• Được thầy thuốc chuyên khoa chẩn đoán và chỉ định một phác đồ điều trị lao đầy đủ dựa trên 1 lâm sàng, 2 bất thường nghi lao trên Xquang phổi và 3 thêm 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: HIV
Trang 2ĐẠI CƯƠNG BỆNH LAO
2
Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi
khuẩn lao (Mycobacterium
tuberculosis) gây nên
Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ
phận của cơ thể, trong đó lao phổi là
thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 - 85%
tổng số ca bệnh) và là nguồn lây chính
cho người xung quanh.
Trang 3DỊCH TỄ HỌC BỆNH LAO
- Theo WHO năm, trong năm 2010 có khoảng 8,8 triệu trường hợp lao mới được phát hiện
- Việt Nam đứng thứ 14/30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao
thuốc cao nhất trên toàn cầu
- Mỗi năm 130.000 người mắc lao mới, trong đó có 7000
người mắc lao đồng nhiễm HIV, hơn 5000 bệnh nhân lao đa
kháng thuốc, đáng lo ngại là có gần 6% là lao siêu kháng
thuốc Số người mắc lao phổi chiếm hơn 1/2
- Tuy nhiên, theo báo cáo WHO global report 2016, chỉ có
79% số người mắc được phát hiện, tư vấn, điều trị và quản lý, 21% còn lại vẫn tồn tại trong cộng đồng mà không được điều trị, khống chế nguồn lây
Trang 5Nhóm sinh sắc tố trong bóng tối (Scotochromogens) M scrofulaceum, M szulgai, M xenopi, M celatum, M gordonae, M
flavescens
Nhóm không sinh sắc tố (Nonphotochromogens) M avium-intracellulare complex, M paratuberculosis, M terrae, M
shimoidae.
Nhóm vi khuẩn sinh trưởng nhanh (Rapid growers) M fortuitum, M chelonae, M abscessus, M thermoresistible.
5
Trang 6MYCOBACTERIUM BOVIS
- Lao bò: bệnh do VK có tên Mycobacterium
bovis Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu cho trâu bò
nhưng cũng có thể gây bệnh cho người (nhất là trẻ em), heo, dê, cừu, mèo và các động vật hữu
Trang 7- Tỷ lệ đột biến kháng thuốc cao
- Vi sinh vật nội bào : ảnh hưởng đến
thực bào đơn nhân (đại thực bào)
- Vi sinh kỵ nước và kháng acid
Trang 8KHÁI NIỆM
Lao nguyên phát:
- Là tổng hợp các biểu lộ, lâm sàng và sinh học
của một cơ thể sau lần tiếp nhiễm đầu tiên trực
khuẩn lao.
- Thường gặp ở trẻ em và thiếu niên.
Lao thứ phát:
- Là giai đoạn hai của bệnh lao, xảy ra khi có sự
mất cân bằng giữa khả năng gây bệnh của trực
khuẩn lao và sức đề kháng của cơ thể.
- Đa số các trường hợp lao phổi ở người lớn là do
trực khuẩn lao từ tổn thương sơ nhiễm còn tồn
Trang 9LÂY TRUYỀN
Nguồn lây:
- Tiếp xúc với những người bị lao ho khạc, đặc
biệt có AFB trong đàm, tỷ lệ lây lao cao.
- Trẻ em dễ bị lây lao nhưng ít khi là nguồn lây.
Đường lây:
- Hô hấp: do hít phải chất tiết có chứa BK khi
khạc, hắt hơi, nói chuyện
- Tiêu hoá: do sử dụng thực phẩm có chứa AFB
như sữa không được tiệt trùng…
- Da niêm: VK xâm nhập qua những vùng da bị
tổn thương như đứt hay dập nát và gây bệnh 9
Trang 10YẾU TỐ NGUY CƠ CAO MẮC LAO
- Người nhiễm HIV.
- Người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, đặc biệt trẻ
em.
- Người mắc các bệnh mạn tính: loét dạ dày-tá
tràng, đái tháo đường, suy thận mạn,
- Người nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá, thuốc lào.
- Người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài
Trang 11LÂM SÀNG BỆNH LAO
Hỏi bệnh sử:
- Đã chủng BCG chưa ?
- Có tiền căn lao sơ nhiễm trước đây
- Tiền căn lao cũ trước đây, điều trị lần trước
như thế nào.
- Các bệnh phối hợp như: tiểu đường, cắt dạ
dày, đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch,
bệnh gây suy giảm miễn dịch, viêm gan, suy
thận…
- Nguồn lây
Trang 12Các triệu chứng lâm sàng :
Ho: ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra
máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất.
- Ho: kích thích và liên tục, ban đầu có thể ho khan khi bệnh tiến triển và hiện tượng bã đậu hóa xảy ra tạo hang trong nhu mô phổi, bệnh nhân có thể ho có đàm.
- Ho ra máu : khi sang thương lao xâm lấn làm vỡ mạch máu gây ho ra máu, ít khi bệnh lao gây tử vong do ho ra máu
lượng nhiều Có 4 mức độ ho ra máu :
Nhẹ (ho khạc đàm vướng máu đến dưới 50ml/24 giờ).
Vừa (ho ra máu từ 50-200 ml/24 giờ)
Nặng ( ho ra máu trên 200 ml/24 giờ)
Rất nặng hay ho ra máu sét đánh ( trên 1000 ml/24 giờ).
Trang 13- Mệt mỏi : khởi phát dần dần cho đến sau vài tuần bệnh nhân hầu như chỉ muốn
nghỉ ngơi không họat động.
- Sốt : thường nhẹ, hiếm khi cao trên 40°C , khuynh hướng thấp vào buổi sáng và
cao vào buổi chiều.
- Mất cân : dần dần nhưng nếu không điều trị sẽ suy sụp nhanh trong vòng vài
tháng Bệnh nhân có thể mất 50% trọng
Trang 14- Đổ mồ hôi nhiều : Ra mồ hôi “trộm”
ban đêm, có thể tiếp tục vài tháng sau
khi bắt đầu điều trị.
- Khó thở : thường giai đoạn nặng khi
hơn 20% nhu mô phổi bị hủy họai
- Đau ngực mơ hồ: có thể do tổn thương
nằm bề mặt phổi.
- Triệu chứng thực thể: nghe phổi có thể
có tiếng bệnh lý (ran ẩm, ran nổ, ).
Trang 15CÁC BỆNH CẢNH ĐẶC TRƯNG, HIẾM GẶP
TRONG LAO NGUYÊN PHÁT
- Lao ban: sốt cao có thể lên 40ºC, sốt riêng rẽ với lưỡi sạch Cấy máu thường âm tính.
- Hồng ban nút: các nút hồng ban nằm ở sâu trong
da và lớp dưới da, khu trú mặt trong cẳng chân, nằm sát bờ xương, thường kèm sốt đau nhức
xương khớp, cần chẩn đoán phân biệt với
sarcodosis và nhiễm streptococcus hay một dị
Trang 16X QUANG PHỔI THẲNG
Lao nguyên phát: tổn thương lao có thể gặp bất
kì vùng nào của phổi nhưng thường gặp ở thuỳ
trên khác với trong lao thứ phát thường gặp ở
phân thuỳ đỉnh và sau của thuỳ trên.
Hình ảnh kinh điển nhất là phức hợp nguyên
thủy gồm 3 thành phần:
- Hạch trung thất phì đại
- Tổn thương nhu mô vùng ngoại biên khó thấy
trên X quang ngực.
Hai thành phần trên nối với nhau bằng đường
bạch huyết giống hình quả tạ 16
Trang 17- Phì đại hạch trung thất: trong đó 85% trường hợp bị phì đại hạch 1 bên, 15% còn lại bị cả 2 bên.
Nghi ngờ có phì đại hạch rốn phổi khi trên X-quang
thẳng thấy hình ảnh rốn phổi bất thường (một bên rốn to hơn hay đậm hơn bên kia, rốn mất hình cong lõm bình thường)
Hạch phì đại ở rốn phổi hoặc cạnh khí quản thường có
bờ ngoài rõ, dạng đa cung (phân biệt với mạch máu: bờ trơn láng, liên tục, K phế quản trung tâm: bờ không rõ, dạng chân cua hay nhiều gai).
Khi điều trị, hạch trung thất sẽ nhỏ dần cùng với việc
xóa tổn thương nhu mô phổi và sự hồi phục tình trạng
xẹp phổi nếu có Một số trường hợp (36%) sẽ để lại nốt vôi hóa ở rốn phổi.
Trang 19CT SCAN NGỰC
- CT scan có thể xác định khối lượng và mức độ hoại tử của các hạch lao, phát hiện các tổn thương nốt nhỏ ở nhu mô phổi
- Các sang thương trung tâm thùy (centri-lobular),
phân nhánh (tree-in-bud), hang và nốt lớn 5-8mm
đường kính thường gặp nhất trong lao họat tính
Các sang thương xơ, xoắn cấu trúc mạch máu-phế
quản, khí phế thủng, dãn phế quản là những hình
ảnh thường thấy trong lao phổi cũ. 19
Trang 20SOI PHẾ QUẢN
- Chỉ định khi có rối loạn thông khí do hạch chèn ép khí
phế quản, có dò hạch khí phế quản và giải phóng xẹp
phổi do hạch lao chèn ép gây nên tắc nghẽn phế quản
- Trong những trường hợp chẩn đóan khó hay cần chẩn
đoán phân biệt với các bệnh khác
- Soi phế quản sinh thiết tổn thương
- Soi phế quản còn được dùng để tìm AFB qua dịch chải
rửa phế quản phế nang
Trang 21PHẢN ỨNG LAO TỐ (TST)
- Phản ứng lao tố của Mantoux (1908): dùng ống tiêm 1ml tiêm trong da 1/10 ml (1UI) Tuberculine PPDRT 23 Tween 80 vào mặt trước cẳng tay sau khi sát khuẩn bằng cồn
- Đọc kết quả sau 48 – 72h, đo đường kính nốt sẩn cứng theo chiều ngang cánh tay, quầng đỏ xung quanh không quan trọng
- Khi TST = 10mm là ngưỡng dương tính ở Việt Nam
- TST >= 15 hay TST chuyển dương nghĩ nhiều đến lao nguyên phát
- TST (-) trong các tình huống như sau thì không thể loại trừ lao nguyên phát: Những cơ địa suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng, sau sởi, đang dùng Corticoides…
- Hiệu ứng Booster: còn gọi là hiệu ứng tái hoạt động
21
Trang 22XÉT NGHIỆM TÌM VI KHUẨN LAO
- Xét nghiệm đàm tìm vi trùng lao, cần lấy 2 mẫu
đàm.
- Soi lam : độ nhạy 50-60%, độ đặc hiệu >98%, thời
gian có kết quả nhanh 1 ngày
- Cấy – kháng sinh đồ : MT đặc LJ (Lowenstein
Jensen) hay MT lỏng (MGIT: Mycobacterial
Growth Indicator Tube) với độ nhạy là 81%, độ
Trang 23Số lượng AFB Kết quả Phân loại
0 AFB / 100 vi trường Âm tính
Trang 240 AFB/ 1 dòng Âm tính Âm tính
1–29 AFB/ 1 dòng Dương tính Ghi số lượng
AFB cụ thể 30–299 AFB/ 1 dòng Dương tính 1+
Trang 25
Kết quả
Nhuộm ZN (phóng đại 1000 lần)
1 dòng = 2cm = 100VT
Nhuộm huỳnh quang (phóng đại 200 lần)
Trang 26KHUẨN LẠC VI KHUẨN LAO
TRÊN MÔI TRƯỜNG LJ
26
Trang 27- PCR (Polymerase Chain Reaction): dùng để phát hiện
DNA của vi khuẩn lao PCR lao có thể được thực hiện
đối với những bệnh phẩm là đàm, dịch phế quản qua nội
soi, dịch màng phổi, dịch não tủy
- Test Mutiplex PCR, Genotype MTBDRplus (HAIN test)
giúp chẩn đóan sớm lao kháng thuốc và điều trị lao.
- Xpert MTB/RIF : là một test phân tử tự động xác định
lao và kháng RiF Test có khả năng xác định 98,2%
bệnh nhân lao phổi đàm soi trực tiếp dương tính và
72,5% bệnh nhân lao phổi đàm âm Độ đặc hiệu của test
XÉT NGHIỆM TÌM VI KHUẨN LAO
Trang 28CẬN LÂM SÀNG KHÁC
- Công thức máu : thường bạch cầu bình thường hay tăng
nhẹ, thành phần Lymphô tăng Tăng vận tốc lắng máu,
có thể > 5 lần bình thường Có thể có thiếu máu với
hồng cầu, Hct và Hb giảm Nếu lao diễn tiến lâu ngày
xâm lấn vào tủy có thể giảm 3 dòng máu
- Các xét nghiêm máu: glycemie, creatinin/máu, BUN,
SGOT/SGPT, Bilirubin TP/TT/GT, Ion đồ, tổng phân
tích nước tiểu, acid uric
- Xét nghiệm HIV 28
Trang 3737
Trang 3801/03/2006 38
Trang 4130/03/2006 41
Trang 42CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
- Xác định sự có mặt của vi khuẩn lao trong
đàm, dịch phế quản, dịch dạ dày.
- Khi có đủ các triệu chứng lâm sàng, cận
lâm sàng mà không xác định được sự có
mặt của vi khuẩn lao, cần có ý kiến của
thầy thuốc chuyên khoa lao để quyết định
Trang 43- Lao phổi AFB (+): Có ít nhất 1 mẫu đờm hoặc dịch phế quản,
dịch dạ dày có kết quả soi trực tiếp AFB (+) tại các phòng xét
nghiệm được kiểm chuẩn bởi Chương trình chống lao Quốc gia.
- Lao phổi AFB (-): Khi có ít nhất 2 mẫu đàm AFB (-), người
bệnh cần được thực hiện quy trình chẩn đoán lao phổi AFB (-)
(xem phụ lục 2) Người bệnh được chẩn đoán lao phổi AFB (-)
cần thoả mãn 1 trong 2 điều kiện sau:
• Có bằng chứng vi khuẩn lao trong đàm, dịch phế quản, dịch dạ
dày bằng phương pháp nuôi cấy hoặc các kỹ thuật mới như
Xpert MTB/RIF.
• Được thầy thuốc chuyên khoa chẩn đoán và chỉ định một phác
đồ điều trị lao đầy đủ dựa trên (1) lâm sàng, (2) bất thường nghi
lao trên Xquang phổi và (3) thêm 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: HIV
(+) hoặc không đáp ứng với điều trị kháng sinh phổ rộng. 43
Trang 44CHẨN ĐOÁN LAO KHÁNG THUỐC
Các đối tượng nguy cơ mắc lao kháng thuốc:
- Người bệnh lao thất bại điều trị phác đồ II.
- Người nghi lao hoặc người bệnh lao mới có tiếp xúc với người bệnh lao
kháng thuốc.
- Người bệnh lao thất bại điều trị phác đồ I.
- Người bệnh lao không âm hóa đàm sau 2 hoặc 3 tháng điều trị phác đồ I
hoặc II.
- Người nghi lao tái phát hoặc người bệnh lao tái phát (phác đồ I hoặc II).
- Người nghi lao điều trị lại sau bỏ trị hoặc người bệnh lao điều trị lại sau
bỏ trị (phác đồ I hoặc II).
- Người bệnh lao mới phát hiện có HIV (+).
- Các trường hợp khác: bao gồm người nghi lao hoặc người bệnh lao có
tiền sử dùng thuốc lao trên 1 tháng, người nghi lao hoặc người bệnh lao
có tiền sử điều trị lao ở y tế tư nhưng không rõ kết quả điều trị.
- Người bệnh lao mới (HIV âm tính hoặc không rõ). 44
Trang 45 Lâm sàng:
- Người bệnh khi đang điều trị lao nhưng các triệu chứng sốt, ho, khạc đàm không thuyên giảm hoặc thuyên giảm một thời gian rồi lại xuất hiện trở lại với các triệu chứng tăng lên, người bệnh tiếp tục sút cân.
- Tuy nhiên bệnh lao kháng thuốc có thể được chẩn đoán ở người chưa bao giờ mắc lao và triệu chứng lâm sàng của lao đa kháng có thể không khác biệt so với bệnh lao thông thường.
Trang 46 Chẩn đoán xác định lao kháng thuốc:
- Căn cứ vào kết quả kháng sinh đồ hoặc các xét
nghiệm chẩn đoán nhanh được WHO chứng thực
(Hain test, Xpert MTB/RIF…), tiêu chuẩn chẩn
đoán cho các thể bệnh lao kháng thuốc được xác
định như sau:
• Kháng đơn thuốc: Chỉ kháng với duy nhất một
thuốc chống lao hàng một khác Rifampicin.
• Kháng nhiều thuốc: Kháng với từ hai thuốc chống
lao hàng một trở lên mà không cùng đồng thời
kháng với Isoniazid và Rifampicin.
• Đa kháng thuốc: Kháng đồng thời với ít nhất hai
thuốc chống lao là Isoniazid và Rifampicin. 46
Trang 47• Tiền siêu kháng: Lao đa kháng có kháng thêm với hoặc
bất cứ thuốc nào thuộc nhóm Fluoroquinolone hoặc với
ít nhất một trong ba thuốc hàng hai dạng tiêm
(Capreomycin, Kanamycin, Amikacin) (chứ không đồng
thời cả 2 loại thêm)
• Siêu kháng thuốc: Lao đa kháng có kháng thêm với bất
cứ thuốc nào thuộc nhóm Fluoroquinolone và với ít nhất
một trong ba thuốc hàng hai dạng tiêm (Capreomycin,
Trang 48- Lao kháng Rifampicin: Kháng với Rifampicin, có hoặc
không kháng thêm với các thuốc lao khác kèm theo (có
thể là kháng đơn thuốc, kháng nhiều thuốc, đa kháng
thuốc hoặc siêu kháng thuốc)
- Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, các chủng đã kháng với
Rifampicin thì có tới trên 90% có kèm theo kháng
Isoniazid, vì vậy khi phát hiện kháng Rifampicin người
bệnh được coi như đa kháng thuốc và thu nhận điều trị
Trang 49- Mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới
dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng.
- Tái phát: người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác
định là khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với
kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn.
- Thất bại điều trị, khi người bệnh có:
• AFB(+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị,
AFB(+),
trong quá trình điều trị với thuốc chống lao hàng 1.
- Điều trị lại sau bỏ trị: người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2
tháng trở lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với
kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn.
PHÂN LOẠI THEO TIỀN SỬ ĐIỀU TRỊ LAO
49
Trang 50- Lao phổi AFB(+) khác: là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước
đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được
phác đồ và kết quả điều trị hoặc không rõ tiền sử điều trị, nay chẩn
đoán là lao phổi AFB(+).
- Lao phổi AFB (-) và lao ngoài phổi khác: Là người bệnh đã điều
trị thuốc lao trước đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng
không xác định được phác đồ và kết quả điều trị hoặc được điều trị theo phác đồ với đánh giá là hoàn thành điều trị, hoặc không rõ
tiền sử điều trị, nay được chẩn đoán lao phổi AFB(-) hoặc lao
ngoài phổi.
Chuyển đến: người bệnh được chuyển từ đơn vị điều trị
khác đến để tiếp tục điều trị (lưu ý: những bệnh nhân này không
thống kê trong báo cáo “Tình hình thu nhận bệnh nhân lao” và
“Báo cáo kết quả điều trị lao”, nhưng phải phản hồi kết quả điều trị cuối cùng cho đơn vị chuyển đi). 50
Trang 51- Lao đa kháng mới: bệnh nhân lao đa kháng chưa có tiền sử
điều trị lao hoặc mới điều trị lao dưới 1 tháng (còn có thể gọi
là lao đa kháng nguyên phát)
- Tái phát: là bệnh nhân đã có tiền sử điều trị lao trước đây,
được kết luận khỏi bệnh hay hoàn thành điều trị, nay được
chẩn đoán là lao đa kháng
- Thất bại công thức I: bệnh nhân lao đa kháng có tiền sử là
bệnh nhân lao thất bại điều trị công thức I trước đây
- Thất bại công thức II: bệnh nhân lao đa kháng có tiền sử là
bệnh nhân lao thất bại điều trị công thức II trước đây
- Điều trị lại sau bỏ trị: là bệnh nhân đã có tiền sử điều trị lao
trước đây, được kết luận là bỏ trị, nay được chẩn đoán là lao
đa kháng
- Lao đa kháng khác: là bệnh nhân lao đa kháng không rõ kết
quả điều trị trước đây
Trang 52Phân loại BN theo tình trạng nhiễm HIV
- Người bệnh lao/HIV(+): Người bệnh lao có kết quả xét
nghiệm HIV(+)
- Người bệnh lao/HIV(-): Người bệnh lao có kết quả xét
nghiệm HIV(-), các người bệnh lúc đầu kết quả HIV(-) nhưng sau đó xét nghiệm lại có kết quả HIV dương tính cần được
phân loại lại
- Người bệnh lao không rõ tình trạng HIV: Người bệnh lao
không có kết quả xét nghiệm HIV, những người bệnh này sau khi có kết quả xét nghiệm HIV cần được phân loại lại 52