1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ BÌNH LUẬN ÁN YÊU CẦU PHẢN TỐ 9đ

35 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 8,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Một số vấn đề về yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn (5)
    • 1.1. Khái niệm yêu cầu phản tố (5)
    • 1.2. Phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến bị đơn (6)
    • 1.3. Căn cứ xác định yêu cầu phản tố (6)
      • 1.2.1 Xác định căn cứ vào chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố và chủ thể bị phản tố (6)
      • 1.2.2. Xác định yêu cầu phản tố dựa vào nội dung của yêu cầu (7)
    • 1.4. Ý nghĩa của quy định về yêu cầu phản tố (7)
  • II. Thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện (7)
    • 2.1. Thực tiễn xét xử (7)
    • 2.1. Pháp luật của một số quốc gia về yêu cầu phản tố (11)
      • 2.1.1 Pháp luật Đài Loan (11)
      • 2.1.2. Quy chế Illinois (Tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ) (11)
    • 2.3 Kiến nghị hoàn thiện (11)

Nội dung

Vào năm 2009, ông H (nguyên đơn) và ông T (bị đơn) có thỏa thuận miệng là ông T chuyển nhượng cho ông thửa đất thuộc sở hữu của ông với giá chuyển nhượng là 234.465.000 đồng. Hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc thỏa thuận số tiền đặt cọc là 129.465.000 đồng, số tiền còn lại mà ông H phải thanh toán là 105.000.000 đồng và thỏa thuận trả dần thành 05 đợt. Tuy nhiên, vào ngày 15042010 trong hợp đồng đặt cọc ông H có viết và ký nội dung “Không thực hiện” (nội dung này được cả hai bên cùng thỏa thuận xây dựng).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN YÊU CẦU PHẢN TỐ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT VỤ VIỆC 1

BÌNH LUẬN 2

Dẫn nhập 2

I Một số vấn đề về yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn 2

1.1 Khái niệm yêu cầu phản tố 2

1.2 Phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến bị đơn 3

1.3 Căn cứ xác định yêu cầu phản tố 3

1.2.1 Xác định căn cứ vào chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố và chủ thể bị phản tố 3

1.2.2 Xác định yêu cầu phản tố dựa vào nội dung của yêu cầu 4

1.4 Ý nghĩa của quy định về yêu cầu phản tố 4

II Thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện 4

2.1 Thực tiễn xét xử 4

2.1 Pháp luật của một số quốc gia về yêu cầu phản tố 8

2.1.1 Pháp luật Đài Loan 8

2.1.2 Quy chế Illinois (Tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ) 8

2.3 Kiến nghị hoàn thiện 8

KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC BẢN ÁN ĐÍNH KÈM

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi

hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của

Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 4

TÓM TẮT VỤ VIỆC 1

Vào năm 2009, ông H (nguyên đơn) và ông T (bị đơn) có thỏa thuận miệng là ông T chuyển nhượng cho ông thửa đất thuộc sở hữu của ông với giá chuyển nhượng là 234.465.000 đồng Hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc thỏa thuận số tiền đặt cọc là 129.465.000 đồng, số tiền còn lại mà ông H phải thanh toán là 105.000.000 đồng và thỏa thuận trả dần thành 05 đợt Tuy nhiên, vào ngày 15/04/2010 trong hợp đồng đặt cọc ông H có viết và ký nội dung “Không thực hiện” (nội dung này được cả hai bên cùng thỏa thuận xây dựng)

Ngày 18-6-2010, ông T đã lập hợp đồng ủy quyền cho ông Xuân T (NCQLNVLQ) được quyền định đoạt toàn bộ diện tích đất trên Cho tới ngày 27-6-2010, ông Xuân T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L, ông T đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, giao đất và toàn bộ giấy tờ liên quan cho bà L (NCQLNVLQ) Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu ông T phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đất cùng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông sẽ thanh toán số tiền còn lại

là 25.000.000 đồng Trong trường hợp do vi phạm pháp luật dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không tiếp tục thực hiện thì yêu cầu ông T hoàn trả tiền đặt cọc 129.465.000 đồng

Sau khi bị kiện, ông T đã gửi đơn phản tố với nội dung: Yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H; Công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T; Công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất

Tòa sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông T và hủy hợp đồng đặt cọc Tòa phúc thẩm thì cho rằng đơn phản tố của ông T có một phần nội dung không phải là yêu cầu phản tố, do đó chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T, gồm: công nhận hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng ông T và ông T, công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất

1 Xem phụ lục Bản án 47/2018/DS-PT ngày 08/06/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

Trang 5

BÌNH LUẬN Dẫn nhập

Theo quy định tại khoản 1 Điều 200 BLTTDS năm 2015: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.” Quy định này được hiểu là sau khi đã nhận được thông báo về việc Tòa án đã thụ lý vụ án, hay sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn sẽ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, hoặc NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập

Tuy nhiên, thực tế, khi xét xử một vụ án có yêu cầu phản tố, các tòa án vẫn có sự nhầm lẫn trong việc xác định đâu là yêu cầu phản tố của bị đơn và đâu là ý kiến của bị đơn đối với nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập…Từ quan điểm khác nhau mà mỗi Tòa sẽ đưa ra cách giải quyết khác nhau, dẫn đến sự sai sót trong tố tụng, hệ quả là việc áp dụng pháp luật không đúng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án và nghiêm trọng hơn là phải hủy

án

I Một số vấn đề về yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn

1.1 Khái niệm yêu cầu phản tố

Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về yêu cầu phản tố Tuy nhiên chúng ta có thể tham khảo một

số quan điểm của các tác giả về vấn đề này:

Theo Nguyễn Ngọc Sơn: “Yêu cầu phản tố là việc bị đơn trong vụ án dân sự kiện ngược lại nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Yêu cầu đó phải liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập” 2

Còn Cao Nhất Linh (Khoa Luật - Đại học Cần Thơ) và Phạm Việt Trung (Tòa án Nhân dân tỉnh Cà Mau) thì có quan điểm về khái niệm của yêu cầu phản tố như sau: “Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu của NCQLNVLQ hoặc yêu cầu đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, NCQLNVLQ trong vụ án”.3

Mặt khác, khi tham khảo qua hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam thì ta nhận thấy rằng các nhà làm luận vẫn chưa đề cập đến khái niệm về yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố và yêu cầu được coi là ý kiến trình bày của bị đơn Tuy nhiên, họ có đưa ra hướng dẫn chung về nội dung này Theo Nghị quyết

số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn (được quy định tại Điều 176 của BLTTDS 2015) sẽ được hiểu như sau:

“Yêu cầu của bị đơn sẽ được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.”

“Yêu cầu của bị đơn chỉ được coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của

2 Nguyễn Ngọc Sơn, “Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự định hướng nghiên cứu, tr.25 Xem: wpViewFile.aspx (hcmulaw.edu.vn)

3 Cao Nhất Linh (Khoa Luật - Đại học Cần Thơ) và Phạm Việt Trung (Tòa án Nhân dân tỉnh Cà Mau), “Phản tố, kiện lại của bị đơn

trong tranh chấp kinh doanh, thương mại - Bất cập và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Công thương [ viet/phan-to-kien-lai-cua-bi-don-trong-tranh-chap-kinh-doanh-thuong-mai-bat-cap-va-huong-hoan-thien-63717.htm ], (truy cập ngày 21/01/2022)

Trang 6

https://tapchicongthuong.vn/bai-nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của https://tapchicongthuong.vn/bai-nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập).”4

Theo quan điểm chủ quan của tôi, yêu cầu phản tố là “yêu cầu độc lập” của bị đơn đưa ra đối nguyên đơn, hoặc yêu cầu của bị đơn đối với NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập Còn ý kiến của bị đơn là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn, hoặc với NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập Ý kiến phản đối của

bị đơn (ý kiến của bị đơn) sẽ không được gọi là yêu cầu phản tố nếu nó không có sự “độc lập” so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hoặc yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ

1.2 Phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến bị đơn

Thứ nhất, về thời hiệu đưa ra yêu cầu Yêu cầu phản tố sẽ được áp dụng thời hiệu như thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn Do đó, nếu bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố khi đã hết thời hiệu khởi kiện, hay một hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án ra bản án sơ thẩm thì Tòa phải đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn Còn ý kiến của bị đơn chỉ là quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ mà không phải yêu cầu độc lập nên ý kiến phản đối của bị đơn không bị áp dụng thời hiệu khởi kiện

Thứ hai, về thời điểm đưa ra yêu cầu Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải5 Sau thời điểm này, nếu

bị đơn muốn yêu cầu Tòa án giải quyết thì phải khởi kiện một vụ án khác chứ không còn quyền đưa

ra yêu cầu phản tố trong cùng vụ án Đối với ý kiến phản đối, bị đơn có quyền đưa ra quan điểm của mình với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ trong quá trình giải quyết

vụ án mà không bị giới hạn về thời điểm đưa ra yêu cầu

Thứ ba, trình tự, thủ tục đưa ra yêu cầu Trình tự, thủ tục đưa ra yêu cầu phản tố được thực hiện như quy định về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn Do đó, nếu muốn đưa ra yêu cầu phản tố trong một vụ

án cụ thể, bị đơn phải thực hiện các thủ tục cần thiết để Tòa án chấp nhận thụ lý yêu cầu phản tố6 Còn với ý kiến phản đối, bị đơn không phải làm thủ tục mà được phép trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, hoặc NCQLNVLQ trong quá trình giải quyết vụ việc

Thứ tư, trường hợp Tòa án không chấp nhận thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án do nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác Bởi vì về bản chất, yêu cầu phản tố mang tính “độc lập” so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ Còn ý kiến phản đối lại phụ thuộc chặt chẽ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ Vì thế, bị đơn không thể khởi kiện bằng một

vụ án khác và cũng không đặt ra vấn đề khởi kiện vụ án khác đối với ý kiến phản đối của mình

1.3 Căn cứ xác định yêu cầu phản tố

Căn cứ để xác định yêu cầu phản tố gồm: Xác định yêu cầu phản tố dựa vào chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố, chủ thể bị phản tố; Xác định yêu cầu phản tố dựa vào nội dung yêu cầu phản tố

1.2.1 Xác định căn cứ vào chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố và chủ thể bị phản tố

Theo khoản 4 Điều 72 BLTTDS 2015 thì bị đơn có quyền “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.”

Như vậy, chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu phản tố chỉ có thể là bị đơn Trong một vụ án dân sự, bị đơn hoàn toàn có thể đưa ra yêu cầu phản tố để nhằm bảo về lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu

4 Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP

5 Khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015

6 Điều 202 BLTTDS 2015

Trang 7

khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ Còn chủ thể bị phản tố chỉ có thể là nguyên đơn hoặc NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập Nếu yêu cầu của bị đơn đưa ra với người không phải là đương sự trong vụ án sẽ không được xem là yêu cầu phản tố

1.2.2 Xác định yêu cầu phản tố dựa vào nội dung của yêu cầu

- Nội dung của yêu cầu phản tố phải độc lập với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ:

Theo Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP: Yêu cầu của bị đơn sẽ được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết Nếu yêu cầu của

bị đơn không độc lập, có cùng với yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập thì sẽ không được gọi là yêu cầu phản tố mà trở thành ý kiến trình bày của bị đơn

- Nội dung của yêu cầu phản tố có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị bù trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, NCQLNVLQ:

Theo khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, NCQLNVLQ

có yêu cầu độc lập sẽ được Tòa án chấp nhận nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập; + Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập;

+ Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

1.4 Ý nghĩa của quy định về yêu cầu phản tố

Về mặt pháp luật, việc quy định về yêu cầu phản tố và quyền đưa ra yêu cầu phản tố sẽ tạo sự đối trọng và cân bằng pháp luật giữa các đương sự trong vụ án Nếu như nguyên đơn có thể đưa ra yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể đưa ra yêu cầu độc lập thì bị đơn hoàn toàn có quyền đưa ra yêu cầu của mình giống các chủ thể khác nhằm có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này giúp thể hiện tính bình đẳng của pháp luật

Mặt khác, khi yêu cầu phản tố được chấp thuận sẽ có thể giúp Hội đồng xét xử giải quyết vụ án nhanh chóng và chính xác hơn Đồng thời, giúp tiết kiệm chi phí cho người tham gia tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng nếu yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp thuận giải quyết trong cùng một vụ án

do nguyên đơn khởi kiện

II Thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện

2.1 Thực tiễn xét xử

Trong tình huống đã tóm tắt, chúng ta xác định được nội dung đơn phản tố của ông T như sau: Thứ nhất là yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H Thứ hai là yêu cầu công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T Thứ ba là yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất

Còn yêu cầu khởi kiện của ông H là ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đất cùng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ông sẽ có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại 25.000.000 đồng Trong trường hợp do vi phạm pháp luật dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không tiếp tục thực hiện thì yêu cầu ông T hoàn trả tiền đặt cọc 129.465.000 đồng

Trang 8

Có hai quan điểm khác nhau về yêu cầu trong đơn phản tố của bị đơn: Tòa án cấp sơ thẩm thì coi các yêu cầu của ông T là yêu cầu phản tố còn Tòa phúc thẩm thì cho rằng: Yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H là ý kiến phản bác trình bày của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố, còn các yêu cầu: công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T và công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất của ông

T là hai yêu cầu có liên quan đến NCQLNVLQ là ông T và bà L, hai yêu cầu này không trái với quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận để xem xét trong cùng vụ án chưa thể hiện các yêu cầu này là yêu cầu phản tố hay là không phải yêu cầu phản tố và cũng không giải thích rằng tại sao yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố

Quan điểm của Tòa sơ thẩm: “Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T; Hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/01/2010 giữa ông Nguyễn Vinh H và ông Nguyễn Văn T số tiền đặt cọc 129.465.000 đồng thuộc về ông Nguyễn Văn T”

Quan điểm của Tòa phúc thẩm:

“Nhận thấy, bị đơn có “Đơn yêu cầu phản tố” với nội dung: Yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H; công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T; công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất và cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu là có một phần chưa đúng quy định Bởi lẽ: Đơn yêu cầu phản tố của bị đơn có 03 nội dung, nội dung thứ nhất là thể hiện quan điểm phản bác lại yêu cầu khởi kiện, không phải là phản tố, còn 2 nội dung còn lại có liên quan đến NCQLNVLQ là ông T và bà L, hai yêu cầu này không trái với quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận để xem xét trong cùng vụ án Như vậy, Tòa phúc thẩm cho rằng Yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H không phải là yêu cầu phản tố, còn 2 yêu cầu còn lại là ; công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T; công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất”

Theo quan điểm của cá nhân tôi thì yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H không phải là yêu cầu phản tố vì không đáp ứng về mặt nội dung của yêu cầu phản tố còn 2 yêu cầu còn lại gồm: “Công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T” và “Công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất” chính là hai yêu cầu phản tố vì thỏa mãn căn cứ về mặt chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố, chủ thể bị phản tố và nội dung của yêu cầu phản tố

Cần lưu ý, với tình huống trên yêu cầu phản tố của bị đơn đưa ra đối với nguyên đơn, nên khi phân tích ta chỉ xét mối quan hệ giữa các yêu cầu mà bị đơn đưa ra với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chứ không xét đến mối quan hệ với yêu cầu độc lập của những NCQLNVLQ để đánh giá các nội dung

có trong đơn phản tố của bị đơn Mặt khác, chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố ở đây là ông T – bị đơn, chủ thể bị phản tố là ông H – nguyên đơn nên thỏa mãn căn cứ về chủ thể đưa ra yêu cầu phản tố và chủ thể bị phản tố

Một, về yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/01/2010 giữa ông T và ông H:

Xét về mối tương quan giữa yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu của bị đơn thì hai yêu cầu này nằm trong cùng một mối quan hệ và yêu cầu của bị đơn không phải là độc lập so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Theo đó, cả yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn đều liên quan đến hợp đồng đặt cọc 25/01/2010 Ông

H và ông T đều xác nhận vào ngày 25/01/2010, hai bên lập hợp đồng đặt cọc với số tiền đặt cọc là 129.465.000 đồng, số còn phải thanh toán là 105.000.000 đồng Tuy nhiên, ông H cho rằng ông đã thanh toán xong số tiền còn lại là 80.000.000 đồng trong đợt 4, nhưng do ông T không tiếp ông T không tiếp tục thực hiện hợp đồng nên ông chưa giao số tiền 25.000.000 đồng lần thứ 5 Do đó, ông

H yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đất cùng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 9

đất, ông sẽ có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại 25.000.000 đồng Trong trường hợp do vi phạm pháp luật dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không tiếp tục thực hiện thì yêu cầu ông T hoàn trả tiền đặt cọc 129.465.000 đồng Còn ông T lại đưa ra ý kiến ngược lại rằng ông H chưa thanh toán bất kỳ một khoản tiền nào theo thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc Đồng thời, cả hai bên đều đồng ý với sự việc

“đến ngày 15/4/2010 ông H đã xác nhận vào hợp đồng đặt cọc “Không thực hiện”, nội dung này xác nhận do ông H không thực hiện đúng thỏa thuận về việc giao tiền, nên hai bên cùng thống nhất không thực hiện nội dung ghi tại hợp đồng đặt cọc Vì vậy, ông T không đồng ý yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và trả lại tiền cọc nếu không tiếp tục thực hiện hợp đồng của nguyên đơn, nên yêu cầu Tòa

án hủy hợp đồng đặt cọc trên

Như vậy, cả hai quan hệ pháp luật này có điểm giống nhau về tính chất, “cùng” nằm trong phạm vi nguyên đơn yêu cầu xem xét Yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc của ông T phát sinh từ yêu cầu khởi kiện trả lại tiền cọc của ông H Khi tòa án xem xét đến yêu cầu khởi kiện của ông H tất nhiên sẽ xem xét đến hợp đồng đặt cọc để nhằm có thể giải quyết tranh chấp của các bên vì hai bên đều có yêu cầu liên quan đến hợp đồng đặt cọc Trường hợp ông H chưa thanh toán khoản tiền cọc nào như ông T đã trình bày và các bên thống nhất không thực hiện nội dung ghi tại hợp đồng đặt cọc thì tất nhiên ông T sẽ không phải trả lại số tiền là 129.465.000 đồng tiền đặt cọc và dẫn đến Tòa án sẽ hủy hợp đồng đặt cọc Do đó, có cơ sở để cho rằng, về cơ bản, việc ông T không đồng ý trả số tiền cọc là 129.465.000 đồng theo hợp đồng và yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc không phải là yêu cầu phản tố mà chỉ là yêu cầu phản bác lại yêu cầu của nguyên đơn Yêu cầu này phản đối việc công nhận và tiếp tục thực hiện hợp đồng của nguyên đơn nên chỉ được coi là ý kiến trình bày của bị đơn

Hai, về yêu cầu công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất:

Đầu tiên, về mặt đối tượng thì lẽ ra yêu cầu “công nhận hợp đồng ủy quyền” và “công nhận quyền sử dụng đất” của ông T không được coi là yêu cầu phản tố vì nằm trong phạm vi khởi kiện của ông H đối với ông T (đều là quyền sử dụng đất) Tuy nhiên, trong tình huống trên, chúng lại được xem là yêu cầu phản tố, bởi vì cả 2 yêu cầu này của ông T tuy đưa ra đối với nguyên đơn nhưng lại đề cập đến người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vợ chồng ông T và bà L) chứ không phải là với nguyên đơn nên chúng có quan hệ “độc lập” với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tiếp theo, như đã phân tích trên đây thì yêu cầu công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông H và ông T là hai yêu cầu “độc lập” không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn đã yêu cầu Toà án giải quyết Do đó, ông T hoàn toàn có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết hai vấn đề này trong một phiên tòa khác nếu không được Tòa án chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án7 Tuy nhiên, ta nên xem đây là yêu cầu phản tố và giải quyết luôn trong vụ án, bởi việc giải quyết yêu cầu phản tố này của ông T có thể bù trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà bị đơn phải thực hiện theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Cuối cùng, hai yêu cầu của bị đơn ông T mặc dù không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn đưa ra, nhưng có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nếu Tòa án coi các yêu cầu này là yêu cầu phản tố và đem ra xem xét trong cùng vụ án sẽ làm cho việc giải quyết vụ án này được nhanh và chính xác hơn Theo đó, phần diện tích đất số 229 tờ bản đồ số 116, diện tích 710,5m2, tại phường 12, thành phố Vũng Tàu trong thỏa thuận giữa ông T và ông H đã được ông T ủy quyền cho ông Xuân T định đoạt, sau đó ông Xuân T đã chuyển nhượng lại cho bà L và cuối cùng hiện tại bà L là người có quyền

sử dụng đất đối với thửa đất này Như vậy, việc công nhận hay không công nhận quyền sở hữu đất

7 Khoản 6 Điều 72 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác.”

Trang 10

của bà L sẽ gián tiếp giải quyết việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn (là tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng đất)

Chính vì những lẽ trên mà theo quan điểm của cá nhân tôi, yêu cầu công nhận “Hợp đồng ủy quyền” ngày 18/6/2010 giữa vợ chồng ông T và ông T và công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất là hai yêu cầu phản tố và nên được giải quyết trong cùng vụ án

Có thể thấy rằng, cùng trong một vụ án như đã nêu nhưng Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm lại có quan điểm khác nhau trong việc xác định đâu là yêu cầu phản tố mà đâu không phải là yêu cầu phản tố Tuy nhiên, thực tế cho thấy không chỉ riêng trường hợp mà Tòa án xác định không đúng yêu cầu phản

tố như đã nêu mà còn khá là nhiều trường hợp khác Có nhiều trường hợp Tòa án không xem yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố mà lại xem đó là yêu cầu phản bác của bị đơn, hoặc có xác định đó là yêu cầu phản tố nhưng lại không xem xét yêu cầu đó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án

Đơn cử như vụ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là ông Q và bị đơn là bà S Tóm tắt vụ việc như sau:

Ông Q (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu ly hôn với vợ là bà S (bị đơn), yêu cầu được nuôi 01 con chung

là cháu Võ Thị Phương H, không yêu cầu bị đơn bà S cấp dưỡng nuôi con Mặt khác, về tài sản chung

là nhà, đất thuộc thửa 2038 và quyền sử dụng đất thửa số 37 của hai vợ chồng thì nguyên đơn yêu cầu giao toàn bộ tài sản chung cho bị đơn bà S quản lý, sử dụng và bị đơn bà S phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng Nếu không thỏa thuận được, nguyên đơn yêu cầu phân chia đôi tài sản trên, giao cho nguyên đơn quản lý sử dụng thửa đất 2038 và sở hữu 01 ngôi nhà trên đất; giao bị đơn bà S quản lý

sử dựng thửa đất 37, buộc bị đơn bà S thối lại tiền chênh lệch cho nguyên đơn là 550.000.000đ Về

nợ chung thì ông xác định hai vợ chồng có nợ chung tại Ngân hàng với dư nợ gốc là 1.436.000.000đ được thế chấp từ tài sản của người thứ ba là Quyền sử dụng đất thửa đất số 14 có diện tích 639,7m2 mang tên ông Võ Duy H, bà Huỳnh Thị K Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà S nhận 02 tài sản mà nguyên đơn có nguyện vọng giao hết cho bị đơn và bị đơn có trách nhiệm trả nợ với Ngân hàng

Bị đơn có gửi đơn phản tố đến Tòa án sau khi bị kiện và được Tòa án chấp nhận với nội dung như sau: yêu cầu chia tài sản chung là nhà, đất thuộc thửa 2038; thửa 37 trên; xác định diện tích đất 182m2 (đo đạc thực tế là 141.11m2) nằm trong diện tích thửa 37 là tài sản riêng của bị đơn; yêu cầu ông Q hoàn trả cho bị đơn các khoản tiền học, tiền nuôi các con, tiền trả nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng, trả tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Trong quá trình giải quyết, Tòa sơ thẩm cho rằng các yêu cầu này không phải là yêu cầu phản tố, còn Tòa phúc thẩm cho rằng yêu cầu chia tài sản chung là nhà, đất thuộc thửa 2038; thửa 37 là ý kiến trình bày của bị đơn chứ không phải là yêu cầu phản tố, còn yêu cầu ông Q hoàn trả cho bị đơn các khoản tiền nêu trên là yêu cầu phản tố.8

Ta thấy, trong trường hợp này, việc coi yêu cầu chia tài sản chung là nhà, đất thuộc thửa 2038; thửa

37 trên không phải là yêu cầu phản tố là hợp lý Bởi vì, yêu cầu này giống với một phần yêu cầu của nguyên đơn Còn yêu cầu còn lại nên được coi là yêu cầu phản tố, vì những yêu cầu này là đều độc lập so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, nếu được chấp nhận sẽ bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, giúp giải quyết vụ án nhanh hơn

Như vậy, có thể đánh giá rằng, dù ở trong cùng vụ án nhưng quan điểm về xác định nội dung yêu cầu phản tố, và chấp nhận giải quyết yêu cầu của bị đơn như một yêu cầu phản tố của mỗi Tòa là khác nhau Do đó, thiết nghĩ, pháp luật quốc gia Việt Nam cần có một số sự thay đổi trong khi quy định về yêu cầu phản tố để áp dụng pháp luật được thống nhất hơn

8 Xem phụ lục Bản án 04/2021/HNGĐ-PT ngày 28/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Trang 11

2.1 Pháp luật của một số quốc gia về yêu cầu phản tố

2.1.1 Pháp luật Đài Loan

Pháp luật tố tụng dân sự Đài Loan có đưa ra một số quy định liên quan giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu khởi kiện Theo đó, yêu cầu phản tố sẽ không thể được đưa ra nếu như nó thuộc thẩm quyền xét

xử của một tòa án khác, hoặc nếu nó không liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn cũng như không liên quan đến ý nghĩa bào chữa của bị đơn Ngoài ra, yêu cầu phản tố còn sẽ không được đưa ra nếu không thể xét xử trong cùng một vụ kiện với yêu cầu của nguyên đơn Tòa án có thể bác bỏ yêu cầu phản tố mà không ảnh hưởng đến việc một bên đưa ra yêu cầu này nhằm mục đích trì hoãn kiện tụng.9Vậy, theo pháp luật Đài Loan thì yêu cầu không liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, cũng như không liên quan đến nội dung trình bày của bị đơn thì không là yêu cầu phản tố và không được đưa

ra nếu thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án khác

2.1.2 Quy chế Illinois (Tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ)

Quy chế Illinois (Tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ) thì cho rằng Bất kỳ khiếu nại nào của một hoặc nhiều

bị đơn chống lại một hoặc nhiều nguyên đơn, hoặc chống lại một hoặc nhiều người có quyền lợi nghĩa

vụ, cho dù là trong bản chất bù trừ, bồi hoàn, yêu cầu chéo hoặc theo cách khác, và cho dù là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng hay trong hợp đồng, đối với các thiệt hại bồi thường hay chưa bồi thường, hoặc đối với các biện pháp giảm nhẹ khác, có thể được coi như một tuyên bố trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và khi được yêu cầu như vậy sẽ được gọi là yêu cầu phản tố.10Theo đó, yêu cầu khiếu nại của bị đơn với nội dung là bù trừ, bồi thường, hoàn trả và một số yêu cầu khác (kể cả yêu cầu chéo) nhằm mục đích chống lại nguyên đơn trong một vụ án dân sự sẽ được coi là yêu cầu phản tố

2.3 Kiến nghị hoàn thiện

Từ quá trình phân tích và tham khảo các ý kiến trên mà tôi đưa ra các kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, các nhà làm luật nên bổ sung khái niệm về yêu cầu phản tố và ý kiến trình bày của bị đơn vào trong Bộ luật tố tụng dân sự Đồng thời, làm rõ về vấn đề “độc lập” trong nội hàm của yêu cầu

mà bị đơn đưa ra Mặc dù đã có Nghị quyết 05/2012/HĐTP giải thích về hai vấn đề này, tuy nhiên Nghị quyết trên đã hết hiệu lực và gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng nên cần hướng dẫn mới rõ ràng hơn

Theo quan điểm cá nhân, nên bổ sung khái niệm của yêu cầu phản tố vào pháp luật tố tụng dân sự như sau: Yêu cầu phản tố là yêu cầu mà bị đơn đưa ra, có mối quan hệ độc lập với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án giải quyết

Một yêu cầu của bị đơn được coi là “độc lập” khi nó không có cùng quan hệ pháp luật với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập “Độc lập” ở đây nên được xét về mặt chủ thể hướng đến lẫn đối tượng: Trường hợp yêu cầu mang tính độc lập của bị đơn được đưa ra đối với nguyên đơn nhưng nội dung đề cập đến NCQLNVLQ hoặc đưa ra đối với

9 Article 260 of Taiwan Code of Civil Procedure: “No counterclaim may be raised if it is subject to the exclusive jurisdiction of another court or if it is neither related to the plaintiff's claim nor related to the defendant's means of defense No counterclaim may

be raised if it cannot be adjudicated in the same proceeding with the plaintiff's claim The court may dismiss a counterclaim without prejudice where it is raised by a party for purposes of delaying litigation”

Trang 12

NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập nhưng lại có nội dung đề cập tới nguyên đơn thì vẫn có thể được xem là yêu cầu phản tố

Thứ hai, nên quy định về đặc điểm của yêu cầu phản tố và cách để xác định yêu cầu phản tố trong từng loại vụ án khác nhau Hiện nay, có rất nhiều quan điểm trong việc xác định yêu cầu của bị đơn

là phải hay không phải yêu cầu phản tố trong một vụ án ly hôn (như yêu cầu chia tài sản chung), tranh chấp quyền sử dụng đất (yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)…Do đó, để Tòa án có quan điểm thống nhất với nhau trong việc áp dụng pháp luật đối với yêu cầu phản tố thì nên bổ sung hướng dẫn quy định về đặc điểm của yêu cầu phản tố

Có thể bổ sung hướng dẫn sau:

- Yêu cầu phản tố không mang bản chất giống với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ Nếu yêu cầu của bị đơn phát sinh từ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ thì yêu cầu này chỉ được coi là ý kiến trình bày của bị đơn, hoặc nếu trong quá trình xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ sẽ bao gồm cả quá trình xem xét luôn cả yêu cầu của bị đơn để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ thì yêu cầu này không được gọi là yêu cầu phản tố (như tình huống trên) Tức là yêu cầu phản tố của bị đơn không mang những đặc điểm, tính chất giống với quan hệ pháp luật trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ

- Trong trường hợp, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nhưng yêu cầu đó đề cập đến các quyền và nghĩa vụ đối với người có quyền, nghĩa vụ liên quan thì yêu cầu đó vẫn sẽ được coi là yêu cầu phản tố nếu thông qua việc giải quyết yêu cầu đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của nguyên đơn hoặc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Thứ ba, về phạm vi áp dụng yêu cầu phản tố Theo BLTTDS 2015, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản đối đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Cho nên, trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập thì bị đơn không có quyền phản tố đối với họ, mặc dù yêu cầu này có liên quan tới quyền, nghĩa vụ của đương

sự và việc chấp nhận xét xử trong một vụ án sẽ giúp giải quyết vụ án chính xác hơn

Do đó, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng yêu cầu phản tố bằng cách sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều

200 BLTTDS 2015 theo hướng: Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Trong trường hợp, bị đơn đưa ra yêu cầu đối với NCQLNVLQ không có yêu cầu độc lập thì yêu cầu này vẫn có thể được xem như là một yêu cầu phản

tố và có thể được chấp thuận nếu việc giải quyết yêu cầu đó có thể giúp Tòa án giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác hơn hoặc trong trường hợp yêu cầu đó của bị đơn nếu được giải quyết bằng vụ án khác sẽ không đảm bảo kịp thời quyền lợi của các đương sự trong vụ án

Trang 13

KẾT LUẬN

Yêu cầu phản tố là một trong những nội dung vô cùng quan trọng được BLTTDS quy định nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, còn nhiều quy định của BLTTDS về yêu cầu phản tố chưa được rõ ràng làm phát sinh bất cập, gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định yêu cầu để giải quyết các vụ án dân sự, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Hy vọng, những phân tích trên có thể góp phần hoàn thiện quy định BLTTDS về yêu cầu phản tố và xác định yêu cầu phản tố, nâng cao hiệu quả cho người làm công tác áp dụng pháp luật

Trang 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A Danh mục văn bản pháp luật

1 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2015

2 Nghị quyết số 05/2015/NQ-HĐTP ban hành ngày ngày 03 tháng 12 năm 2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của

Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

B Danh mục các tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Ngọc Sơn, “Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt

Nam”, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự định hướng nghiên

cứu

Tài liệu từ internet:

3 Cao Nhất Linh (Khoa Luật - Đại học Cần Thơ) và Phạm Việt Trung (Tòa án Nhân dân tỉnh Cà Mau), “Phản tố, kiện lại của bị đơn trong tranh chấp kinh doanh, thương mại - Bất cập và

hướng hoàn thiện”, Tạp chí Công thương

Trang 15

PHỤ LỤC BẢN ÁN ĐÍNH KÈM

ĐƯỢC TRÍCH DẪN

1 Bản án 47/2018/DS-PT ngày 08/06/2018 của Tòa án

nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về “Tranh chấp hợp

đồng đặt cọc, hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

1

2 Bản án 04/2021/HNGĐ-PT ngày 28/05/2021 của Tòa

án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về ly hôn, tranh chấp nuôi

con, chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng tín

dụng

7

Ngày đăng: 14/11/2022, 11:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w