1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thi kết thúc học phần luật đất đai

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thi Kết Thúc Học Phần Luật Đất Đai
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Đất Đai
Thể loại Bài thi
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 63,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại sao vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào? Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương. Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế.

Trang 1

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN: LUẬT ĐẤT ĐAI

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

Câu 1: Tại sao vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào? 2

1 Vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993 2

2 Sự khác nhau giữa giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất 4 Câu 2: Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế 6

1 Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương 6

2 Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích 8

3 Đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế…… ………10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

MỞ ĐẦU

Đất đai là một tài sản vô giá và quan trọng nhất của một quốc gia, về mặt lịch sử văn hóa, kinh tế và cả chính trị, là cột mốc khẳng định lãnh thổ nước nhà Ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong đó nhà nước là đại diện, thay mặt toàn thể nhân dân quản lý bằng những quy tắc xử sự chung, nhằm quản lý tài hợp lý hiệu quả, tiết kiệm, bảo vệ môi trường sinh thái Để hiểu rõ hơn về điều này, chúng ta cùng đi tìm

Trang 2

hiểu về hai vấn đề quan trọng và được quan tâm nhiều hiện nay: Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất gồm giao đất có thu tiền và không thu tiền sử dụng đất và đất công ích qua bài tiểu luận sau

NỘI DUNG Câu 1: Tại sao vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào?

1 Vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993

Trước hết, theo khoản 7 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất gồm giao đất có thu tiền và không

thu tiền sử dụng đất

Từ Luật Đất đai năm 1993, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước đã quy định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu tiến hành giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân (gọi tắt là người

sử dụng đất) sử dụng ổn định, lâu dài Thực chất, đây là việc tiền tệ hóa hay còn gọi là

thương phẩm hóa quyền sử dụng đất (QSDĐ), làm cho QSDĐ trở thành tài sản có giá trị không chỉ đối với chủ sở hữu đất đai, mà còn cả với người sử dụng đất Nhà nước

có thể thông qua mối quan hệ này để điều tiết thu nhập xã hội Quy định của Luật đất

đai “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất…” (Điều 12) là căn cứ quan trọng để thực hiện mục tiêu này.

Mặc dù Nhà nước đã thực hiện việc tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm

1993 nhưng vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất là vì:

Đầu tiên giao đất không thu tiền sử dụng là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành cho người có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước Hình thức giao đất không thu tiền sử

Trang 3

dụng đất ở đây không phải theo tính bao cấp theo cơ chế trước đây Trước đây, khi chúng ta chưa coi quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt, việc sử dụng thông qua con đường cấp pháp cho xin, mọi việc sử dụng đất đều không mất tiền, Nhà nước bao cấp đất đai cho cả xã hội bất kể sử dụng vào mục đích kinh doanh hay phi kinh doanh Tuy nhiên, từ luật đất đai năm 1993, với quan niệm đất đai là tài sản vô giá của một quốc gia, quyền sử dụng đất được giao cho người sử dụng ổn định, lâu dài, hàng hóa quyền

sử dụng đất cần phải quan niệm lại cho phù hợp với nền kinh tế thị trường

Cụ thể các trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 được quy định tại Điều 54 Luật đất đai 2013 như sau:

“1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều

129 của Luật này;

2 Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;

3 Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;

4 Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;

5 Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.”

Theo đó, sở dĩ Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt với một số đối tượng chính là hành triệu hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo khoản 1 Điều 54 là vì xuất phát điểm của kinh tế Việt Nam là từ nền văn minh lúa nước, ngay cả hiện nay khi sự nghiệp công nghiệp hóa đã gần cơ bản hoàn thành thì tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn đang chiếm tỉ lệ rất lớn khoảng 70% Đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa vẫn là nguồn sống, nguồn làm việc của người nông dân Tương tụ như trong lĩnh vực lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Nhà nước quy định như vậy là

Trang 4

hợp lí, để giảm gánh nặng cho những người lao động trong những lĩnh vực sản xuất

này, vì đây là những ngành thu nhập không cao Là thiết yếu đối với cuộc sống, đảm

bảo mục tiêu cung cấp đủ lương thực trong nước, có dự trữ chiến lược và xuất khẩu

Tại khoản 3 Điều 54 Nhà nước cũng ưu tiên đối với tổ chức sự nghiệp công lập

chưa tự chủ về tài chính vì Nhà nước không thể giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng

lại sử dụng tiền từ ngân sách để trả cho Nhà nước hoặc trả cho giao dịch chuyển

nhượng quyền sử dụng đất của mình

Khoản 4 Điều 54 tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư

phục vụ các dự án của Nhà nước Vì từ thực tế, nếu giao đất cho tổ chức kinh tế trong

nước bằng hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất phục vụ các dự án kinh tế

-xã hội thì phạm vi giao đất sẽ rất lớn Vì vậy, xuất phát từ nhu cầu tái định cư theo các

dự án của Nhà nước, tổ chức kinh tế nào được chỉ định đầu tư sẽ không phải trả tiền sử

dụng đất cho nhà nước để phục vụ các lợi ích nhà nước và xã hội

Cuối cùng, nếu các trường hợp sử dụng không vì mục đích kinh doanh mà vì lợi

ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích quốc phòng an ninh không nhằm thu lợi

nhuận từ hoạt động sử dụng đất cũng được Nhà nước ưu tiên chính sách này

2 Sự khác nhau giữa giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử

dụng đất.

Tiêu chí Giao đất không thu tiền SDĐ Giao đất có thu tiền SDĐ

Căn cứ

pháp lí

Điều 54 Luật Đất đai năm 2013 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013

Mục đích

sử dụng đất

Trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, làm muối;

Không vì mục đích kinh doanh mà vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh;

Xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước

Mục đích xây dựng nhà ở hoặc sử dụng cho mục đích kinh doanh

Hình thức Không thu tiền sử dụng đất Có thu tiền sử dụng đất

Trang 5

sử dụng đất

Đối tượng

được Nhà

nước giao

đất

1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp

2 Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất

là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở

cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;

3 Tổ chức sự nghiệp công lập chưa

tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;

4 Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;

5 Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này

TH1: Người được Nhà nước giao đất

1 Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;

2 Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

3 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

4.Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện

dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa

để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng (sau đây gọi tắt là đất nghĩa trang, nghĩa địa);

5 Tổ chức kinh tế được giao đất để xây dựng công trình hỗn hợp cao tầng, trong đó

có diện tích nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê

TH2: Người đang sử dụng đất được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

TH3: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm nhà ở, đất phi nông nghiệp được Nhà nước công nhận có thời hạn lâu dài trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 (Theo điều 2, nghị định 45/2014/NĐ-CP)

Quyền và

nghĩa vụ

Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Cho thuê quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, thế chấp bằng quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử

Trang 6

đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền

sử dụng đất; không được bồi thường

về đất khi Nhà nước thu hồi đất

dụng đất… theo quy định tại Điều 174 và Điều 179 Luật Đất đai

Thời hạn sử

dụng đất

Sử dụng đất ổn định lâu dài

Nhà nước giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho người sử dụng vào các mục đích quy định tại Điều 125 Luật Đất đai 2013

Sử dụng đất có thời hạn.

Quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, 2, điểm b khoản 3, 4 và 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm Điều 126 Luật đất đai 2013

Câu 2: Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương Phân tích

các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định

này trên thực tế.

1 Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương

Theo khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai năm 2013: “Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm

và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử

dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất

trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của

địa phương” Từ đó có thể hiểu rằng đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông

nghiệp, được trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích (các công trình văn hóa, y

tế, thể dục thể thao, nhà tình thương…) và chỉ được giữ lại trong giới hạn pháp luật

cho phép là không quá 5% so với tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây

lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản có trong phạm vi của địa bàn mỗi địa phương cấp xã

Đất công ích được nhận định là một tài sản giá trị của toàn dân mà Nhà nước đã giao

lại cho từng xã, phường, thị trấn quản lý, sử dụng, góp phần cải thiện đời sống hộ gia

đình, cá nhân thuê đất nên rất cần thiết:

Thứ nhất, đất công ích như một giải pháp hữu ích đáp ứng kịp thời, chủ

động cho địa phương, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa

phương nói riêng và của đất nước nói chung

Trang 7

Nguồn thu từ quỹ công ích đã tạo điều kiện hơn cho chính quyền cấp xã chủ động hơn trong vấn đề sử dụng tài chính cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng khác mà không cần chờ đợi Nếu không có quỹ đất này thì khi chính quyền cấp xã muốn xây dựng công trình công ích của địa phương mình thì sẽ phải xin đất, và nếu đất không là đất “sạch” thì phải chờ công tác giải phóng mặt bằng, huy động vốn trong nhân dân, sẽ gặp nhiều khó khăn về tài chính vì không phải ai cũng có tiền để đóng góp ngay Là một đơn vị hành chính nhỏ nhưng lại là tế bào góp phần quan trong tạo nên nền móng của bộ máy hành chính nhà nước Việc chậm tiến độ của xã, phường, thị trấn sẽ gây ảnh hưởng lớn đến trì trệ trong sự phát triển chung cả nền kinh

tế nước nhà

Thứ hai, đất công ích còn đóng một vai trò không kém trong mặt xã hội

Khi có đất công ích được sử dụng vào mục đích công ích cho địa phương, sẽ giúp nơi đó có đủ cơ sở, tư liệu sản xuất kinh tế phục vụ, cải tạo đời sống cho người dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn Các công trình công cộng như trường học, bệnh viện các khu vui chơi giải trí được xây dựng nên đáp ứng đầy đủ tất cả các nhu cầu vui chơi lành mạnh, sức khỏe và văn minh cho địa phương Bên cạnh đó, đất công ích còn góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân, thông qua việc họ có thêm đất canh tác, sản xuất khi được Ủy ban nhân dân xã cho thuê diện tích đất công ích mà xã không có nhu cầu sử dụng đến, cải thiện phần nào về vật chất, tinh thần cho từng xã, phường, thị trấn

Nhìn xa hơn nữa, đất công ích còn góp phần trong việc bình ổn mật độ dân số

và tỷ lệ lao động trong từng địa phương Vì trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, thiếu đất sản xuất nông nghiệp Dẫn đến người lao động bị thất nghiệp, ồ ạt đổ lên các thành phố lớn tìm việc, mất cân bằng về mật độ dân số, gia tăng tệ nạn xã hội Cho nên mặc dù chỉ với phạm

vi không quá 5% tổng diện tích đất nông nghiệp nhưng cũng góp phần nhỏ vào tạo thế cân đối cho xã hội

Thứ ba, đất công ích góp phần phát triển về mặt chính trị.

Đất công ích là loại đất đặc biệt ở nước ta, nó như là một chế định riêng nhằm nói lên đường lối, chính sách của một nước đang phát triển và khẳng định sở hữu toàn dân về đất đai của Việt Nam, thể hiện sự chăm lo của Nhà nước đối với từng người

Trang 8

dân, từng địa phương khi chính quyền cấp xã có quyền tự quyết trên diện tích 5% đất nông nghiệp Với sự phát triển công nghiệp như hiện tại, đất công ích cũng có thể được xem là bảo vệ tốt quỹ đất nông nghiệp vì Ủy ban xã chỉ được phép cấp phép quản lí, sử dụng loại đất này vào mục đích công ích tránh rơi vào các nhà đầu tư, doanh nghiệp Góp phần thực thi chính sách an ninh lương thực

2 Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích

 Cơ quan có thẩm quyền quản lí đất công ích:

Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương đóng vai trò quản lí trực tiếp nhất đối với quỹ đất công ích được hình thành trong xã Vì đây là loại đất phục vụ trực tiếp và cũng có thể coi như một chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành riêng cho từng địa phương nên địa phương trực tiếp quản lí để dễ sử dụng và hơn ai hết, từng xã, phường, thị trấn là chủ thể hiểu rõ nhất điều kiện, những khả năng phát triển của chính địa bàn mình Khi được trực tiếp quản lí thì có thể chủ động hơn, và ít tốn kém thời gian chờ đợi, xin phép so với để cho cấp trên quản lí Hiện nay, theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 132 Luật Đất đai 2013 đã quy định chế độ quản lý quỹ đất công của Ủy ban nhân dân xã

“1 Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê Thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm…

2 Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.”

 Nguồn đất hình thành nên quỹ đất công ích:

Theo quy định pháp luật tại Khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai 2013 thì các loại đất sau đây được coi la nguồn để hình thành nên quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn: Đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu năm;,Đất nuôi trồng thủy sản

Đất nông nghiệp do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng cho Nhà nước, đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi là nguồn để hình thành

Trang 9

hoặc bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

 Diện tích của quỹ đất công ích:

Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương

Đối với những nơi đã để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích vượt quá 5% thì diện tích ngoài mức 5% được sử dụng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho

hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất

 Quy định về thời gian sử dụng đất công ích:

Đất công ích là loại đất đặc biệt theo tiêu chí chung của Nhà nước nhưng lại không

có quy định rõ trong danh mục loại đất nào, được sử dụng trong bao lâu Nếu đất công ích được sử dụng cho mục đích xây dựng các công trình công cộng thì căn cứ vào khoản 9 và khoản 10 Điều 125 lúc này có thể xem đất công ích là loại đất sử dụng ổn định lâu dài Nhưng mặt khác, khi xét đến hình thức sử dụng dưới dạng hợp đồng thuê đất công ích của hộ gia đình, cá nhân thuê của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn thì đất công ích là loại đất sử dụng có thời hạn

 Mục đích sử dụng đất công ích:

Căn cứ Khoản 2 Điều 132 Luật Đất đai 2013, quỹ đất công ích được sử dụng vào các mục đích sau:

- Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng quy định tại điểm a khoản này;

- Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương

Trang 10

 Cho thuê quỹ đất công ích:

- Điều kiện cho thuê: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 Luật Đất đai 2013, Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích nêu trên thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê

- Thời hạn sử dụng đất cho thuê: Đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm

- Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất công ích: Số tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật

3 Đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế.

Nhìn vào thực trạng quản lý, sử dụng đất công ích từ khi được tồn tại cho đến nay có một số vấn đề đáng quan tâm như sau:

 Về quản lí đất công ích:

Thứ nhất, quản lý đất công ích kém hiệu quả, như đã biết đất công ích được

hình thành từ khi thực hiện chủ trương giao ruộng, ổn định lâu dài cho các hộ gia đình,

xã viên hợp tác xã nông nghiệp diện tích được giao đến từng hộ gia đình sử dụng phân tán ở nhiều thửa đất, các xứ đồng khác nhau Sau khi thực hiện chủ trương dồn điền đổi thừa trong nông nghiệp, một số nơi quy hoạch lại đồng ruộng, đưa quỹ đất tập trung trong từng khu vực để phát triển các công trình công cộng và hạ tầng kinh tế ở các vùng nông thôn Song ở các nơi khác diện tích đất cổ tích hiện diện lại không rõ ràng và bị phân tán nhỏ lẻ Hiện trạng sử dụng đất công ích cho thấy hầu hết các khu, thửa đất công ích nằm rải rác, manh mún, đan xen của nhiều loại đất khác nhau Đất công ích chưa được các địa phương khoanh vùng tập trung khi lập quy hoạch Cũng có trường hợp do chưa nắm rõ vai trò, vị trí và tác dụng của đất công ích mà một số địa phương vẫn chưa hoặc không để lại quý đất công ích, gây nên sự phát triển thiếu cân đối ở các địa phương

Thứ hai, công tác quản lý lỏng lẻo, ở nhiều địa phương công tác quản lý đất đai

nói chung và đất công ích nói riêng bị buông lỏng, một số cán bộ chính quyền cấp

Ngày đăng: 07/04/2023, 11:05

w