1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI TẬP LỚN Môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ĐỀ BÀI Phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Em hãy nêu nhận thức của mình về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

14 181 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 364,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚN Môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ĐỀ BÀI Phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Em hãy nêu nhận thức của mình về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay BÀI TẬP LỚN Môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ĐỀ BÀI Phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Em hãy nêu nhận thức của mình về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN Môn : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐỀ BÀI : Phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Em hãy nêu nhận thức của mình về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Họ tên : Trần Thị Cẩm Linh

Mã sinh viên : 11202299 Lớp học phần : LLDL1102_12 Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Hữu Công

HÀ NỘI - 9/2021 MỤC LỤC Trang

Trang 2

MỞ ĐẦU ……….…1

I Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và của Chủ tịch Hồ Chí

Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với thắng

mạng……… 1

1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin……… 1

2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh……….2

II Sự lãnh đạo của Đảng đối với Cách mạng Tháng Tám năm 1945……2

1939-1945……… 2

……… 3

……… 4

III Nhận thức của bản thân về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Việt Nam đối với Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay……7

1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ……….7

2 Trách nhiệm của bản thân………10

KẾT LUẬN ………12 TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, 2021, t.I

(2) Hồ Chí Minh : Toàn tập , Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật , Hà Nội, 2011

(3) Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trải qua thời kì tranh đấu mãnh liệt, giành giật sự sống dân tộc trước bàn tay thôn tính của các Đế Quốc trên thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với mục tiêu tối cao là lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đánh đánh đuổi bè lũ thực dân đế quốc cùng sự tàn bạo bóc lột của chúng ra khỏi bờ cõi quốc gia và xây dựng đất nước độc lập, đi lên định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, giúp đồng bào ấm no hạnh phúc Vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được bạn bè quốc tế công nhận, được nhân dân tin tưởng là ngọn hải đăng soi sang đường đi cho nhân dân lao động và cho toàn thể dân tộc Việt Nam Đặc biệt, cách mạng Tháng Tám (1945) đã khẳng định vai trò quan trọng của Đảng trong việc đề ra đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, tập hợp đoàn kết lực lượng của toàn dân tộc và phương pháp đấu tranh thích hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp, đồng thời động viên nhân dân cả nước giành thắng lợi

I Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với thắng lợi của cách mạng 1.Quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Vladimir Ilych Lenin là người sáng lập và dẫn dắt Đảng Bônsêvích Nga tiến đến

sự thắng lợi vang dội và hào hùng của Cách mạng Tháng Mười, tạo một sự cổ vũ

to lớn đối với giai cấp công nhân trên toàn thế giới Sự kế thừa và đóng góp phát triển chủ nghĩa Mác của Lênin thể hiện qua các luận điểm chính sau: Một là, trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin nhấn mạnh rằng : Đảng luôn luôn giữ vai trò lãnh đạo trong hệ thống chính trị chuyên chính của giai cấp vô sản Thiếu đi vai trò thiêng liêng và cao quý ấy của Đảng, cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân lao động nói riêng và của giai cấp vô sản nói chung chắc chắn sẽ không thể thành công.Hai là, về vấn đề thành lập nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Lênin khẳng định rằng, bộ máy nhà nước phải do giai cấp vô sản đứng đầu và trực tiếp điều hành là tiên quyết để xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ba là, khi tiến hành xây dựng chế độ mới, xã hội chủ nghĩa, phải tật hợp toàn bộ lực lượng quần chúng nhân dân.V.I Lênin đã từng tuyên bố: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga” Tổ chức những người cách mạng mà Lênin nói đến đó là “một đảng kiểu mới, thực sự cách mạng và thực sự cộng sản" Bởi theo Người “chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm tất cả những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ; nếu nó biết gắn liền toàn bộ với cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình.”

Trang 4

2 Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiếp thu những lý tưởng mang hàm ý sâu sắc từ V.I Lê-nin và học tập những điểm mạnh của Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng người thanh niên cộng sản Nguyễn

Ái Quốc không sao chép hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Người tiếp thu những tinh hoa tinh túy nhất của chủ nghĩa, đồng thời thêm thắt và sửa đổi sao cho hợp với tình hình nước ta lúc bây giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác -Lê-nin là “cẩm nang thần kỳ” nhưng Người chưa từng quá lạm dụng nó mà thậm chí còn luôn luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng một cách sáng tạo cái "cẩm nang thần kỳ" đó Trong cuộc phỏng vấn với báo Nhân đạo (L'Humanite') vào ngày 15-7-1969, Người khẳng định: "Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà không chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lê-nin - chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lê-nin" Đứng trước thực tiễn phát triển đất nước, trong bối cảnh thế giới đang biến động sâu sắc và mãnh liệt, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vẫn bao hàm những ý nghĩa cực kì quan trọng và thiết thực

II Sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945

1 Bối cảnh lịch sử giai đoạn 1939-1945

1.1 Tình hình thế giới

Ngày 1-9-1939,chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Phát xít Đức lần lượt chiếm các nước châu Âu Đế quốc Pháp lao vào vòng chiến Chính phủ Pháp đã thi hành biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa, mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật

Tháng 6- 1940, Đức tấn công Pháp Chính phủ Pháp đầu hàng Đức Ngày

22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ khi Phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ

do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu

1.2 Tình hình trong nước

Chiến tranh thể giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông Dương

và Việt Nam Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch thu tài sản của các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người Trong thực tế, ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn

Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương

Trang 5

Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng sơn

và đổ bộ vào Hải Phòng Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật Từ đó, nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp -Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc ta và đế quốc, phát xít Pháp — Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết

2 Lãnh đạo về mặt đường lối

Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra ( 1- 9- 1939), với tầm nhìn chiến lược đúng đắn, Đảng đã nhận đinh: “ Nếu như chiến tranh thế giới lần thứ nhất đẻ ra một Liên xô thì chiến tranh lần này đẻ ra nhiều Liên xô, ta cần tích cực chuẩn bị về mọi mặt, đón đợi thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền” Trên cơ sở nhận thức sáng suốt đó, Đảng đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đưa nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu Chủ trương này của Đảng từng bước được hoàn chỉnh sau qua ba hội nghị Ban chấp hành TW Đảng : Hội nghị TW lần thứ 6 (11-1939) ; Hội nghị cán bộ Đảng (11-1940) ; Hội nghị TW lần thứ 8 (5-1941) Các Hội nghị này đã giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản sau :

Thứ nhất, xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt của xã hội Việt nam lúc này

là giữa nhân dân ta với bọn đế quốc Nhật – Pháp phải tập trung lực lượng đánh đổ chúng, giành chính quyền, bởi vì dưới hai tầng áp bức Nhật-Pháp, “ quyền lợi tất

cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”

Thứ hai, về mối quan hệ dân tộc - giai cấp Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng liên

quan đến sự thành bại của cách mạng Vấn đề này nếu được giải quyết đúng đắn, khoa học thì sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy cách mạng tiến lên không ngừng, còn giải quyết không đúng sẽ gây tác hại to lớn cho phong trào cách mạng nước nhà Với kinh nghiệm thu được qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng đã tự mình vượt lên và có nhận thức mới rất đúng đắn : "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"

Thứ ba, mối quan hệ dân tộc - dân chủ ( giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống

phong kiến) Vấn đề này Đảng ta chỉ rõ: Đây là 2 nhiệm vụ chủ yếu có quan hệ mật thiết với nhau trong cách mạng dân tộc, dân chủ Tuy nhiên trong điều kiện chiến tranh cần phải tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc Đảng chỉ rõ: "Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại, không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp dân tộc giải phóng, vậy thì cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng".“Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc”.“Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết” Khẩu hiệu

“cách mạng ruộng đất” phải tạm gác và thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền

Trang 6

lợi dân tộc chia cho dân cày, chia lại ruộng đất công Như vậy trong khi giải quyết mối quan hệ dân tộc – dân chủ lúc này Đảng đã đặt nhiệm vụ dân tộc ( chống đế quốc) lên hàng đầu

Thứ tư, quan hệ dân tộc - quốc tế Đảng chỉ rõ: chiến tranh lần này sẽ tạo điều kiện

để cách mạng nhiều nước thành công, Đảng và nhân dân ta cần phải tranh thủ mọi

sự giúp đỡ quốc tế (với Mỹ) và tích cực, chuẩn bị mọi mặt để khi tình hình quốc tế thuận lợi kịp thời khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần: muốn người giúp cho trước hết mình phải tự giúp mình Phân tích tình hình lúc này lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo năm ‘‘bốn lăm cách mạng thành công’’ Đảng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong từng nước Đông Dương, thi hành chính sách ‘‘dân tộc tự quyết ’’ của Lê nin và thành lập ở mỗi nước Đông dương một Mặt trận riêng trực tiếp lãnh đạo cách mạng mỗi nước

Thứ năm, chủ trương ra sức xây dựng lực lượng để chuẩn bị khởi nghĩa giành

chính quyền, coi khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm Chủ trương xây dựng, củng cố, phát triển mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp lực lượng chống đế quốc và tay sai (thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế , Mặt trận Việt minh…) Nêu lên phương pháp giành chính quyền: khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc, bằng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu trên tinh thần:

đem sức ta mà giải phóng cho ta; dù phải hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

Thứ sáu, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam

dân chủ cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung

cả toàn thể dân tộc” ;‘‘chính phủ dân chủ cộng hòa” Như vậy, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (3- 2- 1930) đến Luận cương chính trị tháng 10 -1930 và các Hội nghị Trung ương trong các giai đoạn 1930 – 1935; 1936 – 1939; 1939 – 1945 nhất là Hội nghị Trung ương 8 ( tháng 5 - 1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đường lối đấu tranh của Đảng được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh, góp phần quyết định vào thắng lợi của công cuộc giành chính quyền, làm nên thành công vĩ đại của cách mạng tháng 8 – 1945

3 Lãnh đạo về tổ chức thực hiện

Xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng cách mạng

Thắng lợi của cách mạng không tự đến, phải chuẩn bị và giành lấy nó Ngay từ khi mới ra đời, với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ lực lượng và sức mạnh của cả dân tộc, làm nên một cao trào cách mạng rộng lớn trong phạm vi cả nước, huy động đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức đấu tranh phong phú đa dạng, làm rung chuyển trận địa của chủ nghĩa đế quốc ở nông thôn Lực lượng chính trị được tạo ra từ đó - Cao trào cách mạng 1930-1931

Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ (1/9/1939), Đảng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế quốc và bọn Việt gian tay sai để giải phóng dân tộc lên hàng đầu Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) xác định: “Cần tiếp tục lợi dụng khả năng hoạt động công khai, nửa công khai để tranh thủ quần

Trang 7

chúng bằng cách xây dựng các tổ chức hợp pháp đơn giản, đồng thời lập công hội, nông hội, thanh niên phản đế, phụ nữ phản đế hoạt động bí mật nhằm vào mục đích

dự bị những điều kiện bước tới bạo động giành chính quyền” Đến tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương 7 nhận định một cao trào cách mạng sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để giành lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) và xây dựng căn

cứ địa cách mạng; quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỹ vì chưa đủ điều kiện giành thắng lợi

Đặc biệt, cuối năm 1940, đầu năm 1941, trước những chuyển biến mới của tình hình trong nước và trên thế giới, từ xu thế phát triển của phong trào quần chúng và nhu cầu của cách mạng, Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) chủ trương tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm tập hợp tất cả mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi đảng phái, mọi thành phần dân tộc, mọi cá nhân, tất cả những ai có tinh thần cách mạng, yêu nước, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn đế quốc Pháp, phát xít Nhật cùng bè lũ tay sai của chúng Hội nghị quyết định thành lập “Việt Nam độc lập đồng minh” (Việt Minh) thay thế cho “Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương” Hội nghị nêu rõ, trước hết phải mở rộng và củng cố các tổ chức chính trị của quần chúng như: “Hội công nhân cứu quốc”,“Hội nông dân cứu quốc”,“Đoàn thanh niên cứu quốc”,“Hội phụ nữ cứu quốc”,“Hội phụ lão cứu quốc”… tại khắp các địa phương Cũng tại Hội nghị này, Trung ương Đảng ra nghị quyết thành lập các đội tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu (tổ du kích) làm cơ sở cho đấu tranh ở địa phương, cũng như Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước Tháng 12/1941, Hồ Chí Minh thành lập Đội vũ trang Cao Bằng, tự tay soạn thảo “Mười điều kỷ luật” và những nguyên tắc cơ bản xây dựng quân đội

Khi phong trào cách mạng phát triển, với chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang

ba thứ quân, nhằm đẩy mạnh hình thức đấu tranh quân sự, tháng 12/1944, Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”: Chọn lọc trong số hàng ngũ du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực Ngay sau khi ra đời, đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng đã đánh thắng liên tiếp hai trận

ở Phai Khắt (ngày 25/12/1944) và Nà Ngần (ngày 26/12/1944) thuộc tỉnh Cao Bằng Phát huy thắng lợi đầu tiên, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, kết hợp chính trị và quân sự, xây dựng cơ sở cách mạng, góp phần củng cố và mở rộng khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng quần chúng trong cả nước

Xây dựng căn cứ địa

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như nhiều học giả quân sự trên thế giới đều cho rằng, hậu phương - căn cứ địa cách mạng giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Đặc biệt, khi cách mạng phát triển chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền, việc xây dựng căn cứ địa để phát triển lực lượng đấu tranh trở thành nhiệm vụ cấp bách đối

Trang 8

với những người cộng sản.Từ việc khẳng định vai trò quan trọng của căn cứ địa cách mạng, Đảng chỉ ra những tiêu chí cơ bản để chọn và xây dựng căn cứ địa cách mạng Trước tiên, căn cứ địa phải là một nơi có điều kiện địa lý thuận lợi Cụ thể là địa hình phải hiểm trở, địa thế phải hiểm yếu, thuận lợi cho cách đánh du kích và

mở rộng địa bàn hoạt động ra các vùng lân cận.Sau điều kiện địa lý, căn cứ địa cách mạng phải là nơi có điều kiện về kinh tế Nếu bị địch bao vây, phong toả, thì

có khả năng tự cung cấp đầy đủ những nhu cầu kinh tế cần thiết.Với quan điểm đó,

từ năm 1940 đến năm 1945, Đảng đã tích cực chỉ đạo xây dựng và củng cố các căn

cứ địa cách mạng Hội nghị Trung ương 7 của Đảng (11/1940) chủ trương thành lập các căn cứ du kích, lấy Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm Cuối năm 1940, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh lựa chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa cách mạng Đến Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) quyết định duy trì và phát triển các căn cứ du kích Bắc Sơn, Võ Nhai, đồng thời ra sức củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng Sau khi xây dựng các căn cứ Cao Bằng, Bắc Sơn, Võ Nhai, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã xây dựng được một vùng căn cứ địa Việt Bắc rộng lớn, bao gồm hầu hết các vùng nông thôn thuộc sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, cùng nhiều chiến khu và căn cứ vũ trang khác Đây thực sự là những nơi trọng yếu chỉ đạo quá trình xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, là những trung tâm đầu não lãnh đạo lực lượng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc

Nắm bắt chính xác thời cơ; dũng cảm , kiến quyết, lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa dành chính quyền

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đang họp và nhanh chóng đưa ra những nhận định về thời cơ khởi nghĩa đang đến rất gần: “những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi”; và ra Chỉ thị: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Đảng quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (14 và 15/8/1945) quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương

Ngày 16/8/1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “…Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…chúng ta không thể chậm trễ” Cả dân tộc ta theo tiếng gọi của Người, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong gần một tháng, tất cả các địa phương trong cả nước đã giành được thắng lợi, thành lập chính quyền nhân dân Có thể khẳng định, thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám năm

1945 có vai trò to lớn của nhân tố khách quan Bởi nếu không có cuộc đảo chính của Nhật, không có thắng lợi của lực lượng đồng minh chống phát xít để Nhật đầu hàng vô điều kiện thì cách mạng Việt Nam sẽ không thể dễ dàng thành công Nhưng dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến đâu đi chăng nữa mà không có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, không dự đoán đúng thời cơ và kịp thời chớp lấy thời cơ phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, thì cuộc khởi nghĩa cũng

Trang 9

không thể bùng nổ, hoặc nếu có nổ ra thì cũng dễ thất bại Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ (từ ngày 14 đến 28/8/1945), Cách mạng Tháng Tám đã giành được thắng lợi nhanh, gọn, ít đổ máu Đó là một điển hình về nghệ thuật tạo

và chớp thời cơ trong cách mạng giải phóng dân tộc

Kết quả và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời -Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền

Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa

xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại

vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Có thể khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kết hợp chặt chẽ đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với trí sáng tạo, tinh thần dũng cảm và sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta Kết hợp với các lực lượng dân chủ nói chung trên toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc Vì thời cơ cách mạng xuất hiện như một tất yếu, lịch sử đưa quần chúng đến ngưỡng cửa của khởi nghĩa giành chính quyền rồi trôi đi một cách nhanh chóng Nếu Đảng tiên phong không chuẩn

bị đầy đủ, không kịp thời chớp lấy thời cơ thì dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến đâu cách mạng cũng không nổ ra được

III Nhận thức của bản thân về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1 Bối cảnh lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thực tiễn cho thấy, không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì không có công cuộc đổi mới, không có sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng Cộng sản Việt Nam thì không có được công cuộc đổi mới theo định hướng đúng đắn Sau 35 năm thực hiện công

Trang 10

cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu toàn diện, to lớn và quan trọng Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bộ mặt đất nước, đời sống của nhân dân thật sự thay đổi; dân chủ được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường.“Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước

Nếu như giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4%, thì giai đoạn 1996-2000, tốc độ tăng GDP đạt 6,8% Mặc

dù năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng tốc

độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới Quy mô GDP tăng gấp 2,4 lần, từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD vào năm 2020 GDP bình quân đầu người tăng từ 1.331 USD năm 2010 lên khoảng 2.750 USD năm 2020 Trong 10 năm trở lại đây, thị trường xuất khẩu được

mở rộng theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa đến hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ động từng bước chuyển dịch sang các nước có trình độ phát triển cao và cơ cấu hàng hóa nhập khẩu có tính bổ sung cho

cơ cấu hàng hóa trong nước.Việt Nam hiện là một trong 10 nền kinh tế có độ mở cửa thị trường lớn nhất thế giới với tỷ trọng xuất nhập khẩu/GDP tăng liên tục qua các năm (từ 136% năm 2010 lên xấp xỉ 200% vào năm 2019).Trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 11 tháng năm 2020 vẫn đạt mức xuất siêu kỷ lục lên tới 20,1 tỷ USD

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, đẩy mạnh hợp tác và phát triển với các nước trên trường quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như APEC, ASEAN, Liên Hợp Quốc, … mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội về giao lưu kinh tế, chính trị, xã hội đối với các quốc gia trên thế giới

Năm 2020, dư luận quốc tế đã đánh giá rất cao công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 tại Việt Nam, ngay cả những ngày đầu năm 2021, mặc dù tại một số địa phương lại xuất hiện những ca nhiễm Covid-19 mới, nhưng các chuyên gia, học giả và truyền thông quốc tế vẫn bày tỏ tin tưởng về vai trò lãnh đạo Đảng và tin rằng, Việt Nam sẽ tiếp tục vượt qua được đại dịch, gặt hái thành công trong trạng thái “bình thường mới”.Ba làn sóng dịch bệnh Covid-19 đã diễn ra tại Việt Nam từ đầu năm 2020 đến nay đã được Đảng và Nhà nước, Chính phủ cùng các cấp các ngành, các địa phương hành động kịp thời và kiểm soát tình hình các vùng dịch tốt

Ngày đăng: 12/03/2022, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w