1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài thi kết thúc học phân môn LỊCH sử NHÀ nước và PHÁP LUẬT quyền lực của vua trong nhà nước phong kiến việt nam, pháp luật phong kiến

10 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG VẤN ĐỀ 1 Quyền lực của Vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam là tuyệt đối, vô hạn Đây là nhận định sai, bởi vì Quyền lực của nhà vua trong xã hội phong kiến rất lớn, nhưng không phải vô hạn,.

Trang 1

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ: 2 NĂM HỌC 2019 - 2020 Học phần: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Hình thức thi:

Giảng viên:

Sinh viên:

MSV:

Lớp:

Đề thi:

Những nhận định sau đây đúng hay sai? giải thích tại sao?

1 Quyền lực của Vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam là tuyệt đối, vô hạn

2 Nhà nước phong kiến chỉ được xác lập trên cơ sở tư tưởng nho giáo

và pháp trị

3 Pháp luật phong kiến Việt Nam trong chừng mực nhất định đã bảo

vệ quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình

4 Trong thời kỳ pháp thuộc (1884 – 1945), pháp luật của triều Nguyễn được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Ngày tháng năm

Trang 2

NỘI DUNG VẤN ĐỀ 1: Quyền lực của Vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam

là tuyệt đối, vô hạn.

Đây là nhận định sai, bởi vì Quyền lực của nhà vua trong xã hội phong kiến rất lớn, nhưng không phải vô hạn, tối cao.

Nhà nước phong kiến việt nam chủ yếu tồn tại dưới hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến Nguyên nhân khách quan là do Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á , một trong những nơi mà nhà nước Phong kiến hình thành sớm và hưng thịnh nhất, hơn thế nữa sau hơn 1000 năm bắc thuộc, sự ảnh hưởng của bộ máy chính quyền cai trị phương Bắc tới tư tưởng và tiềm thức của nhân dân ta rất lớn, nhà nước độc lập của nước ta cũng hình thành ngay sau khi chấm dứt sự đô hộ của phong kiến Phương Bắc nên những vị vua lên cầm quyền vẫn duy trì bộ máy nhà nước như vậy

Về mặt chủ quan Đây là hình thái nhà nước phù hợp với quan hệ sản xuất phong kiến, vua được hình thành theo nguyên tắc thế tập, giữ quyền lực tối cao về mọi mặt, là người sở hữu cao nhất về ruộng đất.Việc nhà vua hình thành theo thế tập cũng đảm bảo cho nền thống trị của các dòng họ

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, Vua tự coi mình là thiên tử - con trời, do trời cử xuống để cai trị nhân dân Địa vị đó đã được trời định sẵn, vua là người đứng đầu cả nước, mọi người đều là thần dân của vua Vua chỉ đứng dưới trời còn đứng trên tất cả nhân dân, nắm trọn trong tay cả vương quyền và thần quyền

Tùy từng thời kì, từng mô hình bộ máy nhà nước khác nhau, thẩm quyền của vua cung khác Nhưng nhìn chung đều có những quyền hạn sau:

- Là người duy nhất có quyền lập pháp

- Toàn quyền bổ nhiệm, thăng, giáng, thưởng, phạt, thuyên chuyển, quy định quyền hạn, trách nhiệm và lương bổng đối với quan lại trong cả nước

- Có quyền xét xử cao nhất đối với các vụ án, có quyền đại xá, đặc xá cho các can phạm Ngoài vương quyền, vua còn nắm cả thần quyền Thể

Trang 3

hiện ở việc chỉ có vua mới có quyền tế trời, còn thần dân chỉ được thờ cúng

tổ tiên của mình và các thành thánh, vua đóng vai trò là chủ tế trong các buổi tế trời Vua đứng đầu thần quyền trong cả nước, có quyền sắc phong chức, tước trong lĩnh vực tôn giáo Trong chế độ phong kiến, vua còn là chủ

sở hữu tối cao đối với ruộng đất công của các làng xã trong cả nước

Tuy nhiên quyền lực của vua trong xã hội phong kiến nói chung vẫn không phải là vô hạn, nó được thể hiện trên một số phương diện:

Một là, bởi bổn phận thân dân của nhà vua:Nguồn gốc của bổn phận

thân dân của nhà vua xuất phát từ quan điểm thiên nhân tương dữ ( trời và người hiểu nhau, có quan hệ với nhau ) của Nho giáo Việt Nam, trong thời

kỳ phong kiến, thân dân của nhà vua không chỉ xuất phát từ tư tưởng thân dân của Nho giáo, mà còn xuất phát từ việc thực hiện chức năng cơ bản của nhà nước Chức năng chống ngoại xâm trở thành chức năng cơ bản hàng đầu của tất cả các vương triều phong kiến Việt Nam: nhà Lý chống Tống, nhà Trần chống Nguyên Mông, nhà Lê chống Minh, Triều Tây Sơn chống Thanh… Để thực hiện chức năng đó, các triều đại phong kiến Việt Nam khi thực hiện các chức năng đối nội luôn phải tính đến việc thu phục lòng dân, củng cố khối đoàn kết dân tộc bằng cách thân dân Vì vậy, Trong khi thực hiện quyền hành pháp, có những quyết định của nhà vua vì bổn phận thân dân đôi khi đi ngược lại với lợi ích của triều đình mình Ví dụ dưới triều Nguyễn, nhà nước không quy định việc chẩn cấp cho những người giập hỏa hoạn song khi nhân dân gặp hỏa hoạn, các quan quản dân đã tự động mở kho cứu tế cho dân Khi việc này bị phát giác, Minh Mạng buộc phải tha bổng cho các quan chức đã tự tiện chẩn cấp cho dân Mỗi khi có thiên tai, khi đăng quang, khi sinh hoàng tử, để thực hiện bổn phận thân dân, nhà vua

đã đại xá, đặc xá cho kẻ phạm tội

Hai là, bởi phương thức nghị đình: Phương thức nghị đình là một tập

quán chính trị trong các triều đại phong kiến Việt Nam, trước khi đưa ra các quyết sách quan trọng, nhà vua phải tham khảo ý kiến của Hội đồng đình

Trang 4

thần trong các phiên triều Tuy nhiên không phải lúc nào và việc gì trước khi quyết định nhà vua cũng phải thảo luận bàn bạc trước với các quan chế

Do công việc quản lý cá lực của đời sống kinh tế xã hội đặc biệt phức tạp, hoàng đế phải trao các quyền hạn cho quan chức để họ thay mặt mình thực thi quyền lực nhà nước Ý chí của nhà vua còn bị hạn chế bởi hoạt động can gián của các ngôn quan (quan chức trong ngự sử đài , thời Lê),Đô sát viện thời Nguyễn, và các triều thần trung thực thẳng thắn Mục đích của hoạt động can giám làm cho nhà vua nhận thức được các chính sách sai lầm của mình và tìm cách khắc phục

Ba là: Bởi chế độ khoa cử. Khoa cử với một đặc trưng khách quan vô tư

đã lựa chọn được nhân tài cho đất nước, song mặt khác khoa cử khiến nhà vua không thể mặc sức theo ý muốn của mình mà bổ nhiệm quan lại

Bốn là: bởi tính tự quản của làng xã: Do còn tồn tại rất nhiều tàn dư của

thời kỳ công xã nông thôn, ảnh hưởng của hơn 10 thế kỷ đấu tranh chống đồng hóa thời Bắc thuộc mà làng xã Việt Nam trong lịch sử mang tính tự quản cao.Quyền hành của nhà vua bị hạn chế do chế độ tự trị của làng xã

Sở dĩ như vậy vì làng nào cũng có phong tục tập quán riêng Vua không can thiệp trực tiếp vào công việc của thôn xã được Sự giao tiếp giữa làng và nước ở đây có chăng chỉ là hai việc lớn, một là việc đóng thuế hàng năm cho công khố, và hai là cung cấp số lính cần thiết cho quân đội hoàng gia Nhưng trong hai việc này, vua không trực tiếp giao thiệp với dân chúng trong xã mà buộc phải dùng tổng xã làm trung gian Bởi vậy mới có câu ngạn ngữ nổi tiếng :” phép vua thua lệ làng”

VẤN ĐỀ 2: Nhà nước phong kiến chỉ được xác lập trên cơ sở tư tưởng nho giáo và pháp trị

Quan điểm này không chính xác Cơ sở ra đời của nhà nước phong kiến Việt Nam, nhìn chung, hệ tư tưởng nho giáo và pháp trị có vai trò chủ đạo, tuy nhiên tùy từng thời điểm, nhà nước phonng kiến được xác lập trên các

Trang 5

cơ sở khác nhau Trong đó có mối tương quan giữa nho giáo, đạo giáo, phật giáo và mối tương quan giữa pháp trị và nhân trị

Nhà nước Văn Lang ra đời trên cơ sở: Nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm.: do nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, sống ở vùng hạ lưu sông hồng, nước chảy mạnh, thường xuyên lũ lụt vì vậy xuất hiện về trị thủy và làm thủy lợi,cần nhiều sức người, cần ng lãnh đạo, chỉ huy Cùng với đó, Việt Nam nằm trong vùng “ bình Bách việt ” của Trung Quốc, cần số lượng người lớn để đi xâm lược, tự vệ cũng như chống giặc ngoại xâm

Nhà nước thời Ngô – Đinh – Tiền Lê được coi là nhà nước võ trị Nhà nước các triều đại này đều là các nhà nước võ trị, thể hiện ở việc coi trọng

võ quan Các vua cũng xuất thân từ võ tướng, quan lại chủ yếu là những võ tướng đã từng tham gia các cuộc đánh dẹp các sứ quân

Đến triều đại Lý – Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo, các vị vua đều có mối quan hệ chặt chẽ với Phật giáo, nên ảnh hưởng của phật giáo trong chính sách cai trị, đường lối cai trị và pháp luật rõ nét Đa số các vị vua xuất thân đều có liên quan đến đạo phật, mang trong mình tư tưởng từ

bi bao dung nên chính sách cai trị có phần thỏa đáng,nhẹ nhàng hơn Bên cạnh đó, do nhu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, nên Nho giáo cũng có ảnh hưởng nhất định đối với pháp luật phong kiến thời kỳ này Các chính sách và pháp luật của thời kỳ Lý – Trần đều

mang đường lối “thân dân” Phật giáo được coi như là quốc giáo, được

nhân dân cả nước tôn sùng Đa số những vị vua của 2 triều đại đều sùng phật, cho xây rất nhiều đền đài, chùa tháp, tô tượng, đúc chuông…dịch kinh phật, soạn sách

Đến thời Lê sơ, nho giáo được dùng đường lối này làm tư tưởng chính thống để cai trị quốc gia

Có thể nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng phát triển nông nghiệp và chống giặc ngoại xâm Về tư tưởng: lấy Phật giáo đến Nho giáo làm quốc giáo Tuy nhiên vẫn dung nạp các hệ tư tưởng khác như Đạo giáo

Trang 6

Và không có sự xung đột lớn về hệ tư tưởng Hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” xuất hiện từ thời Lý Trần là biểu hiện sinh động cho việc hòa hợp giữa Nho giáo – Phật Giáo – Đạo giáo

VẤN ĐỀ 3: Pháp luật phong kiến Việt Nam trong chừng mực nhất định đã bảo vệ quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình.

Đây là nhận định chính xác, trong xã hội phong kiến Việt Nam, người phụ nữ không chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo Tuy nhiên, trong chừng mực nhất định, xã hội phong kiến Việt Nam cũng đã bảo vệ quyền của người phụ nữ

Xã hội Việt Nam, thời phong kiến – pháp luật đã chịu ảnh hưởng nặng

nề bởi tư tưởng Nho giáo nên địa vị của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới Sự bất bình đẳng được thể hiện trước tiên chính là sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình Với quan niệm cần phải

có con trai để nối dõi tông đường nên xã hội phong kiến cho rằng “ nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” Quan điểm này chính là khởi điểm cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ ở chế độ phong kiến phải gánh chịu

“Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê – thế kỉ XV đã thể hiện nhiều điểm khá tiến bộ trong việc bảo

vệ quyền phụ nữ Đặc thù nhất thể hiện trong hai chương “ Hôn điền “ và “ Điền sản”

Điều 322 - "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu “ con rể lăng mạ cha mẹ vợ , đem thưa quan, cho ly dị” Đây là điều khoản cho thấy sự tiến bộ của các nhà làm luật lúc bấy giờ khi họ cho người phụ nữ quyền từ chối kết hôn và ly hôn với một người đàn ông nếu như họ cảm thấy anh ta có nhân cách không tốt Một trong những điều luật rất tiến bộ chưa từng thấy ở Việt Nam trước đó

Trang 7

-Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng được

ưu tiên bảo vệ như: cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng là có tội (điều 320); đặc biệt bộ luật quy định xử rất nặng đối với tội xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ như kẻ nào “hiếp dâm” thì xử lưu hay chết phải nộp tiền

tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường, nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương,Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết (điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (điều 404) Phụ nữ đang mà phạm tội thì cũng được giảm nhẹ.hơn so với nam giới

- Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt Luật) cũng quy định ba trường hợp khiến cho chồng không thể bỏ vợ được trừ khi người vợ ngoại tình là: vợ đã

để tang cha mẹ chồng; vợ đã làm nên giàu có; ngoài nhà chồng ra vợ không còn chỗ nào nương tựa nữa Nếu vi phạm một trong ba trường hợp ấy sẽ bị trừng trị đích đáng Vê việc trừng trị tội “ quấy rối tình dục” Điều 17 khoản

168 Hoàng Việt Luật Lệ quy định: “ người nào dùng lời thô tục dâm đãng làm cho người đàn bà xấu hổ mà tự tử thì phải xử đến hình giảo giam hậu”

Bộ luật còn quy định Cấm quan lại lấy đàn bà, con gái ở địa phương nơi mình đương chức quy định tại các Điều 103 và 183 nhằm tránh sự lạm dụng quyền thế của các quan để cưỡng bức con gái nhà lành hoặc gia đình nhà gái lợi dụng hôn nhân để chi phối quan quyền

Mặc dù trong pháp luật phong kiến Việt Nam thời đó quyền người phụ

nữ vẫn chưa được ghi nhận rõ ràng nhưng trên thực tế cuộc sống thì quyền của người phụ nữ lại được thể hiện giá trị bình đẳng rất rõ nét thông qua các công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học về lịch sử cho thấy rằng người phụ nữ Việt nam cũng có ảnh hưởng, có tiếng nói, địa vị quan trọng trong

xã hội, họ có thể làm những việc mà người đàn ông phải ngả mình, có thể làm chính trị, đấu tranh với những tấm gương sáng, tiêu biểu như: Hoàng Thái hậu Nguyên phi Ỷ Lan, Nữ tướng Lê Lợi, nữ tướng Lê Chân, Hồ Xuân

Trang 8

Hương, Huyện Thanh Quan đã để lại dấu ấn một thời, là hạt nhân long lanh đại diện cho người phụ nữ Việt Nam thời kỳ ấy

Với những quy định về quyền của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến như trên có thể thấy quyền của người phụ nữ Việt nam trong thời kỳ này còn bị hạn chế hơn nhiều so với quyền của nam giới Mặc dù hiện nay, trong quy định của pháp luật đã có những quy định tiến bộ, đảm bảo quyền, khẳng định vị thế cho người phụ nữ nhưng dấu ấn, tàn dư của chế độ cũ ít nhiều vẫn còn ảnh hưởng trong nhận thức, tư tưởng một số người Vì vậy, việc tiếp tục quy định trong luật, đẩy mạnh, nâng cao vị thế người phụ nữ Việt Nam nhằm tạo điều kiện tốt nhất đảm bảo quyền cho người phụ nữ cũng như cống hiến cho xã hội là việc làm thật sự cần thiết trong xã hội hiện nay

VẤN ĐỀ 4: Trong thời kỳ pháp thuộc (1884 – 1945), pháp luật của triều Nguyễn được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Đây là nhận định không chính xác, trong thời kỳ pháp thuộc, việc áp dụng pháp luật được thể hiện thông qua bộ máy cai trị của thực dân Pháp

Xã hội Việt Nam lúc nay là xã hội nửa thực dân phong kiến Hệ thống pháp luật thực dân và phong kiến đều được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam

Sơ lược thời kỳ Pháp thuộc: Từ năm 1884-1945, Việt Nam trở thành

thuộc địa của Pháp Sau khi chiếm được 6 tình Nam Kỳ, Pháp vẫn không từ

bỏ ý định đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Lợi dụng lúc vua Tự Đức qua đời, triều đình rối loạn, Pháp đánh thẳng vào Huế, vua Hiệp Hòa chấp nhận đầu hang và buộc phải ký Hiệp ước Hácmăng và sau đó là Hiệp ước Patơnốt

Trong thời gian từ năm 1884-1887, Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp, triều đại nhà Nguyễn với tư cách là một triều đại độc lập dân tộc đã chấm dứt, mở đầu thời kỳ Pháp thuộc Tuy vậy, triều Nguyễn và bộ máy nhà nước phong kiến vẫn tiếp tục được duy trì, tồn tại trên danh nghĩa

Trang 9

hình thức, bên canh đó là bộ máy cai trị của thực dân Pháp thiết lập trên lãnh thổ Việt Nam

Ở giai đoạn 1887-1945, Pháp vẫn tiếp tục tiến hành cải tổ bộ máy cai trị

ở trên lãnh thổ nước ta Pháp chia nước ta thành 3 kỳ để thực hiện việc cai trị, đứng đầu mỗi kỳ đều là người Pháp

Bộ máy cai trị:

- Giai đoạn 1884-1945, lãnh thổ nước ta được chia thành 3 kỳ, Nam kỳ vẫn thực hiện bộ máy cai trị như trước: đứng đầu Nam kỳ là Toàn quyền, do

Bộ thuộc địa và hải quân Pháp cử sang Trợ giúp cho viên toàn quyền có Tổng biện lý, Giám đốc nội chính, chánh chủ trì Ngoài ra còn có 3 cơ quan Nha nội chính, Hội đòng tư mật, Hội đòng thuộc địa trợ giúp chi toàn quyền

- Bắc kỳ và Trung kỳ được tổ chức thành 3 cấp: lường kỳ, kỳ và tỉnh Đứng đầu lưỡng kỳ là Tổng trú sứ, trực thuộc bộ chiến tranh Pháp, do võ quan đảm nhiệm, sau này trực thuộc bộ ngoại giao Pháp, do quan chức dân

sự đảm nhiệm Đứng đầu mỗi kỳ là thống sứ còn đứng đầu các tỉnh là cụng sứ

- Trong những năm từ 1887-1945, trên lãnh thổ Việt Nam, Pháp vẫn chia thành 3 kỳ để thực hiện việc cai trị Đứng đầu Bắc kỳ là viên Thống sứ người Pháp, do thổng thống Pháp bổ nhiệm và dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương Các cơ quan trợ giúp cho Thống sứ Bắc kỳ gồm có: Phủ thống sứ Bắc kỳ, phòng thương mại Bắc kỳ,phòng canh nông bắc kỳ, Hội đồng bảo hộ Bắc kỳ, Hội đồng giáo dục Bắc kỳ…

- Lãnh thổ Bắc kỳ được chia thành các tỉnh, thành phố và một số đạo quan binh Đứng đầu mỗi tỉnh là viên Công sứ hoặc Phó sứ người Pháp Các cơ quan trợ giúp gồm có: Tòa công sứ hoặc tòa phó sứ, hội đồng hang tỉnh Đứng đầu thành phố là viên Đóc lý người Pháp Đứng đầu các đạo quan binh là tư lệnh

Trang 10

- Đứng đầu Trung kỳ là Khâm sứ người Pháp Các cơ quan trợ giúp gồm

có tòa khâm sứ, Hội đồng học chánh trung kỳ, Viện dân biểu trung kỳ… Lãnh thổ Trung kỳ được chia thành các tỉnh, thành phố Đứng đầu là công

sứ tỉnh hay đốc lý

- Đứng đầu Nam kỳ là Thống đốc người Pháp Trợ giúp cho thống đốc là các cơ quan: tòa thống đốc nam kỳ, hội đồng tư mật Nam kỳ, Hội đồng thuộc đại Nam kỳ….Lãnh thổ Nam kỳ cũng được chia thành các tỉnh và thành phố

Về hệ thống pháp luật: Chính quyền thục dân và chính quyên phong kiến cùng tồn tại đồng thời nên hệ thống pháp luật của thực dân và pháp luật phong kiến đều được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam.

- Tại nam kỳ, pháp luật được áp dụng trong vùng lãnh thổ này bao gồm pháp luật của chính quốc và các quy định của Pháp dành cho các thuộc địa

- Tại Bắc kỳ, pháp luật của chính quốc, các quy định của Pháp dành cho thuộc địa và pháp luật của nhà Nguyễn được áp dụng

- Tại Trung kỳ, về danh nghĩa vẫn áp dụng luật của triều Nguyễn nhưng

để phục vụ cho lợi ích của chính quốc, các quy định pháp luật cũ đã bị ép phải sửa đổi nhiều điều khoản

- Sau này, từ năm 1939, Pháp cũng tiến hành đem áp dụng các quy định của Pháp trên toàn bộ vùng lãnh thổ Trung kỳ

Ngày đăng: 12/10/2022, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w