1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.

12 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.
Tác giả Đặng Thị Diệu Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, ý chí của một cá nhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình sau khi chết cho người khác được thông qua một di chúc. Sự thể hiện của cá nhân nhằm định đoạt tài sản được thông qua hành vi pháp lí để dịch chuyển quyền sở hữu của người để lại tài sản cho người khác sau khi người này chết. Di chúc là giao dịch dân sự đơn phương của cá nhân. Thời điểm có hiệu lực của di chúc phụ thuộc vào thời điểm người lập di chúc chết. Vì thế, một di chúc được lập mặc dù đảm bảo các điều kiện của pháp luật, nhưng khi người lập di chúc còn sống thì di chúc đó chưa có hiệu lực. Cho nên, người lập di chúc có quyền bằng ý chí cá nhân thay đổi nội dung hoặc hủy bỏ di chúc đã lập. Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản bằng một hành vi pháp lí của người lập di chúc. “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Thực hiện quyền định đoạt theo căn cứ này chính là việc dịch chuyển quyền sở hữu một phần hay toàn bộ tài sản của mình cho một hoặc nhiều người hưởng di sản, trong đó có thể bao gồm người được di tặng . Nếu nội dung của di chúc không thể hiện việc để lại tài sản cho ai thì di chúc không có nội dung định đoạt tài sản, không có ý chí về mặt hình thức. trong khi đó, di chúc là căn cứ để phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-000 -BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN: LUẬT DÂN SỰ

ĐỀ SỐ 18:

Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và

chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó

HỌ VÀ TÊN: ĐẶNG THỊ DIỆU THANH MSSV : 441754

NHÓM : 02

LỚP : N09.TL2

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp 3

1 Di chúc là gì? 3

2 Hình thức của di chúc 4

2.1 Di chúc bằng văn bản: 4

2.2 Di chúc miệng 6

II Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó 8

1 Sưu tầm một bản di chúc 8

2 Hình thức hợp pháp của bản di chúc trên 10

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Xã hội càng phát triển đời sống vật chất của con người ngày càng cao, việc định đoạt tài sản của cá nhân trước khi chết thông qua việc lập di chúc là một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên để bản di chúc phát sinh hiệu lực trong việc phân chia di sản thừa kế thì cần phải tuân theo các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, nội dung và hình thức của

di chúc; hình thức của di chúc là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu lực của bản di chúc nói riêng và việc phân chia di sản thừa kế nói chung và cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các vụ án tranh chấp về thừa kế theo di chúc Sau đây chúng ta sẽ cùng đi nghiên cứu để hiểu rõ hơn về: “hình thức của di chúc”

NỘI DUNG

I Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp

1 Di chúc là gì?

Theo điều 624, BLDS 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”

Theo đó, ý chí của một cá nhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình sau khi chết cho người khác được thông qua một di chúc Sự thể hiện của cá nhân nhằm định đoạt tài sản được thông qua hành vi pháp lí để dịch chuyển quyền sở hữu của người để lại tài sản cho người khác sau khi người này chết

Di chúc là giao dịch dân sự đơn phương của cá nhân Thời điểm có hiệu lực của di chúc phụ thuộc vào thời điểm người lập di chúc chết Vì thế, một di chúc được lập mặc

dù đảm bảo các điều kiện của pháp luật, nhưng khi người lập di chúc còn sống thì di chúc

Trang 4

đó chưa có hiệu lực Cho nên, người lập di chúc có quyền bằng ý chí cá nhân thay đổi nội dung hoặc hủy bỏ di chúc đã lập

Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản bằng một hành vi pháp lí của người lập di chúc

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Thực hiện quyền định đoạt theo căn cứ này chính là việc dịch chuyển quyền sở hữu một phần hay toàn bộ tài sản của mình cho một hoặc nhiều người hưởng di sản, trong

đó có thể bao gồm người được di tặng Nếu nội dung của di chúc không thể hiện việc để lại tài sản cho ai thì di chúc không có nội dung định đoạt tài sản, không có ý chí về mặt hình thức trong khi đó, di chúc là căn cứ để phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc

Di chúc phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định Nếu di chúc đã lập không tuân thủ các Điều kiện về hình thức thì sẽ vô hiệu

2 Hình thức của di chúc

Theo điều 627, BLDS 2015: “di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có tể di chúc miệng.”

Hình thức của di chúc là phương thức thể hiện ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lí làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc được hưởng di sản, pháp luật quy định di chúc phải được lập dưới những hình thức nhất định

Từ điều 627 BLDS nêu trên cho phép việc lập di chúc chỉ có thể tiến hành theo một trong hai hình thức là di chúc bằng văn bản hoặc di chúc miệng

2.1 Di chúc bằng văn bản:

Di chúc bằng văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết, đánh máy) và có thể thể hiện dưới dạng di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc văn bản có công chứng; di chúc văn bản có chứng thực

Trang 5

Theo điều 628 BLDS 2015: “Di chúc bằng văn bản gồm:

1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

3 Di chúc bằng văn bản có công chứng;

4 Di chúc bằng văn bản có chứng thực.”

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là loại di chúc do người lập di chúc viết hoặc đánh máy nhưng không có người làm chứng kí tên làm chứng trong di chúc Đối với loại di chúc này, pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc theo điều 633 BLDS “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc” Yêu cầu này xuất phát từ thực tiễn, tránh những trường hợp tạo di chúc giả, nhằm đảm bảo quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc Thông qua chữ viết và chữ kỹ trong bản di chúc có thể xác định người lập di chúc Vậy nên, một bản di chúc không có người làm chứng chỉ có giá trị và được pháp luật công nhận khi đó là một bản di chúc được viết bằng tay và có chữ ký của người lập di chúc

Theo điều 634 BLDS, di chúc bằng văn bản có người làm chứng “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc” Trường hợp người lập di chúc không thể tự viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết nhưng khi lập di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng Người làm chứng ở đây có thể là bất kỳ ai, trừ các nhóm chủ thể sau: (1) Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, (2) Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc, (3) Người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự

Trang 6

Trong bản di chúc yêu cầu phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc; xác nhận và chữ ký của người làm chứng Các hoạt động này phải được diễn ra ngay tại thời điểm lập di chúc, và có mặt của người làm chứng

Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực là một hình thức di chúc phổ biến, mang tính pháp lý cao Yêu cầu công chứng, chứng thực là quyền của người lập di chúc Theo đó, người lập di chúc có thể: mang bản di chúc đã lập đến ủy ban nhân dân yêu cầu được công chứng, chứng thực theo những thủ tục mà pháp luật quy định tại Điều

636 Bộ luật dân sự 2015; Người lập di chúc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc tại

Ủy ban nhân dân; Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình

để lập di chúc, thủ tục được tiến hành theo quy định tại 636 Bộ luật dân sự 2015

Tùy vào điều kiện, hoàn cảnh mà người lập di chúc lựa chọn một trong các loại theo quy định của điều luật trên để thể hiện ý chí định đoạt tài sản của mình

2.2 Di chúc miệng

Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn

miệng được thể hiện qua lời nói trực tiếp của người để lại di chúc truyền đạt nguyện vọng của họ sau khi chết thì số tài sản của họ có được trong lúc còn sống sẽ được giải quyết như thế nào bao gồm việc sẽ phân chia cho những ai thực hiện các chức năng chiếm hữu,

sử dụng, quản lý hay thực hiện một nghĩa vụ thay họ Thông thường di chúc miệng chỉ được thiết lập trong trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản, tức là trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa và không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc bằng miệng, ví dụ như: một người trong tình trạng hấp hối, hoặc bị đột quỵ do sự việc xẩy ra đột ngột trong hoàn cảnh như vậy người đó nghĩ tới bản thân không thể qua khỏi thì những lời sau cuối của họ nói về việc bàn giao lại tài sản cho những ai chính là việc thiết lập di chúc bằng miệng

Trang 7

Tuy nhiên để tránh trường hợp những người muốn nhận di sản thừa kế của người mất lừa dối, gian lận để nhằm không thể hiện đúng ý chí của người để lại di chúc nhằm chiếm đoạt tài sản thì di chúc miệng phải đảm bảo các điều kiện được quy định trong Bộ luật dân sự thì mới phát sinh hiệu lực pháp luật, đó là những điều kiện đảm bảo giá trị pháp lý của di chúc miệng

- Thứ nhất, di chúc miệng chỉ được lập trong điều kiện không thể lập được di chúc bằng văn bản

Theo khoản 1 điều 629, BLDS2015: “Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa

và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.”

Trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa, dựa trên tính chất bị

đe dọa về tính mạng để xác định người này có khả năng thiết lập một văn bản di chúc hay không để xác định di chúc bằng lời nói của họ lúc đó là hợp pháp Ví dụ người này đang điều trị một căn bệnh, đột nhiên rơi vào tình trạng nguy kịch mà không ai ngờ tới thì trong lúc hấp hối những lời nói của họ đề cập đến việc sẽ phân chia tài sản cho ai được xem là một di chúc bằng miệng đã được thiết lập, hoặc những trường hợp bị đột quỵ, xuất huyết não cũng mang tính chất đe dọa ở đây

Những trường hợp không được xem là bị đe dọa tính mạng, mà có điều kiện có thể thiết lập di chúc bằng văn bản thì di chúc bằng miệng không được xem là hợp pháp, lưu ý trường hợp người lập di chúc không biết chữ thì có thể nhờ người khác viết hoặc đánh máy và có ít nhất 2 người làm chứng, sau đó tự mình kí tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc đó chứ không được thiết lập di chúc bằng miệng

- Thứ hai, di chúc miệng có đủ điều kiện phát sinh hiệu lực thì phải đảm bảo cả về mặt cá nhân lập di chúc, nội dung, hình thức của di chúc.

Trang 8

Là người thành niên, tại thời điểm lập di chúc hoàn toàn minh mẫn và sáng suốt Người từ 15 đến 18 tuổi không có quyền lập di chúc miệng

Người lập di chúc chỉ có thể lập di chúc trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản (bị bệnh nặng sắp chết, hoặc do bị tai nạn giao thông…)

Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Những người làm chứng không thuộc phạm vi cấm của điều 632 BLDS Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc xác thực Trường hợp này cơ quan công chức hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không thể chứng thực nội dung di chúc vì người có thẩm quyền công chứng, chứng thực không thể biết được ý chí của người lập di chúc Mặt khác, cũng không thể xác nhận chữ kí của người làm chứng, vì họ ký ngay sau khi ghi lại nội dung di chúc miệng của người để lại di chúc Do vậy, trường hợp này sẽ chứng thực ngày di chúc

đó được yêu cầu công chứng, chứng thực

Những người không được làm chứng cho việc lập di chúc bao gồm: người được thừa

kế theo di chúc miệng, bố, mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của người lập

di chúc; người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản để lại trong di chúc hoặc người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không được làm chứng cho việc lập di chúc

Sau ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ

chúc đó.

1 Sưu tầm một bản di chúc

Trang 10

2 Hình thức hợp pháp của bản di chúc trên

Bản di chúc trên là di chúc bằng văn bản có người làm chứng Theo điều 655 BLDS

“Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và kí vào bản di chúc”

Theo đó, bà Lê Thị Quýt không thể tự mình viết bản di chúc vì không biết đọc, biết viết nên đã nhờ người khác viết hộ di chúc và đã có ba người làm chứng là: ông Lê Văn

Trang 11

Dũng (trưởng thôn Bắc Cường); Bà Nguyễn Thị Thủy (phó thôn Bắc Cường) và ông Đỗ Văn Tĩnh (ở đội 8 thôn Bắc Cường) Ba người này là do bà Lê Thị Quýt lựa chọn và mời đến, họ đều không phải là người thừa kế theo di chúc, không phải là người có quyền nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Di chúc viết xong đã được người làm chứng đọc to cho mọi người nghe và được người lập

di chúc là bà Lê Thị Quýt thừa nhận là di chúc viết hộ ghi đầy đủ và phù hợp với ý

nguyện của người để lại di sản là bà Sau đó, bà đã điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng “tôi đã nghe toàn bộ nội dung của bản di chúc do người làm chứng đọc, tôi đồng ý với toàn bộ nội dung di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước mặt của công chứng viên” Cuối cùng, những người làm chứng xác nhận điểm chỉ của người lập di chúc và kí tên vào bản di chúc với danh nghĩa người làm chứng

Ngoài ra, di chúc trên cũng tuân theo qui định tại Điều 653 Bộ luật dân sự 2005 là di chúc có nội dung rõ ràng; có ngày, tháng năm lập di chúc “ngày 28 tháng 4 năm 2011”,

họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc, họ tên người được hưởng di sản, di sản để lại và nơi có di sản…

Như vậy, bản di chúc trên xét về hình thức là hợp pháp

KẾT LUẬN

Qua trình bày và phân tích trong bài viết, ta có được cái nhìn tổng quan về hình thức của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam Qua đó ta đánh giá được thực trạng các quy định của pháp luật về hình thức của di chúc, về thực trạng áp dụng pháp luật về hình thức

Trang 12

những điểm tích cực tuy nhiên cũng cần phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội, phát huy hiệu quả pháp luật về hình thức của di chúc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Dân sự

2 Tìm hiểu quyền thừa kế và thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế tại tòa án

3 Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2015 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015

Ngày đăng: 07/04/2023, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w