1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

08 sốt mò ( sốt do o tsutsugamushi) word

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sốt Mò
Tác giả ThsBs. Nguyễn Anh Tú
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Bài Giảng
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh sốt mò là bệnh sốt phát ban do Orientia tsutsugamushi gây ra và lây truyền từ động vật gặm nhấm sang người qua vết cắn của ấu trùng mò Trombicula.. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt

Trang 1

SỐT MÒ

ThsBs Nguyễn Anh Tú MỤC TIÊU

Kiến thức

1 Trình bày được đặc điểm tác nhân gây bệnh sốt mò

2 Trình bày đặc điểm dịch tễ học của bệnh sốt mò

3 Trình bày được sinh bệnh học của sốt mò

4 Mô tả được các biểu hiện lâm sàng của bệnh sốt mò

5 Nêu được các xét nghiệm chẩn đoán bệnh sốt mò

Kỹ năng

6 Biện luận chẩn đoán một trường hợp sốt mò dựa vào dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm

Thái độ

7 Tích cực chủ động trong phòng ngừa bệnh sốt mò cho cá nhân và cộng đồng

1 ĐẠI CƯƠNG

Bệnh sốt mò (hay sốt bờ bụi) đã được Hippocrates mô tả vào năm 460 trước công nguyên Sau này bệnh được xếp vào nhóm bệnh do Rickettsia, một người Mỹ đã nghiên cứu và sau ông chết vì bệnh, đó là Howard Taylor Ricketts (1871 -1910) Hiện nay, do cấu trúc di truyền có

sự sai biệt với nhóm các rickettsia, nên được xếp vào một nhóm riêng, được gọi là Orientia

tsutsugamushi và cũng thuộc họ Rickettsia.

Bệnh sốt mò là bệnh sốt phát ban do Orientia tsutsugamushi gây ra và lây truyền từ động vật

gặm nhấm sang người qua vết cắn của ấu trùng mò (Trombicula) Bệnh có đặc điểm lâm sàng

là sốt kéo dài, có vết loét da do côn trùng đốt, phát ban dạng sẩn, viêm hạch và đáp ứng tốt với kháng sinh thuộc nhóm cycline và macrolide Bệnh diễn tiến từ nhẹ đến nặng, có thể gây tử vong

Đây là một bệnh phổ biến ở nông thôn và rừng núi của nhiều nước trên thế giới, bệnh có liên quan đến các hành vi tiếp xúc với đất, bụi rậm như làm ruộng, làm rẫy, làm vườn, săn bắn, … Hiện nay, bệnh vẫn còn lưu hành ở nước ta nhưng chẩn đoán dễ bị bỏ sót do không để ý đến yếu tố dịch tễ, không quan sát kỹ nốt loét và do biểu hiện lâm sàng rất dễ chẩn đoán nhầm với bệnh khác

2 TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Orientia tsutsugamushi được tác giả Hayashi tìm thấy lần đầu tiên ở Nhật Bản năm

1920 với tên gọi Theileria tsutsugamushi thuộc nhóm động vật nguyên sinh (Protozoa), đến năm 1930 Nagayo và cộng sự đã đề xuất một tên khác là Rickettsia orientalis,là người đầu tiên chứng minh Rickettsia này sống trong nội bào, năm 1931 Ogata đề xuất đổi tên thành

Rickettsia tsutsugamushi được chấp nhận và sử dụng đến 1995 thì Akira Tamura và cộng sự

tìm thấy sự khác biệt trong cấu trúc di truyền RNA so với các Rickettsia khác nên đề xuất tên

mới là Orientia tsutsugamushi với Orientia như là một chi mới thuộc họ Rickettsia.

Trang 2

O tsutsugamushi có kích thước 600 × 300nm, nhỏ hơn vi khuẩn thường Hình dạng

chúng khác nhau, tùy điều kiện ký sinh và giai đoạn phát triển, chúng có thể hình que ngắn, hoặc dạng cầu trùng xuất hiện đơn độc, xếp đôi, chuỗi ngắn, hình sợi… O tsutsugamushi được nhận diện rõ nhất bằng cách nhuộm Giemsa, bắt màu tím, hai đầu sậm, ở giữa nhạt, giống hình vi trùng dịch hạch nhưng kích thước nhỏ hơn

O tsutsugamushi có nhiều type huyết thanh khác nhau Hiện đã có hơn 30 chủng huyết

thanh được khẳng định, trong đó 3 chủng cổ điển là Karp, Kato và Gilliam

O tsutsugamushi ký sinh bắt buộc trong tế bào và chỉ nuôi cấy được trong tế bào O tsutsugamushi giống các Rickettsia khác về tính chất vật lý nhưng lại khác về cấu trúc kháng

nguyên, vectơ truyền bệnh và ký chủ; Có tính kháng nguyên đặc hiệu nên không gây miễn

dịch chéo đối với các loài Rickettsia khác và virus O tsutsugamushi có chung một vài kháng

nguyên với vi trùng Proteus vulgaris dòng OX-K; vì vậy huyết thanh bệnh nhân nhiễm bệnh sẽ có kháng thể kết tụ mạnh với Proteus vulgaris dòng OX-K Đặc tính này dùng trong

phản ứng huyết thanh chẩn đoán bệnh sốt mò O tsutsugamushi thường bị tiêu diệt nhanh bởi

nhiệt, sự khô ráo và thuốc sát trùng Tuy nhiên phân khô của loài tiết túc nhiễm bệnh có thể gây lây nhiễm vi sinh vật trong nhiều tháng ở nhiệt độ thường

3 DỊCH TỄ

3.1 Tình hình dịch tễ

Bệnh sốt mò đã được biết đến thừ thời cổ đại Năm 313 trước công nguyên, bệnh được mô tả đầu tiên ở Trung Quốc Sốt mò là một bệnh hay gặp ở vùng nông thôn của các quốc gia trong vùng dịch tễ, được giới hạn trong một tam giác bởi Bắc Nhật Bản, Đông Úc, Đông Nga bao gồm bán lục địa Ấn Độ, Tây Nga, Trung Quốc và miền Viễn Đông Tổng cộng có khoảng một

tỷ người sống trong vùng dịch lưu hành và một triệu người mắc bệnh hàng năm

Ở Thái Lan và ở Lào, bệnh sốt mò cùng với nhiễm Leptospira và sốt phát ban ở chuột (murine typhus) là một trong ba nguyên nhân sốt do nhiễm trùng thường gặp nhất ở các bệnh nhân nhập viện

Hình 1 O tsutsugamushi tăng sinh trong đại thực bào ở bụng chuột

(Nhuộm Giemsa) Nguồn:

www.fujitahu.ac.jp/~tsutsumi/case/case168.htm

Trang 3

Tại Việt Nam, năm 1942 bệnh đã xảy ra trong lính Pháp, lính Việt Nam đóng ở Sơn La có 37 trường hợp mắc bệnh, từ năm 1960- 1965, mỗi năm có 30-40 ca sốt mò ở Tây Bắc, đặc biệt ở Sơn La, Mộc Châu

Trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, sốt mò là nguyên nhân đứng hàng thứ hai hoặc thứ ba trong các nguyên nhân gây sốt của lính Mỹ

Theo một nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai Hà Nội thống kê có 251 trường hợp bị sốt mò từ năm 2001 đến năm 2003 chiếm khoảng 3,5% trường hợp nhập viện Trong đó Bắc Trung Bộ

và Tây Bắc chiếm tỷ lệ mắc cao hơn so với Hà Nội và vùng ven biển phía đông

Từ năm 2003 đến 2006 có 62 trường hợp sốt mò nhập viện tại bệnh viên Trung Ương Huế Tại bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Tp Hồ Chí Minh thống kê từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014 có 76 trường hợp sốt mò, phân bố chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (35,5%), miền Trung Nam Bộ (26,3%), miền Đông Nam Bộ (25%) và Tây Nguyên (6,6%)

3.2 Yếu tố địa lý, khí hậu thuận lợi

Vùng rừng núi có cây cối rậm rạp, đồng ruộng, vườn cây, đất mùn ẩm ướt, hang hốc núi đá hay những nơi như hai bên bờ suối, dọc bờ biển…

Hình 2 Phân bố địa lý của bệnh sốt mò, (nguồn Didier Raoult (2010), “Scrub Typhus”,

Mandell, Douglas and Bernett’s Principles and Practice of Infectious diseases)

Trang 4

Nơi có nhiều thú vật mang mầm bệnh, đặc biệt là loài gặm nhấm Nơi có nhiều trung gian truyền bệnh, con mò Trombicula Khí hậu ẩm và ấm thích hợp cho ve mò và ấu trùng phát triển

Mật độ của ấu trùng mò thay đổi theo mùa, cao nhất là vào các tháng mùa mưa ở nước nhiệt đới và các tháng có nhiệt độ cao ở những vùng khí hậu ôn đới Sự thay đổi về số lượng, mật

độ của quần thể ấu trùng mò ảnh hưởng đến tần suất mắc sốt mò ở vùng bệnh lưu hành

Tại Việt Nam, thời điểm thích hợp cho bệnh bộc phát vào khoảng tháng 6-9 trong năm

3.3 Đối tượng nguy cơ

Tất cả các lứa tuổi đều có thể bị sốt mò

Những người vào rừng lấy gỗ, làm rẫy, làm vườn, làm ruộng, làm đường xá, khai hoang, săn bắn, các đơn vị bộ đội hành quân là những đối tượng nguy cơ cao bị mò đốt Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người Đây là yếu tố dịch tễ quan trọng giúp định hướng chẩn đoán bệnh sốt mò

Bệnh có khả năng lây nhiễm cao khi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, do đó kỹ thuật nuôi cấy được thực hiện trong phòng thí nghiệm có tủ sinh học an toàn ở cấp độ 2

3.4 Nguồn bệnh

3.4.1 Loài gặm nhấm, nhất là chuột, là ký chủ chính của bệnh Chuột bị nhiễm bệnh là do ấu trùng mò đốt

3.4.2 Con mò (Trombicula)

Con mò phần lớn thuộc Leptotrompidium spp, là nguồn bệnh thứ yếu Mò là một loại tiết túc

nhỏ, thân đỏ cam, ký sinh trên chuột, đẻ trứng Chu kỳ cuộc sống của con mò gồm 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng, con trưởng thành Ấu trùng chính là trung gian truyền bệnh, ấu trùng mò suốt đời chỉ hút máu một lần Mò trưởng thành không hút máu người và các động vật khác, vì vậy ấu trùng đã hút máu vật chủ có mầm bệnh chưa có khả năng truyền bệnh ngay,

mà mà đến đời sau mới có khả năng truyền bệnh

Các loài mò có khả năng truyền bệnh là Leptotrompidium palladium, Leptotrompidium

delhiehsis, Leptotrompidium scutellare, Leptotrompidium akamushi.

Hình 3 Con mò Leptotrompidium spp, (nguồn AFRIMS Bangkok)

Trang 5

3.4.3 Cách thức lây truyền

Mò đẻ trứng, trứng nở dưới đất mùn thành ấu trùng; ấu trùng bò lên ngọn cỏ, khi gặp dịp thuận tiện sẽ bám vào thú vật đi qua để hút máu Khi hút máu no, ấu trùng sẽ rơi xuống đất để

tiếp tục trưởng thành Nếu ấu trùng mò tình cờ hút máu thú vật đã mang mầm bệnh O.

tsutsugamushi thì khi trưởng thành sẽ sinh sản một thế hệ ấu trùng mò có mang mầm bệnh và

là vectơ truyền bệnh cho người

Ấu trùng mò thường chèn ống hút ở miệng vào nang lông hay lỗ chân lông, vị trí hay đốt là vùng da mềm, có nếp nhăn như nách, khuỷu, đầu gối…, nơi ít để ý tới

Bệnh không lây truyền từ người qua người

4 SINH LÝ BỆNH HỌC

Sau khi xâm nhập qua da, O tsutsugamushi sẽ tăng sinh và gây tổn thương vùng da chỗ xâm nhập tạo vết loét hoại tử đóng mày (tương ứng với giai đoạn ủ bệnh) Sau một thời gian O.

tsutsugamushi bắt đầu vào máu, xâm nhập và tăng sinh trong các tế bào nội mô mạch máu ở

khắp các cơ quan trong cơ thể như tim, phổi, não, gan, thận, tụy, da gây viêm mạch máu và làm cho các tế bào này bị hư hoại

Gần đây, de Fost và cộng sự có bằng chứng gián tiếp chứng minh cho thấy sự hoạt đông của tế bào lympho gây độc tế bào (tế bào CD8 và tế bào NK) trong thời gian nhiễm trùng cấp tính có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phá hủy tế bào vật chủ bị nhiễm

Hình Cách thức lây truyền bệnh sốt mò

Trang 6

Đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với O tsutsugamushi thông qua đáp ứng miễn dịch dịch thể

và miễn dịch qua trung gian tế bào Có bằng chứng cho thấy sự gia tăng các cytokines trong giai đoạn cấp của bệnh, cũng như sự gia tăng đáng kể các yếu tố gây biệt hóa đại thực bào (M-CSF: macrophage colony stimulating factor), các yếu tố kích thích bạch cầu hạt (G-CSF), interferon gamma (IFN-ᵞ) và yếu tố hoại tử khối u (TNF-α) Cũng có những nghiên cứu đã chứng minh rằng các đại thực bào và tế bào lympho T phản ứng có thể là nhân tố thúc đẩy hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng

Đáp ứng miễn dịch không bền vững sẽ biến mất sau từ 1 – 3 năm

5 LÂM SÀNG

5.1 Thời kỳ ủ bệnh

Thời kỳ này có thể từ 6 – 21 ngày (trung bình 10-12 ngày) Có nốt mò đốt như sẩn đỏ có mụn nước ở giữa, sau đó mụn nước vỡ ra, để lại vết loét nổi gờ lên mặt da, có dịch tiết, không đau, xuất hiện hạch khu vực Vào cuối thời kỳ ủ bệnh, bệnh nhân cảm thấy chóng mặt, biếng ăn

5.2 Thời kỳ khởi phát

Sốt đột ngột tăng đến 39oC - 40oC sau 2-3 ngày, tổng trạng thay đổi, và các triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc thần kinh rõ rệt hơn: nhức đầu, đỏ mắt, đau mỏi toàn thân, mất ngủ, lưỡi dơ

5.3 Thời kỳ toàn phát

Thời kỳ này có 4 biểu hiện lâm sàng chính:

5.3.1 Sốt kéo dài 1-3 tuần, thường sốt cao 39oC- 40oC, sốt liên tục, có khi sốt 2 đợt: nhiệt độ giảm dần cuối tuấn 1 và hết sốt, nhưng sau 1 tuần, sốt có thể tái lại 38,5oC đến 39oC trong vài ngày

5.3.2 Nốt loét do ấu trùng mò đốt

Nếu theo dõi được diễn tiến từ đầu thường chỉ có một nốt, đôi khi 2-3 nốt, ở vị trí hay gặp bẹn, nách, đùi, bìu, vú, nếp thắt lưng quần, … lúc đầu không đau, hình dạng một ban đỏ, rồi biến thành 1 nốt sẩn có mụn nước, sau đó mụn nước vỡ ra trung tâm bị hoại tử đóng vẩy đen, sau

đó vài ngày vẩy bung ra để lại mốt nốt loét không sâu, đường kính khoảng 0,5 - 1cm, chung quanh có viền đỏ nổi gờ trên mặt da, phản ứng viêm mô xung quanh vết loét rất ít Trong sốt

mò, tỉ lệ phát hiện thấy vết loét thay đổi tùy nghiên cứu, ở việt nam là khoảng 60% - 80%

Quá trình tiến triển của vết loét: 24 giờ sau tại nơi mò đốt xuất hiện mụn nước đường kính

1-2mm; 4 ngày sau mụn nước hóa đục, 5 ngày tiếp theo mụn nước bể ra, tạo vết loét nông không đau sau đó đóng mày nâu, đen Ngày thứ 15 kể từ khi mò đốt sang thương sẽ bong vảy

để lại vết loét đáy sạch khô,màu đỏ tươi có viền cứng Vết loét liền không để lại sẹo sau tuần thứ 3 kể từ khi xuất hiện mụn nước

Nốt loét là một triệu chứng quan trọng gợi ý đến chẩn đoán bệnh sốt mò, do đó nếu bệnh nhân

có yếu tố dịch tễ phù hợp cần được cởi bỏ quần áo và thăm khám tỉ mỉ đề tìm sang thương da

Trang 7

5.3.3 Nổi hạch toàn thân và gan lách to

Ngoài viêm hạch khu vực (gần nơi mò đốt), có thể gặp nổi hạch toàn thân ở giai đoạn toàn phát (nách, bẹn…) Hạch cứng, ấn đau, di động được, da trên vùng hạch không nóng, đỏ Gán lách có thể to và khám thấy

Hình Vết loét trong bệnh sốt mò (Tư liệu)

Hình Vị trí vết loét hay gặp trong bệnh sốt mò (nguồn Am J Trop Med.

Hyg.,91(3), 2014, pp 451–460)

Trang 8

5.3.4 Phát ban

Thường là những nốt dát sẩn, không đau, không ngứa, xuất hiện lúc đầu ở ngực, bụng rồi lan ra chân, tay, ít khi thấy ở lòng bàn tay, bàn chân, sau 4-5 ngày rồi lạt dần, bay hết Đôi khi có dấu xuất huyết: chấm xuất huyết ở da, xuất huyết dưới giác mạc, chảy máu cam

Hình Phát ban trên da trong sốt mò (nguồn “Taken from Barret OJ,

Stark FR Rickettsial Diseases and Leptospirosis Internal medicine in Vietnam, Vol II, Infectious Diseases 1982 p 75 90”)

5.3.5 Các biểu hiện khác:

Ở các thể nặng, có thể dẫn đến rối loạn chức năng đa cơ quan như

- Thần kinh: Bệnh nhân lừ đừ, mất ngủ, vật vã, mê sảng, li bì, có thể viêm màng não hoặc viêm não, tổn thương thần kinh sọ não Dịch não tủy với tế bào bạch cầu 0 – 110/mm3

(lympho bào ưu thế), đường và protein thường bình thường, có khoảng 28% trường hợp protein tăng ≥ 50 mg/dl

- Tim mạch: hạ huyết áp, có thể gặp viêm tắc mạch máu, viêm cơ tim

- Thận: tiểu ít, có albumin và có thể tăng urê huyết, suy thận

- Hô hấp: viêm phế quản, viêm phổi mô kẽ được phát hiện trên phim X-quang, có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS)

- Tiêu hóa: táo bón sau đó tiêu chảy

- Xuất huyết: Ói ra máu, tiêu ra máu, ho ra máu

5.5 Thời kỳ lui bệnh

Trong giai đoạn trước kháng sinh, tỷ lệ tử vong do sốt mò thay đổi tùy theo vị trí địa lý từng vùng từ 1% - 35% ở Việt Nam khoảng 8% Tuy nhiên, bệnh sốt mò đáp ứng rất tốt nếu được điều trị kháng sinh thích hợp, thời gian cắt sốt trung bình sau khi điều trị khoàng 48 – 72 giờ Bệnh không để lại di chứng Miễn dịch không bền vững và có thể bị tái phát

Trang 9

6 CẬN LÂM SÀNG

6.1 Công thức máu

Bạch cầu máu lúc đầu có thể bình thường, sau đó tăng > 10.000/µL (30,9%) với bạch cầu đa nhân ưu thế, đôi khi tiểu cầu có thể giảm < 100.000/µL (45%)

6.2 Sinh hóa

Men gan AST, ALT tăng gấp 2 – 3 lần trị số bình thường (97% các trường hợp sốt mò)

CRP và Procalcitonin thường tăng trong bệnh sốt mò

6.3 Huyết thanh chẩn đoán

- Phản ứng Weil-Felix với kháng nguyên Proteus OX-K, cần làm 2 lần, lần 1 vào cuối tuần thứ nhất, lần 2 trong tuần thứ 3, hiệu giá kháng thể lần 2 cao gấp 4 lần so với lần1 mới có giá trị chẩn đoán Phản ứng này có giá trị chẩn đoán thấp Phản ứng này cũng sẽ cho kết quả dương tính trong bệnh thương hàn, nhiễm leptospirae

- Test nhanh dùng phản ứng ELISA (IgM và IgG) đã được phát triển nhưng chưa được đánh giá một cách đầy đủ về độ nhạy và độ đặc hiệu

- Phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (Indirect Fluorescent Antibody: IFA): Dùng kháng nguyên KARP, GILLIAM, KATO để phát hiện kháng thể độ nhạy và đặc hiệu khá cao Tuy nhiên hạn chế là có nhiều loại kháng nguyên tùy theo vùng dịch tễ Chưa xác định được ngưỡng cắt (cut off) của hiệu giá kháng thể đối với từng vùng có dịch tễ và không có dịch tễ (xét nghiệm chuẩn của WHO, nhưng do khó về kỹ thuật, đắc tiền nên chưa áp dụng rộng)

6.4 PCR (Polymerase Chain Reaction)

Bệnh phẩm lấy từ vết loét da, máu và hạch đã được sử dụng hiệu quả trong bệnh nhiễm cấp

tính Phát hiện các gen đích khác nhau của O Tsutsugamushi Độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy

phụ thuôc vào bệnh phẩm xét nghiệm thay đổi từ 37% - 52% (vết loét da nhạy hơn so với máu) Các gen đích bao gồm 47 kDa, 56 kDa, 16S rRNA Chưa được xem là tiêu chuẩn vàng

để chẩn đoán bệnh sốt mò

6.5 Phân lập mầm bệnh

Lấy máu bệnh nhân thời kỳ khởi phát, tiêm vào phúc mạc chuột lang hay chuột nhắt trắng và theo dõi 3 tuần Nếu chuột mắc bệnh sẽ chết trong vòng 10-14 ngày Mổ xác chuột, lấy dịch

ổ bụng và phết mô lách, gan, hạch lên kính, cố định bằng cồn, nhuộm Giemsa rồi soi tìm mầm bệnh

7 CHẨN ĐOÁN

7.1 CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Dịch tễ: Những người vào rừng lấy gỗ, làm rẫy, làm vườn, làm ruộng, làm đường xá, khai hoang, săn bắn…

Lâm sàng: Sốt kéo dài, nốt loét điển hình do ấu trùng đốt, nổi hạch toàn thân và gan lách to, phát ban

Cận lâm sàng: huyết thanh chẩn đoán sốt mò, PCR

Trang 10

7.2 CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Sốt rét: Dịch tễ vùng rừng núi, cơn sốt điển hình lạnh - nóng - vã mồ hôi hoặc không điển

hình, gan lách to, vàng da, thiếu máu, không có vết loét trên da Xét nghiệm phết lam máu soi tìm ký sinh trùng sốt rét dương tính, xét nghiệm nhanh chẩn đoán ký trùng sốt rét dương tính

Thương hàn: Dịch tễ ở các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam Bộ, có thói quen ăn uống không

hợp vệ sinh, sốt kéo dài > 1 tuần, với rối loạn tiêu hoá, bụng chướng, lạo xạo hố chậu phải, lách to Xét nghiệm cấy máu dương tính, phản ứng widal dương tính

Nhiễm Leptospira: Dịch tễ có lội qua các vùng đồng lầy, ruộng, ao, cống rãnh có nhiều

Leptospira do động vật thải ra, sốt cao, sung huyết kết mạc mắt, đau cơ nhất là cẳng chân, dấu màng não dương tính, vàng da, suy thận Xét nghiệm cấy máu dương tính, phản ứng MAT (microscopic agglutination test) dương tính

Sốt xuất huyết Dengue: sốt cao liên tục, nhức đầu, buồn nôn, đau cơ, khớp, nhức hai hố mắt,

chấm xuất huyết dưới da, gan to đau Xét nghiệm tìm kháng nguyên NS1 trong 4 ngày đầu và tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi

Sốt phát ban chuột (Murine typhus): Do Rickettsia typhi gây ra Bệnh cũng hay gặp ở nước

ta, với sốt cao, nhức đầu, đau nhức cơ khớp, phát ban dát sẩn nhưng ít khi có vết loét trên da

Xét nghiệm chẩn đoán IFA(immunofluorescent assay) với R typhi dương tính.

Nếu loét sinh dục cần phân biệt các bệnh lý loét sinh dục do bệnh lý lây qua đường tình dục đặc biệt là săng (chancre) giang mai:  là một dạng viêm loét, có đặc điểm nông, hình tròn hay bầu dục kích thước 0.3 đến 3 cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ; đáy vết loét thâm nhiễm cứng và kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng và cũng không đau. Các triệu chứng trên có thể tự biến đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị Đặc biệt bênh nhân không sốt

8 ĐIỀU TRỊ

8.1 Kháng sinh

Doxycycline và Chloramphenicol là hai loại kháng sinh được ưu tiên sử dụng

- Doxycycline 100mg uống 1 viên x 2 lần/ngày trong vòng 7 - 14 ngày

- Chloramphenicol: 500mg x 4 lần/ngày đối với người lớn 50 – 75mg/kg/ngày đối với trẻ em, uống hay tiêm mạch nếu bệnh nặng điều trị trong 7 – 14 ngày

Thuốc thay thế có thể dùng:

- Tetracycline: 500 mg mỗi 6 giờ điều trị trong 7 ngày

- Rifampicine: 600-900mg/ngày điều trị trong 7 ngày

- Azithromycine: N1: 500 – 1000 mg, N2 và các ngày tiếp theo: 500mg điều trị 3 đến 7 ngày

- Ciprofloxacin hiệu quả kém

8.2 Điều trị nâng đỡ

- Cân bằng nước điện giải

- Săn sóc điều dưỡng tích cực, dinh dưỡng đầy đủ

Ngày đăng: 12/04/2023, 03:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w