nhữngkiến nghị của địa phương và DN, đại diện Bộ LĐ-TB&XH, ông Mai KếThiện thẳng thắn thừa nhận dù đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung nhưng Bộ luậtLao động vẫn bộc lộ những điểm hạn chế cần khắc phục, tránh chồng chéo,mâu thuẫn, gây khó khăn cho DN trong quá trình thực hiện Thực tiễn trêncho thấy, việc sửa đổi Bộ luật Lao động là cần thiết song vấn đề đặt ra là:
“Sửa luật thế nào để bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo sự pháttriển của DN và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước?” - Thứtrưởng Bộ LĐ-TB&XH Phạm Minh Huân nhấn mạnh
3.2 Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong quy trình Bộ luật Lao Động (sửa đổi)
Đảng thể hiện vai trò của mình trong quy trình Bộ luật Lao Động (sửađổi) bằng phương thức: Thể chế hóa định hướng, quan điểm chỉ đạo chiếnlược thông qua Nhà nước Đồng thời động viên, huy động (nguồn lực vật lực,đồng thuận xã hội, phản biện chính sách) tham gia giải quyết vấn đề này
Cụ thể
3.2.2 Vai trò hoạch định chính sách
a) Quốc hội tích cực thảo luận về Dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi)
Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 220 điều Dự thảo
đã được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và tại
kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIV, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã báocáo tiếp thu, giải trình và Quốc hội thảo luận vào ngày 23/10/2019 Đã có 54lượt ý kiến đại biểu Quốc hội phát biểu và tranh luận
Trước đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có những đề xuấtmới cho Dự thảo sửa đổi Bộ Luật Lao động 2012 Trong đó, nội dung được
Trang 16nhiều người quan tâm là Tổng LĐLĐ Việt Nam đề xuất giảm thời giờ làmviệc chính thức của người lao động từ 48 giờ/tuần xuống còn 44 giờ/ tuần;thêm 3 ngày nghỉ trong năm
Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông quagồm 17 chương, 220 điều, trong đó có một số nội dung lớn đã được tiếp thu,chỉnh lý như: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; Mở rộng khung thỏathuận thời giờ làm thêm tối đa; Tuổi nghỉ hưu; Tổ chức đại diện người laođộng tại cơ sở; Thời giờ làm việc bình thường; Giải quyết tranh chấp laođộng; Đình công
Đặc biệt, sau khi tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo đã có một số nội dung mới,chủ yếu đối với người lao động và người sử dụng lao động như: lần đầu tiên
mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động đốivới người lao động không có quan hệ lao động về một số tiêu chuẩn lao động;
bổ sung quy định cụ thể hơn về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ
200 giờ đến 300 giờ trong một năm nhằm bảo đảm quyền lợi lâu dài chongười lao động; điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm chuẩn bị,ứng phó với quá trình già hóa dân số, đáp ứng nhu cầu của thị trường laođộng
Dự thảo cũng lần đầu tiên luật hóa vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp, tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn địnhcủa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã ViệtNam, các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động khác; mở rộng quyềnđơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
Tuy nhiên, trong những nội dung sửa đổi của dự thảo Luật, hai vấn đề:tăng tuổi nghỉ hưu, mở rộng khung tăng giờ làm thêm tối đa được quan tâm
và gây tranh luận nhiều nhất
Tại Kỳ họp thứ 7, Chính phủ đã trình Quốc hội việc mở rộng khung
thỏa thuận về giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm, tăng 100 giờ so với quyđịnh hiện hành Tuy nhiên, nhiều ý kiến không đồng ý mở rộng khung thỏa
Trang 17thuận giờ làm thêm tối đa để bảo đảm sức khoẻ cho người lao động và chorằng, điều này đi ngược lại xu hướng chung của thế giới Để tăng năng suấtlao động, doanh nghiệp phải đổi mới, cải tiến công nghệ, quản trị doanhnghiệp Nhiều ý kiến đưa ra, nên giữ khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối
đa như quy định của Bộ luật hiện hành, có bổ sung nâng quy định khống chếthời gian làm thêm giờ theo tháng là 40 giờ/tháng thay vì 30 giờ/tháng và bổsung quy định về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờđến 300 giờ
Theo dự thảo, từ ngày 1/1/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động là đủ
60 tuổi 3 tháng với nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với nữ Sau đó, cứ mỗi nămtăng thêm 3 tháng với nam và 4 tháng với nữ Đến năm 2028, lao động namnghỉ hưu ở tuổi 62 tuổi và đến năm 2035, lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 60
Đối với vấn đề giờ làm thêm, Bộ trưởng Lao động-Thương binh và Xãhội Đào Ngọc Dung cho rằng, việc làm thêm giờ là cần thiết Kinh nghiệmcho thấy, nước càng nghèo, thời gian làm thêm càng nhiều Do đó, trongphương án trình, Bộ sẽ cân nhắc tới việc thời gian làm thêm như thế nào chophù hợp để bảo đảm thực hiện mục tiêu tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổnđịnh và phát triển, đồng thời phải chăm lo cho người lao động
Trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, Chủnhiệm Uỷ ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thuý Anh cho hay, một số ý kiếnđại biểu Quốc hội và nhiều Đoàn đại biểu Quốc hội tán thành với đề xuất củaChính phủ về việc tăng thêm một ngày nghỉ có hưởng lương nhưng không tánthành lựa chọn ngày 27/7 mà đề xuất chọn Ngày Gia đình Việt Nam (28/6)hoặc một ngày khác Về vấn đề này, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộtrưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Trưởng Ban soạn thảo dự án
Bộ luật xin rút đề xuất tăng thêm một ngày nghỉ có hưởng lương là ngày 27/7hằng năm sau khi Quốc hội thảo luận tại hội trường tại Kỳ họp 7
Tại báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội, Chính phủ tiếptục đề nghị “giữ nguyên số ngày nghỉ lễ như hiện nay, không đề xuất thêm
Trang 18ngày nghỉ” “Tuy nhiên, quá trình lấy ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội về
dự thảo Bộ luật và kiến nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nhiều ýkiến tiếp tục đề nghị bổ sung quy định về việc tăng thêm ngày nghỉ hưởngnguyên lương đối với người lao động và chọn ngày Gia đình Việt Nam(28/6)”, bà Nguyễn Thuý Anh báo cáo trước Quốc hội
Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin ý kiến đại biểu Quốc hội theohai phương án: Phương án 1, không bổ sung ngày nghỉ lễ; phương án 2, bổsung một ngày người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương vàchọn ngày Gia đình Việt Nam (ngày 28/6 dương lịch)
Hiện nay, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lươngtrong những ngày lễ, tết sau: Tết Dương lịch 1 ngày; tết Âm lịch 05 ngày;ngày Chiến thắng 1 ngày (ngày 30/4 dương lịch); ngày Quốc tế lao động 1ngày (ngày 1/5 dương lịch); ngày Quốc khánh 1 ngày (ngày 2/9 dương lịch);ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 1 ngày (ngày 10/3 âm lịch)
Cũng theo bà Nguyễn Thuý Anh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không
tán thành việc đề xuất mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa dù thực
tế người sử dụng lao động và người lao động có nhu cầu “Việc tăng thời giờlàm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạmcòn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làmthêm, khai thác tối đa sức lao động, hậu quả là người lao động sẽ cạn kiệt sứclao động sớm hơn so với tuổi lao động”, Chủ nhiệm Uỷ ban Về các vấn đề xãhội nêu
Song, Chính phủ vẫn mong muốn tiếp tục trình Quốc hội phương ántăng thời giờ làm thêm như đã trình tại kỳ họp thứ 7 để Quốc hội tiếp tục thảoluận Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định đề xuất 2 phương án đểQuốc hội xem xét, cho ý kiến
Cụ thể, phương án 1, quy định theo hướng giữ khung thỏa thuận giờlàm thêm tối đa như Bộ luật hiện hành Đồng thời, ghi rõ nâng thời giờ làmthêm theo tháng là 40 giờ/tháng thay vì 30 giờ/tháng và bổ sung quy định cụ
Trang 19thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300giờ/năm để người lao động biết, làm cơ sở cho việc giám sát tuân thủ, bảo vệđược quyền lợi, sức khỏe của người lao động.
Phương án 2, nâng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa từ 300 giờtheo quy định hiện hành lên 400 giờ/năm theo đề xuất của Chính phủ
Theo bà Thuý Anh, quy định theo phương án này không khống chế thờigian làm thêm giờ theo tháng, nhưng Chính phủ phải tiếp tục nghiên cứu cáckiến nghị của đại biểu Quốc hội, chuẩn bị danh mục cụ thể các ngành, nghềđược mở rộng khung làm thêm từ trên 300 giờ đến 400 giờ, đánh giá tác động
và bổ sung quy định trả lương lũy tiến làm thêm giờ kể từ giờ thứ 201 hoặc từgiờ thứ 301 trở đi và trình Quốc hội dự thảo Nghị định chi tiết Theo dự kiếnchương trình, dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông quatại kỳ họp này
b) Quốc hội thông qua qua bộ luật Lao động sửa đổi
Sáng 20/11/2019, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Dự thảo Bộ luậtLao động sửa đổi, với 435/453 đại biểu tán thành, chiếm tỷ lệ 90,06% Về cơbản, ý kiến của các vị đại biểu phát biểu thống nhất với Báo cáo của Ủy banThường vụ Quốc hội tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động(sửa đổi) (sau đây viết tắt là Bộ luật)
Về tuổi nghỉ hưu (khoản 2 Điều 169), Quốc hội đồng ý Phương án 1 là:
“Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thườngđược điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vàonăm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035 Kể từ năm 2021,tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ
60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao độngnữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 thángđối với lao động nữ”
Trước đó, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với quy định theoPhương án 1 về lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, tức là đến năm 2028 sẽ có lao