Nhậnthức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước đã có rấtnhiều chính sách, biện pháp để thúc đẩy và hỗ trợ cho sự phát triển của hệthống tín dụng nông thôn để đáp ứn
Trang 1Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nôngthôn và hơn 70% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Chính vì vậy, sản xuấtnông nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong chiến lược ổn định đời sống kinh tế,chính trị, xã hội của đất nước Để đạt được mục tiêu của Đảng và Nhà nước
về phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp, nông thôn thì vấn đề vốn cho đầu tư sản xuất là một yếu tố hết sứcquan trọng
Từ khi đổi mới khu vực nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu đáng kể, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế Nhậnthức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước đã có rấtnhiều chính sách, biện pháp để thúc đẩy và hỗ trợ cho sự phát triển của hệthống tín dụng nông thôn để đáp ứng nguồn vốn cho người dân đầu tư pháttriển sản xuất
Tuy nhiện, một thực tế tồn tại là hệ thống tín dụng nông thôn nước tavẫn còn chậm phát triển so với đòi hỏi thực tế Theo nghiên cứu và báo cáocủa các tổ chức trong nước và quốc tế, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu vẫn cònphổ biến ở khu vực nông thôn Nguyên nhân chủ yếu không chỉ do thiếu vốnsản xuất, mà khi có vốn người dân lại không biết cách sử dụng làm giảm giátrị đồng vốn, mặt khác trình độ hiểu biết của người nông dân còn hạn chế,phương thức sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống và lạc hậu, sử dụngnhiều lao động với năng suất thấp… Do vậy, để phát triển nông nghiệp, thayđổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống người dân, một trong những nhiệm
vụ hàng đầu là phải mở rộng tín dụng cho khu vực nông thôn, hướng dẫn sửdụng hợp lý đồng vốn vay để đáp ứng được nhu cầu vốn cho đầu tư và pháttriển Cho nên việc tiếp cận đầy đủ, toàn diện đến các nguồn tín dụng vẫn làmột trong những vấn đề hết sức khó khăn của nhiều hộ nông dân Thực trạngnày đòi hỏi hoạt động tín dụng nông nghiệp và nông thôn cần phải được cải
Trang 2thiện hơn nữa, góp phần giúp cho người dân tiếp cận, sử dụng các nguồn tíndụng hiệu quả hơn.
Xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là xã mà sảnxuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính, bên cạnh đó cũng có một số ngànhnghề phụ khác như mộc, nề, nón, buôn bán các hoạt động sản xuất nôngnghiệp hay phi nông nghiệp đều cần đến dịch vụ tài chính vi mô, nhu cầu vốntín dụng của người sản xuất khá lớn nhưng các nguồn dịch vụ tín dụng nôngnghiệp, nông thôn, cũng như các hộ được tiếp cận vay vốn còn hạn chế, cơchế hoạt động trong cung cấp, quản lý vốn của các tổ chức tín dụng còn nhiềuvấn đề bất cập, việc sử dụng vốn vay của hộ để đầu tư vào sản xuất nôngnghiệp, ngành nghề mặc dù có hiệu quả nhưng chưa cao Trong điều kiện hiệnnay, phát triển tín dụng nông nghiệp, nông thôn là điều cần thiết và người vayphải biết sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả để phát triển sản xuất, khắcphục những điều kiện khó khăn trong cuộc sống Vậy việc mở rộng và nângcao vai trò của hoạt động tín dụng trong lỉnh vực phát triển nông thôn, nôngnghiệp và nông dân trong tiến trình xây dựng nông thôn mới là rất quan trọng
Do vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu" Tìm hiểu hệ thống tín dụng ở xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình"
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các tổ chức tín dụng tại xã Quảng Trung, huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Tìm hiểu thực trạng tiếp cận vốn tín dụng của hộ dân trên địa bàn xã
- Đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và bản chất của tín dụng
2.1.1.Khái niệm về tín dụng
*Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay
và người đi vay Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao
Trang 3quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định,khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoácho người cho vay kèm theo một khoản lãi”.
Như vậy, khi đến thời hạn trả, bên đi vay phải có trách nhiệm thanhtoán đầy đủ cả gốc và lãi theo như điều khoản đã thoả thuận Bên cho vay làngười chủ sở hữu của số tiền hay hàng hoá đã chuyển giao quyền sử dụngtrong một khoảng thời gian nhất định, với mục đích sinh lời
Trong mối quan hệ trên xuất hiện một nhu cầu, đó là người cho vaymuốn bảo tồn giá trị của vốn bỏ ra và có lợi ích tăng thêm, do đó thoả thuậnvới người đi vay một phần giá trị tăng thêm, phần giá trị tăng thêm đó đượcgọi là lãi (lợi tức tín dụng)
Như vậy, lợi tức tín dụng là chi phí sử dụng tiền vay mà người đi vayphải trả, đồng thời cũng là lợi ích mà người cho vay nhận được khi quyết địnhchuyển giao quyền sử dụng hiện tại để tích luỹ cho tiêu dùng trong tương lai.Trong quan hệ tín dụng này, cả hai bên đều đạt được mục đích của mình,người đi vay giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư sản xuất kinh doanh,người cho vay thì nhận được khoản lợi tức tín dụng của mình
Sự ra đời và phát triển của tín dụng gắn liền với sự phân công lao động
xã hội và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Trong bất kỳ một xã hội nào
mà ở đó có sản xuất hàng hoá thì tất yếu ở đó có hoạt động tín dụng Tín dụngtồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển kinh tế
xã hội Trong điều kiện hiện nay, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh mẽ,
sự tồn tại của các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn là một đòi hỏi cần thiếtkhách quan của nền kinh tế Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trongđiều kiện sản xuất hàng hoá “Sự phát triển của nền kinh tế thường xuyên phátsinh nhu cầu về vốn rất lớn và cũng xuất hiện khả năng cung ứng vốn của các
cá nhân và tổ chức có vốn nhàn rỗi” Sự ra đời và phát triển của tín dụngkhông chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu điều hoà vốn trong xã hội mà còn là độnglực thúc đẩy tăng trưởng phát triển [1]
Dưới đây là biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng tín dụng trong 10 năm qua
từ 2001-2010 Nhìn vào biểu đồ ta thấy rằng năm 2008 tăng trưởng tín dụnglớn nhất và đến năm 2010 lại giảm xuống khá mạnh
Trang 42010, nhưng được gắn với tỷ trọng khoảng 90% tổng số doanh nghiệp ViệtNam hiện có.
Điểm nhấn thứ hai trong tốc độ tăng trưởng tín dụng gắn với lĩnh vựcphi sản xuất Lĩnh vực này gắn với hoạt động đầu tư, kinh doanh chứngkhoán, bất động sản và tín dụng tiêu dùng Kết quả năm 2010 cho thấy tốc độtăng tín dụng ở nhóm này chỉ còn 27.20%, gần với mức tăng trưởng chung,
Trang 5nhưng đã thấp hơn rất nhiều so với tốc độ của năm 2009 (41.74%) và chỉchiếm tỷ trọng 18,9% trong tổng cơ cấu dư nợ của hệ thống Một mảng tín dụng được các ngân hàng tập trung, thường được ưu đãi hơn,trong năm 2010 là tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, tốc độ tăng là 26.2% Mảng tíndụng đối với nông nghiệp và nông thôn vẫn khá khiêm tốn khi tăng 23.2%[25].
2.1.2.Bản chất của tín dụng
Trong thời kỳ tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy cùng với sự pháttriển của lưc lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội được mở rộng thìquan hệ hàng – tiền cũng được hình thành và bước đầu phát triển Tiền tệngày càng thể hiện đầy đủ hơn chức năng của mình Đây cũng chính là nhữngđiều kiện tiền đề làm nảy sinh những quan hệ về tín dụng Các Mác đã viết vềbản chất của tín dụng như sau: “Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữutrong một thời gian và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay người sở hữusang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanhtoán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại vớiđiều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định”.Đồng thời, Mác cũng quan niệm: “Trình bày nguồn gốc phát sinh của tiền tệnghĩa là phải khai triển các biểu hiện của giá trị, biểu hiện bao hàm trongquan hệ giá trị của hàng hóa từ hình thái ban đầu đơn giản nhất và ít thấy rõnhất đến hình thái tiền tệ là hình thái mà ai nấy đều thấy” [1]
+ Phân loại theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tíndụng dài hạn
+ Phân loại theo đối tượng cho vay: Tín dụng đối với khu vực kinh tếquốc doanh, tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh [2]
Trang 6- Cách thứ ba: Tín dụng vốn lưu động ngắn hạn, tín dụng vốn cố định,tín dụng luân chuyển dành cho các khoản phải trả hoặc hàng hóa dự trữ, tíndụng dự phòng, tín dụng vốn hoạt động dài hạn [4].
Trong các cách phân loại trên, đề tài tập trung xem xét ở cách phân loại 1 và 2
2.2 Khái niệm về tổ chức tín dụng, ngân hàng và chương trình tín dụng
-Tổ chức tín dụng: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định củaluật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt độngngân hàng [5]
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạtđộng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tínhchất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thươngmại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hànghợp tác và các loại hình ngân hàng khác [5]
- Chương trình tín dụng; Trong nền kinh tế mở, ngoài tín dụng thanhtoán và đầu tư ở tầm vĩ mô còn có chương trình tín dụng ở tầm vĩ mô giữa cácchính phủ, các chương trình tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ,trong nội bộ từng quốc gia, tùy theo mục tiêu chiến lược cụ thể mà cácchương trình tín dụng riêng biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trong một thờihạn nhất định Đối với các tổ chức phi chính phủ có hoạt động tài chính vi môthì cần phân biệt thành hai loại: Các dự án chỉ có hoạt động tài chính vi mô và
dự án có hoạt động tài chính vi mô lồng ghép với các hoạt động khác [6]
Trang 72.3 Khái niệm tài chính vi mô
Tài chính vi mô được coi là một công cụ phát triển kinh tế mang lại lợiích cho người dân có thu nhập thấp, các dịch vụ tài chính nói chung bao gồmtiết kiệm và tín dụng Tuy nhiên một số tổ chức tài chính vi mô cũng cung cấpcác dịch vụ như bảo hiểm và thanh toán Cùng các trung gian tài chính, rấtnhiều tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ trung gian mang tính xãhội như hình thành tổ nhóm, nâng cao kiến thức về tài chính cũng như khảnăng quản lý giữa các thành viên trong một nhóm Do đó định nghĩa về tàichính vi mô thường bao gồm hai yếu tố: Trung gian tài chính và trung gian xãhội, tài chính vi mô không chỉ đơn giản là một công cụ ngân hàng, nó là mộtcông cụ phát triển
Tài chính vi mô có ba loại nguồn: Từ các thể chế chính thức, bán chínhthức và nguồn phi chính thức
Các tổ chức tài chính vi mô có thể là: Các tổ chức phi chính phủ, các tổnhóm cho vay và tiết kiệm, các hiệp hội tín dụng, các ngân hàng quốc doanh,các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Và tín dụng nông thôn cũng là một trong các thành phần của tài chính
vi mô tôi đang nghiên cứu
2.4 Chức năng và vai trò của tín dụng
2.4.1.Chức năng của tín dụng
- Tập trung và phân phối lại các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trongnền kinh tế thông qua hai quá trình huy động và cho vay nhằm sử dụng vốn
có hiệu quả để giúp cho sự tăng trưởng kinh tế -xã hội
-Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội: Khi sử dụng tín dụngngười ta có thể thay tiền mặt bằng các phương tiện tín dụng, từ đó làm giảmlượng tiền mặt trong lưu thông nên tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt
-Phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế: Chức năng này phát huytác dụng phụ thuộc vào sự phát triển của hai chức năng trên, thông qua kếhoạch huy động và cho vay của ngân hàng, sẽ phản ánh được mức độ pháttriển của nền kinh tế về các mặt, đồng thời qua nghiệp vụ cho vay, ngânhàng có điều kiện nhìn tổng quát vào cấu trúc tài chính của từng đơn vị
Trang 8cho vay, từ đó phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản
lý kinh tế của nhà nước [7]
Từ những chức năng trên, đề tài sẽ xem xét xem hệ thống tín dụngtại địa bàn đã đạt được những chức năng nào, chức năng nào còn hạn chế,chức năng nào được phát huy và có thêm chức năng nào khác
2.4.2.Vai trò của tín dụng
2.4.2.1.Vai trò của tín dụng nói chung
-Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển:Trong quá trình sảnxuất kinh doanh để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanhnghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả 3 giai đoạn, dự trữ - sản xuất - kinh doanh
-Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư: Nó là động lực kích thíchtiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển,qua đó cho thấy vốn tín dụng giữ một vai trò khá quan trọng trong kết cấu vốn
cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp.Tín dụng luôn là nguồn trợ thủ đắclực cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, là người bạn trong tiến trình sản xuấtkinh tế
-Tín dụng là công cụ để tài trợ cho các nghành kinh tế kém phát triển
và phát triển các ngành mũi nhọn Trong điều kiện nước ta, nông nghiệp làngành đáp ứng nhu cầu cần thiết cho xã hội trong quá trình công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước và là ngành chịu nhiều tác động nhiều nhất của điềukiện thời tiết Vì vậy trong giai đoạn trước mắt, nhà nước phải đầu tư tậptrung phát triển nông nghiệp để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồngthời thúc đẩy các ngành khác phát triển
-Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả: Với chức năng tập trung tậndụng các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã trực tiếp giảm khốilượng tiền mặt tồn động trong lưu thông Trong điều kiện nền kinh tế bị lạmphát thì tín dụng là một công cụ hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát
-Tín dụng góp phần ổn định đời sống tạo công ăn việc làm, ổn định trật
tự xã hội Nền kinh tế phát triển trong môi trường ổn định tiền tệ là điều kiệnnâng cao đời sống các thành viên trong xã hội, từ đó rút ngắn chênh lệch vềthu nhập, mức sống giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thay đổi cấu trúc xã
Trang 9hội Sự đa dạng các hình thức vay, các loại hình tín dụng đã góp phần đáng kểtrong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân, để cải thiện đời sống, tạo công
ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo
-Tín dụng tạo điều kiện phát triển quan hệ quốc tế, trong nền kinh tế
mở cửa hiện nay, sự phát triển của một nước luôn gắn liền với thị trường thếgiới, tín dụng liên kết các nước với nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc
mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn vốn tín dụng bên ngoài đểphát triển đất nước [8]
2.4.2.2.Vai trò của tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân
*Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở một số nước
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn ởnhiều nước trên thế giới đang đứng trước những thách thức to lớn Tác độngcủa biến đổi khí hậu, sức ép từ nhu cầu sản xuất nhiên liệu sinh học, bệnhdịch phát triển trên phạm vi toàn cầu cùng với những bất ổn trong khu vực tàichính tiền tệ đã đẩy ngành nông nghiệp và người nông dân đối mặt với ngàycàng nhiều thách thức
-Tại Nhật Bản: Chính phủ khuyến khích phát triển nông nghiệp bằngcách thành lập ngân hàng nông- công nghiệp địa phương Vào những năm
1960, chính phủ đã có chương trình cho vay để tăng đầu tư cho nông nghiệp,cho vay để mua sắm trang thiết bị, mở rộng đất trang trại, xây dựng cơ sở hạtầng Nguồn vốn thông qua HTXNN, lãi suất cho vay phát triển nông nghiệp
là lãi suất thấp, thời gian vay dài hạn, sự hình thành của HTXNN là huy độngtiết kiệm và vốn dư thừa từ nông nghiệp và nông dân cho vay các thành phầnkinh tế kinh doanh ngoài nông nghiệp Ngày nay theo xu thế ngày càng pháttriển, Nhận Bản càng chứng tỏ vị thế của mình trên thị trường thế giới về đủmọi chủng hàng, chất lượng tốt là nhờ sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn chongười dân, để họ đầu tư sản xuất có kế hoạch và mang tính chuyên nghiệp từsản xuất nông nghiệp tới công nghiệp
-Tại Philippin:Tín dụng nông nghiệp nông thôn khá phát triển, hệ thốngcung cấp vốn tín dụng bao gồm: Ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng tiếtkiệm, các ngân hàng thương mại và các ngân hàng chính phủ Trong đó ngân
Trang 10hàng nông nghiệp phát triển mạnh nhất trong lỉnh vực nông nghiệp nông thôn,chuyên cung cấp tín dụng cho người dân nông thôn đầu tư sản xuất Chínhphủ đã có một số chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp khá tốt.
Từ năm 1975, chính phủ đã bắt buộc các ngân hàng thương mại trích 25%cho vay ngành nông nghiệp, từ năm 1986 trở lại đây, chính phủ ban hànhchính sách mới và được thực thi dưới sự bảo trợ của hội đồng chính sách tíndụng nông nghiệp ( nội dung chính sách mới là chấp nhận cơ chế thị trườngviệc tạo nguồn tài chính, thực hiện lãi suất thị trường, giảm trợ cấp ưu tiêntrong ngân hàng nông nghiệp, chấm dứt hoạt động cho vay trực tiếp của các
cơ sở nhà nước phi tài chính, cung cấp các dịch vụ và thực hiện cơ chế bảohiểm để giảm rủi ro khi thực hiện cho vay) [9]
Vai trò của tín dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
Triển khai nhiệm vụ trong năm 2010, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Cao Đức Phát nhấn mạnh, mục tiêu của toàn nghànhnăm 2010 sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững sản xuất nông nghiệp, tạođược sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm,hiệu quả và sức cạnh tranh cao, góp phần tích cực vào ổn định và tăng trưởngkinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội cho khu vực nông thôn và nông dân Đểđạt được mục tiêu này, ngành nông nghiệp cũng triển khai đồng bộ nhiều giảipháp hỗ trợ sản xuất, đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện các chủ trương,chính sách cho khu vực “tam nông” nhằm tạo thế và đà cho nông nghiệp,nông thôn tiếp tục bứt phá
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, mặc dù đã có những chuyển biến cănbản, nhưng nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuấtmanh mún, nhỏ lẻ, phân tán Đặc tính cố hữu này dẫn đến nhiều hạn chếkhiến không chỉ khó cơ giới hóa, năng suất thấp, giá thành cao mà nông dâncòn thiệt thòi về nhiều mặt, như các ngân hàng, tổ chức khuyến nông rất khóđưa dịch vụ tới từng hộ nhỏ lẻ
Điểm yếu trong sản xuất cũng khiến cho trong khâu lưu thông, xuấtkhẩu, nông sản Việt Nam vẫn bị hạn chế trong khâu chế biến và tạo dựngthương hiệu Do đó, vấn đề lớn nhất của ngành nông nghiệp hiện nay là thayđổi tập quán sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất chuyên
Trang 11Chủ tịch Đỗ Hoài Nam nhấn mạnh “Chúng ta đang chứng kiến nhữngbức xúc xã hội đang tích đọng trong nông thôn Bình đẳng xã hội, dân chủ cơ
sở nông thôn, hiệu lực và chất lượng hoạt động của các cấp chính quyền địaphương, v.v… là những vấn đề lớn và phức tạp đang đặt ra gay gắt trong quátrình phát triển của khu vực nông thôn hiện nay Vì rằng, “Tam nông” khôngđơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề xã hội, chính trị: Không có sự
ổn định của nông thôn thì không có ổn định của toàn xã hội, không có sự giàu
có của nông dân thì không có sự giàu có của cả nước, không có hiện đại hóanông nghiệp thì không có hiện đại hóa đất nước Vì vậy tín dụng có một sốvai trò rất quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp nước ta
-Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay vốnđối với người nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng góp vai tròquan trọng trong việc thực hiện các chính sách việc làm, dân số, y tế, giáodục, các chương trình xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội
-Tín dụng góp phần tạo ra và duy trì quy mô kinh doanh phù hợp, tronghầu hết cơ sở sản xuất nông nghiệp luôn tồn tại sự lệch pha giữa nhu cầu vàkhả năng về vốn Tín dụng ra đời như một yếu tố khách quan để giải quyết sựlệch pha này, từ nguồn vốn tín dụng, các cơ sở sản xuất nông nghiệp sẽ muađược đầy đủ yếu tố đầu vào còn thiếu để thực hiện các hoạt động sản xuất củamình, đồng thời duy trì các hoạt động một cách liên tục
-Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai tháctốt nguồn lực địa phương Tính chất thời vụ thể hiện rõ nét trong sản xuấtnông nghiệp Nguồn vốn từ các khoản tín dụng sẽ giúp người dân sản xuấtnông nghiệp bù đắp những chi phí ở thời kì chưa có thu nhập, làm cho quátrình sản xuất được diễn ra một cách liên tục, tính tự chủ trong hoạt động sảnxuất Ngoài ra vốn tín dụng còn giúp người dân sản xuất nông nghiệp có thểmua sắm máy móc, mở rộng quy mô, đầu tư thâm canh để tăng năng suất,nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm sức lao động đem lại thu nhập chogia đình
-Tín dụng góp phần điều chỉnh kinh doanh: Trong nền kinh tế thịtrường, yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng khắt khe, thường xuyên có sựbiến đổi, chính những thay đổi của thị trường buộc người sản xuất phải biết
Trang 12điều chỉnh và đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh Với nguồn vốntín dụng, họ có thể mua giống mới, áp dụng tiến bộ kỷ thuật, đầu tư dâychuyền sản xuất tiến bộ để mang lại số lượng và chất lượng cao hơn, nâng caogiá trị sản phẩm và luôn được thị trường chấp nhận.
- Tín dụng góp phần giải quyết các biến động và hạn chế những rủi rotrong sản xuất nông nghiệp Những biến động về giá cả và thiên tai là nổi lolớn của hộ sản xuất nông nghiệp, lúc đó các khoản tín dụng sẽ phần nào đókhắc phục khó khăn về vốn, đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra theo kếhoạch, mua yếu tố đầu vào dự trữ cho sản xuất [10]
2.5 Cơ chế tín dụng và đặc điểm của hộ gia đình sản xuất kinh doanh
-Thời hạn cho vay: Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàngbắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã đượcthỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
-Mức cho vay:
+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xácđịnh trên cơ sở giá trị tài sản thế chấp
+ Đối với hình thức cho vay theo tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa
mà các tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay
2.5.2 Đặc điểm của hộ vay vốn tín dụng
- Hộ gia đình là đơn vị sản xuất cá thể mang nặng tính tự cấp, tự túc, tỷtrọng hàng hóa sản xuất ra thường không lớn
-Trình độ sản xuất, trình độ áp dụng khoa học kĩ thuật chưa cao
- Sản xuất của hộ thường phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, rủi ro cao,sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất theo thời vụ
- Là người dân sống ở vùng nông thôn nên bản chất hiền lành, chịu khólàm ăn, sống có tính cộng đồng cao
Trang 13- Người dân có ý thức cao trong vay và trả tương đối sòng phẳng.
-Trong trường hợp gặp thiên tai bất khả kháng, mùa màng thất bát hộthường không có khả năng trả được nợ Tuy nhiên, ý thức hoàn trả nợ để duytrì tín dụng trong cộng đồng làng xã thường rất cao [19]
Đây là những chỉ tiêu ta có thể kiểm chứng trong quá trình thực hiện đềtài nghiên cứu
2.5.3 Mô hình TBP ( The theory of planned behaviour)
Mô hình thể hiện sự quan tâm của hộ trong việc hình thành ý định sử dụng dịch vụ tín dụng
Thang đo các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ tín dụng:
- Thái độ/ sở thích: Yếu tố này được đo lường qua 5 biến quan sát; sốlượng vốn vay, lãi vay, kỳ trả lãi, thời gian đáo hạn và mức độ ưu đãi chongười dân
- Sự thuận tiện trong vay vốn: Yếu tố này được đo lường qua 4 biếnquan sát; thủ tục vay, số lượng giấy tờ cần thực hiện, thời hạn thực hiện vàmức độ thuận tiện trong dao dịch với nhân viên các tổ chức tín dụng
- Điều kiện vay: Yếu tố này được đo lường qua 5 biến; việc thế chấp tàisản, việc tín chấp bảo lảnh của các đoàn thể xã hội tại địa phương, phương ánsản xuất kinh doanh, hộ nằm trong điều kiện chính sách và mức độ thân quenvới ngân hàng
- Trách nhiệm: Yếu tố này được đo thông qua 5 biến; mức độ mongmuốn được vay vốn tại ngân hàng, kỳ vọng của gia đình trong việc được vay
Trang 14vốn tại ngân hàng, kỳ vọng về mức tăng thu nhập của hộ khi vay vốn, tráchnhiệm đối với các khoản vay và sự quan tâm về hiệu quả vốn vay [12].
Nhìn chung các yếu tố trên tôi đều đưa vào xem xét trong đề tài nghiêncứu của mình
2.6.Thực trạng về hoạt động tín dụng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Việt Nam
Khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO), thương mại nông nghiệp đã đóng góp lớn vào nguồn thungoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nông nghiệp, cải thiện đời sống của hộnông thôn Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Nghịquyết Đại hội Đảng X tiếp tục chỉ đạo cần: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trongsản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân: Hiệnnay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn cótầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nềnnông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năngsuất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạo điều kiện từng bước hìnhthành nền nông nghiệp sạch; phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông, lâmnghiệp và thuỷ sản tăng 3 – 3.2%/năm Tốc độ phát triển công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước Gắn phát triểnkinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữanông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chínhtrị – xã hội
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ratrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn cònhạn chế, thì việc phát triển một thị trường tài chính nông thôn là rất quantrọng, trong đó hoạt động tín dụng phải giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốncho phát triển nông nghiệp, nông thôn [14]
Ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP
về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn để thay thếQuyết định 67 nhằm tiếp tục tạo ra cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến
Trang 15khích các tổ chức tín dụng tăng cường chuyển vốn về đầu tư cho vay đối vớilĩnh vực này theo cơ chế cho vay thương mại với lãi suất phù hợp
Ngoài ra, Nghị định này cũng nhằm tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận
dễ dàng hơn với nguồn vốn ngân hàng thông qua việc đơn giản hóa thủ tục và
hỗ trợ những hộ dân vay vốn trong trường hợp gặp rủi ro do những nguyênnhân khách quan, bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh…
Một điểm mới của Nghị định 41 là mức cho vay không có tài sản đảmbảo của các đối tượng khách hàng ở nông thôn đã được nâng lên đến 50 triệuđồng đối với cá nhân, hộ sản xuất; 200 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, sảnxuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ ở nông thôn và lên đến 500 triệu đồng đốivới HTX, chủ trang trại Ngoài ra trong trường hợp phát sinh rủi ro trên diệnrộng theo thông báo của các cấp có thẩm quyền thì tổ chức tín dụng thực hiệnkhoanh nợ trong thời gian 2 năm cho khách hàng và số lãi không thu dokhoanh nợ này được giảm trừ vào lợi nhuận trước thuế của tổ chức tín dụng
Mục tiêu của hoạt động tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
là đáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triểntoàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo,nâng cao mức sống của người nông dân Để đạt được mục tiêu này, trong thờigian qua, hoạt động tín dụng nông nghiệp nông thôn đã có những bước pháttriển nhất định, thể hiện ở việc: (i) mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thônngày càng gia tăng; (ii) doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng;(iii) đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng mở rộng Các định chếtài chính tham gia cung cấp tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn ngàycàng mở rộng Hầu hết các NHTM đều mở rộng cho vay trong lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT)được thành lập năm 1988 và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 12/1990,sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực Mạng lưới hoạt động của NHNo
& PTNT ngày càng tăng, năm 2003 có 1726 chi nhánh, phòng giao dịch, đếnnay, NHNo&PTNT có hơn 2000 chi nhánh nằm rải rác khắp cả nước
+ Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyếtđịnh số 131/2002/QĐ – TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm
Trang 16tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lạiNgân hàng Phục vụ người nghèo Qua gần 6 năm hoạt động, NHCSXH làngân hàng có mạng lưới lớn thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam với
65 chi nhánh cấp tỉnh và Sở giao dịch; 601 phòng giao dịch cấp huyện, 8,649điểm giao dịch cấp xã và trên 180,000 tổ tiết kiệm và vay vốn Hoạt động củaNHCSXH đang từng bước được xã hội hoá, ngân hàng luôn có sự phối hợpchặt chẽ với các hội, đoàn thể để thực hiện nghiệp vụ uỷ thác cho vay vốn ưuđãi để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
+ Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) bắt đầu từ một chươngtrình thí điểm chịu sự giám sát của NHNN vào tháng 7/1993, là hình thức hợptác xã tiết kiệm và tín dụng cấp xã xây dựng theo mô hình Caisse Populaire ởQuebec, Canada Khi đó, một trong những mục tiêu quan trọng của NHNN làkhôi phục lòng tin của hộ đối với hệ thống tín dụng nông thôn sau sự sụp đổcủa hàng loạt hợp tác xã tín dụng(1) QTDND là loại hình tín dụng hợp táchoạt động trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu ở nôngthôn Mục tiêu hoạt động là nhằm huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tạichỗ, tương trợ cộng đồng, vì sự phát triển bền vững của các thành viên Theothống kê, hiện nay, cả nước có 989 QTDND hoạt động với tổng nguồn vốngần 14,000 tỷ đồng (chưa tính QTDND Trung ương và 24 chi nhánh), tổng dư
nợ hơn 12,000 tỷ đồng, thu hút gần 1.3 triệu thành viên là đại diện hộ giađình
+ Các chương trình, dự án tài chính vi mô: Từ đầu thập niên 1990, các
tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài đã bắt đầu tham gia hỗ trợ kỹ thuậtcho các chương trình tín dụng cho người nghèo Trong đó đáng kể là các tổchức Groupe de Recherche et d’Echanges Technologiques (GRET),ActionAid, Développement International Des Jardins (CARE), Save TheChildren Fund (Anh), và OXFAM Các NGO đã tham gia tích cực vào việchuy động tiết kiệm, cũng như đào tạo năng lực cho các nhóm tiết kiệm tíndụng, và các tổ chức quần chúng Khách hàng của các NGO là phụ nữ nghèo,cộng đồng dân tộc thiểu số và người nghèo ở vùng sâu vùng xa; thường lànhững đối tượng mà khu vực tài chính chính thức chưa đủ khả năng tiếp cận
để phục vụ
Trang 17Bên cạnh sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào thịtrường tài chính nông thôn, các tổ chức đoàn thể, quần chúng trong nước cũngtích cực triển khai các chương trình, dự án tài chính vi mô lớn như chươngtrình Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm (CEP) của Liên đoàn laođộng thành phố Hồ Chí Minh; Quỹ tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam và mạng lưới tài chính vi mô M7 Những tổ chức quần chúng thamgia tích cực vào hoạt động tiết kiệm và tín dụng là Hội Liên hiệp Phụ nữ, HộiNông dân, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội Người làmvườn Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ được xem là thành công nhất trongviệc đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính của các hội viên
Những hạn chế trong hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn và nông dân hiện nay
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn tuy đạt được những kết quảnhất định, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế cònthấp Điều đó cho thấy tín dụng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ chonhu cầu và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiệu quả của tín dụngngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cònchưa cao, chưa gắn kết được giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến vàthị trường tiêu thụ, tiềm năng kinh tế đồi rừng và miền ven biển ở nhiều vùngchưa được khai thác tốt
Sở dĩ như vậy là do:
- Trong hoạt động sản suất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều rủi ro, dodiễn biến thời tiết phức tạp, khó lường, dịch bệnh, sâu bệnh luôn rình rập, thịthường tiêu thụ sản phẩm nông sản, thực phẩm chưa ổn định, một số mặt hàngxuất khẩu thì phụ thuộc quá nhiều vào giá cả thế giới…, thêm vào đó, công tácnghiên cứu, dự báo kinh tế liên quan đến lĩnh vực này còn yếu nên đã gây ra hậuquả nghiêm trọng cho sản xuất Tất cả những điều đó đã gây những khó khănnhất định cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của các định chế tài chính
- Thu nhập của các hộ nông dân còn thấp, cùng với việc xử lý quyền sửdụng đất của người nông dân còn có những bất cập, nên việc cho vay cáckhoản vốn lớn để mở rộng sản xuất của hộ gia đình nông thôn là rất hạn chế.Với chính sách cho vay không có đảm bảo đến 100 triệu không đủ để thúc
Trang 18đẩy việc mở rộng sản xuất của các hộ gia đình, để chuyển dịch mạnh mẽ cơcấu nông nghiệp, nông thôn
- Chính sách đất đai hiện nay cũng khó để tăng cường khả năng tích tụruộng đất để mở rộng qui mô chuyên canh vật nuôi cây trồng theo mô hìnhcác trang trại, gia trại lớn như các nước phát triển khác Điều này cũng hạnchế nhất định nhu cầu vay vốn lớn để phát triển, tạo ra sự chuyển dịch mạnh
mẽ cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-NĐH
- Công nghệ ngân hàng cũng như màng lưới viễn thông mới chỉ pháttriển ở các vùng đô thị đông dân, còn tại vùng sâu, vùng xa vẫn chưa pháttriển, hạn chế cho việc tiếp cận tín dụng của hộ, cũng như các định chế tàichính khó có thể mở rộng mạng lưới của mình Và điều đó cũng giải thích tạisao các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn còn nghèo nàn,chủ yếu là tín dụng truyền thống, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nôngnghiệp, bảo hiểm tín dụng nông nghiệp còn rất hạn chế, gần như mới pháttriển ở mức thử nghiệm, sản phẩm tín dụng của ngân hàng chưa bao gồm cácdịch vụ hỗ trợ đi kèm…
- Bên cạnh đó, phần lớn người dân ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở khuvực miền núi, vùng sâu, vùng xa, dân trí không đồng đều, chưa tiếp cận hoặctiếp cận chưa đầy đủ các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên nếu như không có một
sự đảm bảo, tư vấn về việc làm kinh tế, phát triển sản xuất từ phía người cungcấp vốn thì chắc chắn họ sẽ hạn chế tiếp cận với vốn vay Ngoài ra, vì chưa cócác sản phẩm bảo hiểm đi kèm nên nếu có sự biến động lớn về giá cả, thịtrường tiêu thụ, thiên tai, dịch bệnh,… thì khả năng trả nợ ngân hàng của hộcũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nên các ngân hàng chỉ cho vay nhỏ giọt vàvay cầm chừng
- Quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độcủa hộ đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai Các tổchức tín dụng chính thức thường yêu cầu người đi vay phải thế chấp tài sản,phổ biến nhất là đất hay nhà có kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đấthoặc ít nhất phải có giấy chứng nhận tạm thời quyền sử dụng đất do huyệncấp, và đôi khi yêu cầu cả bảo lãnh của chính quyền địa phương Tuy hầu hếtcác nông hộ đều có đất, nhiều hộ không thể đem đất thế chấp cho ngân hàng
Trang 19để vay tiền vì chưa có “sổ đỏ” hoặc để xin được một giấy chứng nhận thì mấtrất nhiều thời gian Thủ tục phiền hà và quy định rắc rối là một cản trở lớn đốivới người dân có trình độ văn hóa thấp và làm nảy sinh những tệ nạn như còvay vốn, phát triển hình thức tín dụng nặng lãi,… và không đáp ứng kịp thờivốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tư duy bao cấp trong hoạt động tín dụng đối với khu vực nôngnghiệp, nông thôn vẫn còn tồn tại làm tăng chi phí hoạt động của các định chếtài chính, đồng thời tăng tính ỷ lại và bóp méo thị trường tài chính nông thôn
- Chưa có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sảnphẩm nông nghiệp chưa rõ ràng, thị trường tiêu thụ chưa mở rộng và ổn định,nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp kịp thời Việc hỗ trợ kỹthuật cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi chưa đồng bộ, việc bao tiêu sảnphẩm chưa có kế hoạch, quy hoạch cụ thể, chắc chắn làm hạn chế mở rộngphát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dẫn đến hoạt động tín dụng gặp nhiềukhó khăn [13]
Trang 20Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là những hộ tham gia vay vốn tíndụng, các tổ chức, hội, nhóm tín dụng đang hoạt động trên địa bàn xã Quảng Trung và cán bộ cấp thôn, xã, huyện:
+ Cấp thôn: Trưởng thôn
+ Cấp xã: Phó chủ tịch xã, kế toán xã, các đoàn thể xã hội, các tổ tín dụng, cán bộ văn hóa, cán bộ địa chính
+ Cấp huyện: Cán bộ của NHNo & PTNT và NHCSXH là người phụ trách tín dụng của xã
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
+ Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, thời tiết, đất đai
+ Điều kiện kinh tế xã hội: Dân cư và lao động, cơ cấu thu nhập
- Đặc điểm của hộ nghiên cứu
+ Số lao động, độ tuổi, trình độ văn hoá của chủ hộ
+ Nhà ở, diện tích đất sản xuất, cơ cấu thu nhập và thu nhập
- Hệ thống tín dụng của xã
+ Các tổ chức tín dụng: Mối quan hệ của các tổ chức tín dụng đối với
hộ dân, quy chế hoạt động của các tổ chức, những hoạt động hổ trợ khi chovay vốn
- Thực trạng tiếp cận tín dụng của hộ dân
Trang 21+ Tình hình vay vốn của hộ: Mức vay của các hộ, cơ cấu số hộ vay vốn
từ các tổ chức, mức độ tiếp cận các nguồn vốn, mục tiêu sử dụng vốn của các
tổ chức so với thực tế sử dụng vốn của hộ
+ Kiến thức của hộ về tín dụng: Sự hiểu biết của hộ dân về các tổ chứctín dụng Quan điểm của hộ về quy chế hoạt động của các tổ chức: Lãi suất,thủ tục, thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng
+Yếu tố ảnh hưởng nhất đến quyết định vay vốn: Vấn đề quan tâm nhấtcủa hộ khi quyết định vay vốn, tham khảo các đối tượng để vay vốn
- Đánh giá kết quả đạt được của các tổ chức tín dụng
+ Kết quả đạt được từ 2008-2010: Doanh số cho vay, số hộ vay, số hộgửi tiết kiệm, dư nợ vay của các tổ chức
+ Đánh giá của hộ về lợi ích và hiệu quả của các tổ chức tín dụng
- Thuận lợi và khó khăn của hộ khi tiếp cận vốn tín dụng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm và mẫu khảo sát
+ Điểm nghiên cứu phải có các hoạt động tín dụng diễn ra trong cácnăm từ 2006-2010
+ Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiêncứu
Vậy tôi đã chọn xã nghiên cứu là xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Đối với thông tin thứ cấp
+ Thu thập thông qua các báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển kinh tế của xã, các tài liệu liên quan
+ Thu thập thông qua các báo cáo tổng kết của các tổ chức tín dụng
- Đối với thông tin sơ cấp
+ Phỏng vấn sâu: những người cung cấp thông tin nồng cốt gồm: phóchủ tịch xã; cán bộ nông nghiệp, những người phụ trách về tín dụng ở địaphương, cán bộ ngân hàng nông nghiệp huyện Quảng Trạch, cán bộ ngânhàng chính sách xã hội huyện Quảng Trạch
Trang 22+ Điều tra hộ: Điều tra hộ được tiến hành với 60 hộ tham gia vay vốn Những hộ này được chọn một cách ngẫu nhiên có định hướng theo tiêu chí hộnghèo và hộ không nghèo Những hộ này tham gia vay vốn tín dụng từ năm 2006-2010.
3.4 Phân tích và xử lý số liệu
- Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp phân tích: Phân tích định tính và phân tích định lượng nhằm đánh giá những hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn và khả năng tiếp cận vốn vay của hộ
- Số liệu được sử lý bằng phần mềm Excel
Trang 23Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tình hình cơ bản của xã Quảng Trung
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí và điều kiện thời tiết
Xã Quảng Trung là một xã thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh QuảngBình, đây là xã thuần nông, là xã nối liền với đường liên huyện, cách trungtâm huyện 8 km Nằm từ 17°44'28" đến 17°45'57" độ vĩ bắc từ 106°19'36"đến 106°21'15" độ kinh đông Phạm vi ranh giới: Phía bắc giáp xã QuảngTrường, được giới hạn bởi nhánh bắc Sông Gianh Phía nam giáp xã QuảngSơn Phía tây giáp xã Quảng Tiên Phía đông giáp xã Quảng Tân và xã QuảngHải Vị trí là đầu mối giao lưu giữa các vùng lân cận thông qua Chợ Sãi Đây
là nơi giao lưu buôn bán chủ yếu của các xã lân cận, vì vậy mà xã QuảngTrung thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề dịch vụ với các địa phươngkhác
Điều kiện thời tiết khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớnđến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng và các hoạt động sảnxuất khác của hộ Xã cũng giống như những địa phương khác thời tiết mangđậm nét đặc thù của khí hậu miền trung, thường xuyên bị lũ lụt, hạn hán làmối đe dọa nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân Xãnằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt Đó làmùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài hơn mùa nắng, mùa mưa bắt đầu từtháng 10 năm trước và kéo dài cho đến tháng 3 năm sau Mùa nắng bắt đầu từtháng 4 và kết thúc trong tháng 9 Đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp hoạtđộng của hai loại gió mùa chính, gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam GióĐông Bắc bắt đầu hoạt động từ tháng 10 năm trước và kết thúc vào tháng 3năm sau thường gây mưa lụt vào tháng 10 và tháng 11 Gió Tây Nam hoạtđộng từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8, thường gây nóng và khô hạn
- Đất đai và đặc điểm địa hình
Trang 24Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, đóng vai trò hết sức quan trọng vàcần thiết cho mọi hoạt động sản xuất Dưới đây là biểu đồ thể hiện quy hoạch
Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất của xã từ 2005-2010
Nhìn vào biểu đồ 2: Ta thấy rằng có sự biến động lớn về diện tích đất
sử dụng vào các lỉnh vực từ 2005-2010, đất trồng cây, đất nuôi trồng thủy sản,đất ở và đất xây dựng cơ bản tăng lên mạnh, còn đất chưa sử dựng giảm đáng
kể Trong đó, đất trồng trọt năm 2010 tăng thêm 3.74% tương ứng 57.64 ha sovới năm 2005 do đo đạc địa chính, chính sách dồn điền đổi thửa và nhất là quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng trồng cây hàng năm, cây lâu năm Đất xây dựng cơ bản và đất ở cũng tăng thêm 3.29% tươngứng 35.75 ha so với năm 2005 do định hướng của tỉnh, huyện về mở mang đường liên xã, liên thôn, ngõ xóm, xây dựng nhà cửa Thời gian qua hoạt động nuôi trồng thủy sản khá phát triển, đất nuôi trồng thủy sản tăng thêm 1.59% tương ứng 11 ha, người dân đồng loạt đào ao nuôi tôm cá nhưng năng suất thấp, đa số người dân thua lỗ do sự thiếu hiểu biết Cùng với sự chỉ đạo sáng suốt của cán bộ xã, diện tích đất chưa sử dụng đã sử dụng hợp lý, không
Trang 25để lãng phí nên diện tích đất chưa sử dụng giảm đáng kể 8.62% tương ứng 44.95 ha so với năm 2005.
Dân cư xã Quảng Trung sinh sống tập trung trên địa bàn 4 thôn, đó là:Thôn Thượng thôn, thôn Trung thôn, thôn Biểu lệ và thôn Công hòa, là vùngđồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng Trong đó thôn biểu lệ là vùngđồng bằng vừa là vùng gò đồi, thôn công hòa cách trung tâm xã qua nhánhsông gianh và là vùng thấp trũng, thường xuyên bị ngập úng và thiếu nướcsạch để sinh hoạt
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của xã năm 2010
Quảng Trung là một xã nghèo, cơ cấu thu nhập của xã gồm: Trồng trọt,chăn nuôi, thủy sản, ngành nghề dịch vụ Ngành nghề chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp (trồng lúa nước), nhưng diện tích đất sản xuất ít, trung bình mỗi
hộ 5 - 6 sào, hộ nhiều nhất là 15 sào Nếu chỉ trông chờ vào lúa nước thì xãmãi là một xã nghèo.Trong cơ chế thị trường và thời đại thông tin nên ngườidân đã tìm tòi, học hỏi thêm nhiều ngành nghề mới phù hợp với bản thân vàđịa phương để tăng thêm thu nhập, từng bước cải tạo cuộc sống, làm giàu chogia đình và xã hội Do đó, không ít bộ phận dân cư chọn con đường xuấtkhẩu lao động ra nước ngoài và đa số người dân có thêm nghề phụ; buôn bán,làm nón lá, thợ nề, mộc dân dụng Nhìn chung đời sống kinh tế của đa phầnngười dân đang cải thiện dần theo thời gian
4.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Trong cơ cấu ngành nghề tạo thu nhập của xã, trồng trọt và chăn nuôi làhai lĩnh vực có vị trí quan trọng, tuy năng suất đưa lại qua từng năm không cao nhưng mang tính ổn đỉnh theo thời gian
Trang 26* Vụ Đông xuân 2009-2010: Toàn xã gieo cấy hết 284.8ha lúa, 14ha ngô.Năng suất lúa đạt 47.4 tạ/ ha, ngô 40 tạ/ ha, sản lượng quy thóc vụ đông xuâncủa toàn xã đạt 1321,55 tấn chỉ đạt 41% so với kế hoạch cả năm, giảm nhiều
so với vụ đông xuân năm 2009
* Vụ hè thu: Gieo trồng hết 284,8ha lúa, năng suất lúa đạt 48.82tạ /ha, sảnlượng quy thóc vụ hè thu là 1382,1tấn chỉ đạt 43% so với kế hoạc cả năm
- Chăn nuôi
Bảng 2: Cơ cấu vật nuôi chính của xã từ 2006-2010 ( ĐVT: Con )
Trang 27( Nguồn: phỏng vấn cán bộ xã, năm 2011)
Từ bảng 2 ta thấy rằng sự biến động số lượng gia súc, gia cầm qua cácnăm không lớn, có sự gia tăng nhẹ qua các năm Nhờ có sự chỉ đạo và thựchiện chính sách phát triển chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 Các cấp, các ngành
đã tích cực vận động nhân dân vay vốn đầu tư phát triển chăn nuôi đàn giasúc, gia cầm Tuy nhiên qua hai đợt lũ lịch sử năm 2007 và 2010 đã làm giảm
số lượng đàn gia súc, gia cầm đáng kể Gia súc, gia cầm bị cuốn trôi và chếtgần 50% Chỉ đạo khuyến nông thường xuyên theo giỏi, phát hiện và hướngdẫn nhân dân phòng dịch bệnh đối với gia súc, gia cầm Ngoài sự đầu tư vốn
áp dụng các tiến bộ kĩ thuật trong chăn nuôi, UBND xã đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi trong việc giải quyết các thủ tục vay vốn của ngân hàng để khuyếnkhích phát triển sản xuất, gây dựng lại những thiệt hại sau lũ, đưa lỉnh vựcchăn nuôi ngày một phát triển đạt hiệu quả kinh tế cao.Vậy nhưng vẫn có một
số bộ phận nhân dân ý thức chấp hành kém nên kết quả phòng trừ dịch bệnhđạt chưa cao
4.1.2.2 Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là một hoạt động cũng đang phát triển ở địa bàn,bao gồm nuôi tôm nước lợ, cả nước ngọt Cán bộ địa phương đã triển khainuôi theo quy trình của ngành thủy sản hướng dẫn, đồng thời triển khai chínhsách trợ giá tôm giống để khuyến khích các hộ nuôi, nuôi trồng đảm bảo chấtlượng Tổng diện tích nuôi trồng cá nước ngọt là 18,5 ha, nước mặn là 6,8ha
4.1.2.3 Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề dịch vụ
Sản xuất TTCN- ngành nghề năm 2010 chiếm vị trí quan trọng trong cơcấu thu nhập của xã, giá trị sản xuất TTCN - ngành nghề nông thôn đạt 3,250triệu đồng/năm Cán bộ xã đã tạo mọi điều kiện giải quyết các thủ tục vay vốnvận động các hộ sản xuất kinh doanh, các tổ hợp tác tiếp tục đầu tư vốn đểmua sắm phương tiện như; máy làm đất, phương tiện vận chuyển vật liệu xâydựng, máy tuốt lúa, hàn xì phục vụ sản xuất, kinh doanh dịch vụ Ngoài cácngành nghề trên, năm 2010 các ngành nghề như; nón, mộc dân dụng, dịch vụ
Trang 28buôn bán vừa và nhỏ luôn được duy trì và có hướng phát triển, một gia đìnhtham gia vào nhiều ngành nghề, đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho giađình và XĐGN
4.1.2.4 Tình hình dân số, lao động
Vấn đề dân số và lao động là tài sản quyết định đến sự phát triển kinh
tế của địa phương Một mặt nó tạo tiềm lực cho phát triển, mặt khác nó tạo ra
sự cản trở khi vấn đề việc làm, đời sống nhân dân không được đảm bảo và sựtăng dân số quá nhanh Toàn xã có 1023 hộ, trong đó hộ tham gia vào dịch vụ
là 395 hộ, số khẩu là 3876 trong đó 2023 lao động Với nguồn lao động dồidào là thế mạnh mà xã cần tận dụng Tỷ lệ hộ không nghèo của xã 80.9%, hộcận nghèo 11.1% và hộ nghèo 8% Do đó, không chỉ các cấp có thẩm quyềncần quan tâm, giúp đỡ hơn nữa, tạo mọi điều kiện có thể để người dân cóhướng sản xuất phù hợp với địa phương, phù hợp với kinh tế gia đình
Tóm lại, xã Quảng Trung có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên chưathuận lợi lắm nhưng sự đa dạng về ngành nghề và lực lượng lao động dồi dào,
đó cũng chính là một thuận lợi để đảm bảo cho quá trình phát triển của địaphương
4.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của các hộ nghiên cứu
Đặc điểm chung của các hộ khảo sát được thông qua các chỉ tiêu
nghiên cứu sau: Diện tích đất sản xuất, tình hình nhân khẩu và lao động, tình hình nhà ở, cơ cấu thu nhập và mức thu nhập của hộ Đây là những chỉ tiêu được nghiên cứu để thấy được khả năng của hộ như thế nào trong quá trình tiếp cận các nguồn vốn, nhất là nguồn vốn có thế chấp, nguồn vốn cần sự đảmbảo khi cho vay
4.2.1 Tình hình dân số, lao động và diện tích đất sản xuất của hộ điều tra Bảng 3: Tình hình nhân khẩu, lao động và diện tích đất sản xuất của hộ
điều tra
(n=30)
Hộ không nghèo(n=30)
Trang 29Từ bảng 3 ta thấy rằng, cùng tổng số 30 hộ nhưng bình quân số khẩu và
số lao động của hộ nghèo luôn lớn hơn hộ không nghèo là 5.4 và 3.37 Tuynhiên khi tiến hành điều tra các hộ nghèo, đa số trình độ học vấn của hộ thấp,kiến thức về ngành nghề hạn chế nên thường tham gia những công việc manglại thu nhập thấp nhưng lại chiếm nhiều thời gian, chẳng hạn là nghề làm nónlá Ngược lại, hộ không nghèo, trình độ cao hơn, đa số có nghề phụ tươngđối ổn định như cán bộ ăn lương, thợ nề, thợ mộc, buôn bán Theo điều tra cả
hộ nghèo và không nghèo diện tích đất sản xuất chỉ hơn 3000 m 2 / hộ, vớidiện tích này người dân khó đầu tư mở mang quy mô để nâng cao năng suấtđược vậy nên nguồn vốn tín dụng là rất cần thiết để người dân tìm kiếm thêmnhiều ngành nghề khác, tận dụng được nguồn lao động để nâng cao mức thunhập
4.2.2 Tình hình nhà ở của các hộ điều tra
Loại nhà của hộ được để cập trong nghiên cứu vì đây là loại tài sản hếtsức quan trọng khi tham gia vay vốn ở các tổ chức tín dụng có thế chấp
Bảng 4: Tình hình nhà ở của các hộ điều traLoại nhà
Bìnhquân tỷ lệ % Hộ nghèo
nghèo
Trang 30Số nhà kiên cố chủ yếu tập trung ở nhóm hộ không nghèo, với 22/30 số
hộ trong nhóm Số nhà bán kiên cố chủ yếu tập trung ở nhóm hộ nghèo và cậnnghèo, với 25/30 số hộ trong nhóm
Số nhà tạm chỉ tập trung vào nhóm hộ nghèo, với 3/30 số hộ trong nhóm Như vậy, số nhà bán kiên cố, nhà tạm của các hộ điều tra vẫn nhiều, cơ hội
để tiếp cận nguồn vốn lớn có thế chấp là khó khăn Và cơ bản mức sống của
hộ còn ở tầm trung bình, cận nghèo và nghèo, nên nguồn vốn từ các ngânhàng, các dự án là rất cần thiết và quan trọng, hơn nữa sự thông thoáng về thủtục và điều kiện vay vốn sẽ giúp người dân mạnh dạn tiếp cận với nhiềunguồn vốn lớn Vì nguồn vốn không chỉ giúp người dân đầu tư sản xuất, giảiquyết việc làm mà còn mua sắm tiêu dùng, sửa sang nhà cửa, đầu tư cho con
đi học, nhờ đó người dân yên tâm tăng gia sản xuất tạo thu nhập
4.2.3 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra
Thu nhập của hộ là chỉ tiêu nghiên cứu làm thước đo cho khả năngtham gia vào các ngành nghề khác nhau để tăng thu nhập và đa dạng nguồnthu, là cơ sở cho việc vay và sử dụng tốt nguồn vốn khi vay
Bảng 5: Mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ năm 2010
Trang 31Nhìn vào bảng 5, ta thấy rằng: Người dân của xã có nguồn thu nhập rất
đa dạng, mức chênh lệch về thu nhập giữa hai nhóm hộ khá lớn Nguồn thuchính vẫn là sản xuất nông nghiệp nhưng diện tích đất sản xuất quá ít, không
có sự chênh lệch nhiều giữa hai nhóm hộ, nhưng nguồn thu từ các hoạt độngkhác lại khác nhau quá lớn Các hộ không nghèo nhờ biết cách tiếp cậnđược nhiều ngành nghề phụ nên nâng cao và đa dạng nguồn thu nhập hơn.Trên thực tế, mức thu nhập của nhóm hộ nghèo là 18.88 tr.đ/năm và nguồnthu từ nông nghiệp là chủ yếu chiếm gần 43 %, tuy có thêm nhiều nguồn thukhác nhưng mức thu nhập không đáng kể, trong khi nhóm hộ không nghèo cómức thu nhập cao hơn nhiều là 37.65 tr.đ/năm và cũng thu từ nhiều nguồnkhác nhau, nhưng mỗi nguồn thu khá lớn và nhất là thu nhập từ ngành nghề, ởđây là các hộ cán bộ có lương, các hộ có ngành nghề phụ thu nhập cao, bìnhquân gần 25 tr.đ/năm/hộ Nhóm hộ nghèo, thu nhập từ buôn bán chỉ từ 0-0.07tr.đ/năm thì nhóm hộ không nghèo, thu nhập từ buôn bán từ 1- 3.92 tr.đ/năm.Nhìn chung các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ và buôn bán tập trung ở các chợtrên địa bàn xã diễn ra khá mạnh mẽ và ngành nghề phụ đã mang lại nguồnthu nhập khá lớn và nhất là nghề làm nón đã góp phần giải quyết việc làm chongười dân lúc nông nhàn, nhất là nhóm hộ nghèo Nghề nón đã từng bướcgiúp người dân xóa đói giảm nghèo với mức thu nhập không cao nhưng cũng
đủ để trang trải lệ phí sinh hoạt ăn uống hàng ngày Có thể thấy người dânphần nào đã mạnh dạn đa dạng hóa được nguồn thu và nâng cao mức sốngcủa mình Nên việc tiếp cận với nguồn vốn vay là cơ hội để người dân nângcao khả năng sản xuât, mở rộng ngành nghề
4.3 Hệ thống tín dụng trên địa bàn xã
Sau thời gian tìm hiểu tại địa phương, thông qua các ban ngành, đoàn, hội phụ trách về tín dụng xã Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều tổ chức chương trình tín dụng đang hoạt động: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển