Tính cấp thiết của đề tài: Nghèo đói là một vấn đề lớn trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đangphát triển, nó ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội khu vực, là một trong những nguyênn
Trang 1KHOA SỬ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM HỌC 2014 – 2015
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI
Ở XÃ LONG NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG,TỈNH BÌNH DƯƠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
Bình Dương, ngày 30/03/2015
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM HỌC 2014 - 2015
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI
Ở XÃ LONG NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG,TỈNH BÌNH DƯƠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
Nhóm thực hiện:
1 Nguyễn Văn Cường
2 Nguyễn Thị Diễm Kiều
3 Nguyễn Thị Ngọc Hồng
Lớp : C13DL01 Khoa : Lịch Sử Chuyên nghành : Sư phạm Địa Lí Người hướng dẫn : Th.s Phan Văn Trung
Bình Dương, ngày 30/03/2015
KHOA SỬ
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm chúng tôi Đề tài chưatừng công bố ra ngoài Các số liệu được lấy từ báo chí và các báo cáo nhóm đã liệt kêtrong mục tài liệu tham khảo.
TM.Nhóm thực hiện
Nguyễn Văn Cường
Trang 4Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự giúp đỡtận tình của thầy Phan Văn Trung cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong trường Đại họcThủ Dầu Một và các bạn trong lớp C13DL01 trong quá trình nghiên cứu đã hướngdẫn, tạo điều kiện thuận lợi giúp cho chúng tôi hoàn thành đề tài khoa học này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn Phan Văn Trung, người đãtận tình giúp đỡ nhóm chúng tôi kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Thủ Dầu Một, Khoa Sử đã tạomôi trường nghiên cứu khoa học để nhóm chúng tôi có cơ hội trải nghiệm bản thân
Để từ đó có thể nâng cao được trình độ chuyên môn, bù đắp những gì mà bản thân cònthiếu sót, cũng như giao lưu học hỏi kinh nghiệm với các bạn sinh viên cùng tham giachương trình nghiên cứu khoa học này
Xin chân thành cảm ơn UBND xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh BìnhDương đã hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đềtài này
Một phần quan trọng nữa không thể thiếu đó là xin cảm ơn gia đình, bạn bè vànhững người thân đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành
đề tài
Là bước đầu tập dợt nghiên cứu khoa học, bản thân mỗi bạn trong nhóm đều cốgắng hết sức Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không thể tránhkhỏi những sai sót Kính mong được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và các bạn để đề tàikhoa học này hoàn thiện tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TM.Nhóm thực hiện
Nguyễn Văn Cường
Trang 5Lời cam đoan………
Lời cảm ơn………
Mục lục………
Danh mục viết tắt………
MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài……… …….1
2 Mục tiêu đề tài……… ………2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……….……….…….2
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ……….… …2
5 Lịch sử nghiên cứu……….…… 3
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI ………… 4
1.1 Các khái niệm chung……… … 4
1.1.1 Khái niệm nghèo ……… 4
1.1.2 Nghèo tuyệt đối ……….… 5
1.1.3 Nghèo tương đối ……… 6
1.1.4 Khái niệm giàu……….………… 7
1.1.5 Khái niệm phân hóa giàu nghèo ……….……….8
1.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan……… 9
1.3 Quy định, tiêu chí đo lường giàu nghèo theo tiêu chuẩn mới của Bình Dương ……… 10
Trang 6NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG……… 12
2.1 Khái quát chung về xã Long Nguyên ………12
2.1.1 Vị trí địa lí ……… …… 12
2.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển ……….13
2.2 Thực trạng nghèo đói của xã Long Nguyên……….……… 15
2.3 Phân tích xu thế nghèo đói hộ gia đình của xã Long Nguyên… 22
2.4 Nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói ở xã Long Nguyên ngày càng tăng… ….28
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan……… 28
2.4.2 Nguyên nhân khách quan……… 29
2.5 Tác động của nghèo đói đến kinh tế xã hội xã Long Nguyên………… 31
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM VÀ XÓA NGHÈO ĐÓI Ở XÃ LONG NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG……… 33
3.1 Giải pháp chung……… 33
3.1.1 Công tác chỉ đạo……… 33
3.1.2 Công tác đầu tư hỗ trợ……… 33
3.1.3 Giải pháp về tổ chức……… 35
3.2 Giải pháp cụ thể……… 36
3.2.1 Giải pháp về tuyên truyền……… 36
3.2.2 Giải pháp về tập huấn khoa học kỹ thuật và hỗ trợ sản xuất……… 36
3.2.3 Các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nông thôn…… 37
KẾT LUẬN……… 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….41
Trang 71 PHGN – Phân hóa giàu nghèo
2 NTM – Nông thôn mới
3 UBND - Ủy ban nhân dân
4 GDP – Tốc độ tăng trưởng kinh tế
5 CNH – Công nghiệp hóa
6 HĐH – Hiện đại hóa
7 THCS - Trung học cơ sở
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghèo đói là một vấn đề lớn trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đangphát triển, nó ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội khu vực, là một trong những nguyênnhân gây ra bùng nổ xung đột và làm chậm quá trình tăng trưởng, phát triển của nềnkinh tế thế giới, nó làm cho xã hội phân chia giai cấp, tạo ra các hố ngăn cách trong xãhội, cản trở sự phát triển của nền kinh tế.Vì vậy vấn đề nghèo đói là một vấn đề toàncầu và được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm
Ở Việt Nam, nền kinh tế đang có nhiều chuyển biến tích cực trong những nămgần đây nhưng sự phân hóa giàu nghèo cũng không thể tránh khỏi Tình trạng này diễn
ra trên toàn đất nước Ở đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản ViệtNam khẳng định "cần phải có những giải pháp vĩ mô và nguyên tắc định hướng là tậptrung thực hiện xóa đói giảm nghèo, điều tiết, kiểm soát khoảng cách giàu nghèo" điềunày cho thấy đây là một vấn đề cấp thiết được nhà nước quan tâm.Theo đó cả nước đãthực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và tỉ lệ nghèo cũng được giảm xuống từ14.2% (2010) xuống còn 9.6% (2012) Tuy vậy nhưng tình trạng nghèo vẫn diễn ra,còn những hộ đã thoát nghèo cũng có nguy cơ tái nghèo Dẫn đến tình trạng nghèo đóingày càng phức tạp
Bình Dương, một vùng đất được coi là “con rồng kinh tế của Miền Đông”, nằmtrong vùng kinh tế trọng điểm phía nam Tuy có sự phát triển rất mạnh mẽ và đã từngđược xem là nơi ít có hiện tượng nghèo đói nhưng hiện nay theo tiêu chí đánh giá mớitrong tỉnh hiện tượng đói nghèo tức các hộ nghèo và cận nghèo vẫn còn tồn tại Nhậnthấy được vấn đề giàu nghèo là vấn đề nan giải được các nhà chức trách chú trọngquan tâm Theo tiêu chí đánh giá mới hiện trong tỉnh còn 3,615 hộ nghèo (chiếm1,36%),và 5,762 hộ cận nghèo (chiếm 2,17%)
Long Nguyên một xã của huyện Bàu Bàng thuộc tỉnh Bình Dương trong nhữngnăm qua đã tiến hành nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo và đã đạt được nhữngkết quả nhất định, tuy nhiên hiện tượng nghèo và nguy cơ tái nghèo vẫn đang còntiềm ẩn
Vì vậy, cần nghiên cứu hiện trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giảmnghèo và xóa nghèo tại xã Long Nguyên Đó là yêu cầu mang tính cấp thiết, có ý
Trang 9nghĩa thực tiễn Từ đó nhóm đã lựa chọn đề tài “ TÌM HIỂU THỰC TRẠNG NGHÈOĐÓI Ở XÃ LONG NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG,NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP."
- Xác định mầm móng và nguy cơ tái nghèo của xã Long Nguyên
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ xóa đói, giảm nghèo và thu hẹpkhoảng cách phân hóa giàu nghèo tại xã Long Nguyên
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu tình hình nghèo đói ở xã Long Nguyên hiệnnay
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: từ năm 2010 đến 2014
+ Không gian: xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu tình hình nghèo đói, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải phápgiảm, xóa nghèo tại xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
- Phương pháp nghiên cứu:
Dùng các phương pháp: phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điềutra; phương pháp thực địa; phương pháp bản đồ
Trang 105 Lịch sử nghiên cứu
5.1 Ngoài nước
- Tổ chức Oxfam cảnh báo bất bình đẳng thu nhập khiến 1% dân số thế giới sẽ
giàu có hơn 99% dân số còn lại trên trái đất vào năm 2016
- Tổ chức FAO - Thực hiện mục tiêu thiên niên kỉ
5.2 Trong nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề
tài ở Việt Nam, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến
đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)
Liên quan đến đề tài đã có các công trình nghiên cứu liên quan như:
- CN.Phan Thành Sơn(Tháng 12/2005 - 6/2007), Thực trạng phân hóa giàu nghèotỉnh Bình Dương 2001 - 2005 và đề xuất các giải pháp giảm nghèo
- Hoài An – Phân hóa giàu nghèo ở khắp nơi trên thế giới
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm nghèo
Theo Wolrd Bank: “ Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ,không được đến trường, không biết đọc, không biết viết, không có việc làm, lo sợ chocuộc sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do
Ở Việt Nam nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãnmột phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứcsống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Trong hoàn cảnh nghèo thìngười nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những nhu cầu mưu sinh hàng ngày vàkinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở những bữa ăn Họ không thể vươn tới cácnhu cầu về văn hóa - tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểugần nhất, gần như không có Điều này biểu hiện rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em
bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng để hưởng thụ văn hóa,chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho nhu cầumặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở…Trong một thời gian dài, các nhà kinh tế vànhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa giàu nghèo theo quan điểm định lượng, tức là đưa
ra một chỉ số để đo lường chủ yếu nhằm đơn giản hoá việc hoạch định chính sách
Một số quan điểm về "nghèo": Hội nghị về chống nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 – 1993 tại Bang Kok , Thái Lan đã đưa
-ra định nghĩa về nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng vàthoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hộithừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địaphương Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèokhổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệtdưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộngđồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực "Hội nghị thượngđỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: "Ngườinghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗingười, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại "Cònnhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo
Trang 12ở Việt Nam - 1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trongviệc tham gia vào đời sống quốc gia nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế
Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân dành hầunhư toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu nhưkhông có
Ngoài ra còn có định nghĩa theo tình trạng sống : lưu ý đến những khía cạnhkhác ngoài thu nhập khi định nghĩa về nghèo con người, ví dụ như cơ hội đào tạo, mứcsống, quyền tự quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác
1.1.2 Nghèo tuyệt đối
Theo Robert Mcnamara : khi là giám đốc của ngân hàng thế giới đã đưa ra kháiniệm:
Nghèo tuyệt đối: ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại, những người nghèo tuyệtđối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tìnhtrạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá mức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộmay mắn của giới tri thức của chúng ta
Theo nghĩa phổ biến nghèo tuyệt đối là một trạng thái mà các cá nhân thiếunhững nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại Khái niệm này nhằm vào phúc lợi kinh tếtuyệt đối của người nghèo tách rời với phân phối phúc lợi của xã hội Điều này cónghĩa là mức tối thiểu được xác định bằng ranh giới nghèo khổ Ranh giới nghèo khổphản ánh mức độ nghèo khổ của một tầng lớp dân cư nhất định trong thời gian nhấtđịnh Nó thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế và những chính sách điều chỉnh xã hộitrong các kế hoạch chung và dài hạn của quốc gia đó
Ranh giới nghèo khổ có thể xếp theo cách tiếp cận “đáp ứng nhu cầu cơ bản”,trong đó chỉ rõ mức dinh dưỡng tối thiểu và những nhu cầu thực phẩm khác
Ích lợi của việc sử dụng phương pháp tiếp cận nghèo tuyệt đối là có thể theo dõinhững thay đổi tình trạng phúc lợi
Trang 131.1.3 Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vàohoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấpkhông đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một sốtầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vàocảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khinhững người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phivật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếutham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội họcxem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng
Nghèo tương đối là tình trạng thiếu hụt các nguồn lợi của các cá nhân hoặcnhóm trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội tức là so với mức sốngtương đối của họ Như vậy nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư cómức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét Khái niệm nàythường được các nhà xã hội học ưa dùng vì nghèo tương đối liên quan đến sự chênhlệch về những nguồn lợi vật chất, nghĩa là về bất bình đẳng phân phối trong xã hội
Phương pháp tiếp cận này cho thấy rằng nghèo là khái niệm động thay đổi theokhông gian và thời gian cũng như theo trình độ học vấn và truyền thống Đây là cáchtiếp cận nghèo đói tập trung vào phúc lợi của tỉ lệ dân số nghèo nhất, có tính dẫn đếnmức phân phối phúc lợi của xã hội
Từ cách hiểu như trên có thể thấy khái niệm nghèo tương đối phát triển theothời gian, tùy thuộc vào mức sống của xã hội
Như vậy nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủcác tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hộinhất định so với sự sung túc của xã hội đó
1.1.4 Khái niệm giàu
Giàu là sự sở hữu các vật chất, tài sản có giá trị Khái niệm về giàu thường phổbiến trong các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong kinh tế học phát triển Tuy vậy kháiniệm về giàu thường phụ thuộc vào văn phạm, vì định nghĩa về giàu không có sự
Trang 14thống nhất trên thế giới Nhìn chung, các nhà kinh tế học định nghĩa giàu là "bất cứthứ gì có giá trị", rất nhiều cá nhân và văn phạm khác nhau có các định nghĩa khácnhau về giàu.
Giàu có là có một cuộc sống thật sung túc, dư giả về mặt vật chất Được ở nhàđẹp, đầy đủ tiện nghi, đi những chiếc xe sang trọng, mặc đồ hàng hiệu, ăn uống ởkhách sạn năm sao, đi du lịch trên các du thuyền hạng nhất đến khắp nơi trên thếgiới…? Nói chung người ta thường đánh giá sự giàu có của một con người dựa vàonhững gì người đó ăn, mặc, ở, đi lại, mua sắm… Nói chung là qua bề ngoài của họ
Định nghĩa sự giàu có như vậy dường như là không ổn Nếu một anh trưởng giảhọc làm sang với một chiếc xe đẹp, đắt tiền, ăn mặc bóng loáng toàn hàng hiệu từ đầuđến chân, nhưng lại đang có một khoản nợ lớn trong ngân hàng thì liệu anh ta có giàu
có hơn nhà đầu tư nổi tiếng Warren Buffet, người không chỉ nổi tiếng với tài sản khổng
lồ và tài đầu tư xuất sắc của mình mà còn vì lối sống rất giản dị
Vậy có người định nghĩa sự giàu có là có thật nhiều tiền, nhiều của cải Địnhnghĩa này có vẻ đúng, nhưng vẫn còn mâu thuẫn Một người hiện đang có nhiều tiền,nhiều của cải nhưng lại đang sở hữu một cách “đốt tiền” rất hiệu quả Và chỉ trong mộtthời gian ngắn nữa, anh ta sẽ đốt hết những gì anh đang có, và sẽ lao vào cảnh túngquẫn nợ nần So với một người có thu nhập bình thường, nhưng biết cách tích lũy, đầu
tư và quản lý tiền, cộng với một lối sống phù hợp, người ấy có thể không cần làm việcnữa, mà vẫn có thể sống an nhàn Vậy ai giàu có hơn?
Hay nói cách khác, độ giàu có được đánh giá bằng thời gian mà bạn có thểsống, có thể tồn tại, nếu bạn thôi không làm việc nữa Thời gian đó càng dài, nghĩa làbạn càng giàu có
Như vậy, bản chất của làm giàu không chỉ là việc bạn kiếm thật nhiều tiền, màphải đi đôi với việc quản lý tiền bạc, tăng tích lũy và đầu tư để có nhiều những tài sản
có thể mang lại nhiều thu nhập thụ động, và đơn giản hóa cuộc sống, giảm chi tiêu mộtcách hợp lý, để nguồn thu nhập thụ động mà bạn có được có thể đảm đương được cuộcsống của bạn, mà bạn không cần phải quan tâm đến vấn đề đi làm để kiếm tiền nữa.Bạn sẽ đạt được sự tự do về mặt tiền bạc, không cần phải lo nghĩ về nó nữa Đó mớichính là sự giàu có thực sự
1.1.5 Khái niệm phân hóa giàu nghèo
Trang 15Có nhiều quan niệm định nghĩa về phân hóa giàu nghèo dưới nhiều khía cạnh,góc độ khác nhau như: phân hóa giàu nghèo là sự phân cực về kinh tế, là trung tâm của
sự phân tầng xã hội nó gắn liền với sự bất bình đẳng của xã hội và phân công lao động
xã hội, là kết quả tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
Cũng có quan niệm cho rằng : phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng xã hộiphản ánh quá tình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khácbiệt nhau, thể hiện trong xã hội nhóm giàu, nhóm nghèo Giữa nhóm giàu, nhómnghèo là khoảng cách về thu nhập, mức sống
Trong quá trình hội nhập quốc tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, xuhướng biến động của cơ cấu xã hội ở nước ta nói chung cũng như địa bàn xã LongNguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nói riêng hiện nay, ngày càng trở nên rõrệt Từ thực tế đó đã có không ít luận điểm có quan hệ đến quan niệm về sự phân hóagiàu nghèo
Phân hóa giàu nghèo gắn liền với bất bình đẳng xã hội và phân công lao độngPhân hóa giàu nghèo là sự phân cực về kinh tế
Phân hóa giàu nghèo là kết quả tất yếu của quá tăng trưởng và phát triển kinh
tế và đến lượt mình sự phân hóa đó lại trở thành nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế
Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xãhội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau Phân hóa giàu nghèo làphân tầng xã hội về mặt kinh tế, thể hiện trong xã hội có nhóm giàu tầng đỉnh, nhómnghèo tầng đáy Giữa nhóm giàu và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập và mứcsống
Tất cả các quan niệm trên đều có một điểm chung giống nhau, đó là khẳng địnhphân hóa giàu nghèo là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hộithành những tầng lớp, nhóm xã hội khác nhau, chủ yếu về mặt giàu nghèo
Từ những quan niệm trên, xem xét vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Namhiện nay thì có thể hiểu phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng phân chia xã hội thànhcác nhóm người có điều kiện kinh tế và chất lượng cuộc sống khác biệt nhau, là sựphân tầng xã hội chủ yếu về mặt kinh tế, thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm này vềtài sản, thu nhập, mức sống
Vậy PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thànhcác nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt nhau; là sự phântầng xã hội chủ yếu về mặt kinh tế, thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm này về tài
Trang 16sản, thu nhập, mức sống Vậy tiêu chí để đánh giá sự phân hoá giàu nghèo là dựa trên
cơ sở nào?
Trên thế giới người ta thường dùng 2 tiêu chí hay hai phương pháp để đánh giá
sự phân hoá giàu nghèo: Theo công thức 1/n: trong đó n là % dân cư để so sánh.Ví dụ:nếu theo cột dọc giữa người giàu và người nghèo ta lấy 5% người thu nhập thấp nhất ởcột thấp nhất so với 5% người thu nhập cao nhất thì tỷ lệ là 1/5, tức chênh lệch nhau
20 lần Đây là độ an toàn của sự phân hoá giàu nghèo Hệ số tập trung Gini là hệ sốthay đổi từ 0 đến 1 cho biết mức độ công bằng phân chia trong thu nhập thấp Nếu hệ
số này càng thấp thì mức công bằng càng cao Hệ số Gini cũng đã được sử dụng đểđánh giá mức độ phân tầng, phân hoá, phân cực giữa các vùng, miền hay nhóm xã hội.Theo hệ số Gini này (hay theo nhà kinh tế học người Mỹ Kuznet) trong thời kỳ nềnkinh tế mới đi vào tăng trưởng: Sự bất bình đẳng sẽ tăng lên là tất yếu Khi nền kinh tếtăng trưởng đến mức độ nhất định sẽ giải quyết được vấn đề xã hội đó, công bằng sẽđược thực hiện.Từ việc phân tích những khái niệm "nghèo", "sự phân hoá giàu nghèo"
ta cũng thấy được tính hai mặt của sự phân hóa giàu nghèo đối với nền kinh tế Từ đócũng có thể thấy sự tác động nhất định của nó đối với kinh tế - xã hội Việt Nam
1.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan
Tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, trước những đòi hỏi bức báchcủa thực tiễn, vấn đề về đói nghèo được rất nhiều nhà học giả, nhà báo quan tâm và đãđược nhà nước, chính phủ, các cơ quan chức năng nghiên cứu Tuy nhiên hầu hết cáchình thức nghiên cứu chỉ dừng lại ở những bài báo, những bài nghiên cứu nhưng chỉ
đề cập tới một số mặt của vấn đề nghèo đói như: xoá đói giảm nghèo, giảm bất bìnhđẳng xã hội, hoặc các giải pháp nhằm hạn chế sự PHGN Được đăng trong báo NhânDân, Xã hội học Một số cuốn sách ngiên cứu liên quan về tình trạng nghèo đói đãđược xuất bản như: Phân hoá giàu nghèo ở một quốc gia khu châu á - Thái BìnhDương - Vũ Văn Hà, Đồng tham gia giảm nghèo đô thị - Nguyễn Minh Hoà… Vàcũng có một số đề tài nghiên cứu về tình trạng nghèo đói ở trong nước như: một số vấn
đề giảm nghèo ở dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Bùi Minh Đạo….và một số bài ở địaphương cấp huyện Theo hướng đó, đề tài tiếp tục khảo sát vấn đề nghèo đói trong nềnkinh tế nước ta hiện nay, cụ thể là xã Long Nguyên, huyện Bàu bàng, Tỉnh Bình
Trang 17Dương Trên những mặt lý luận, thực trạng, giải pháp dựa trên cơ sở kế thừa và pháttriển công trình của các tác giả đã nghiên cứu trước.
Vì chưa có công trình nào nghiên cứu về tình trạng nghèo đói của xã LongNguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Long Nguyên là một trong 7 xã củahuyện Bàu Bàng có số dân đông, 4.262 hộ dân Tỷ lệ nghèo và cận nghèo chiếm1,09% đây là một con số khá lớn trên bước đường đổi mới và phát triển kinh tế xã hội
ở xã Long Nguyên Từ đó nhóm quyết định tìm hiểu tình hình nghèo đói ở xã LongNguyên, góp phần làm giảm, xóa tình trạng nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu
1.3 Quy định, tiêu chí đo lường giàu nghèo theo tiêu chuẩn mới của tỉnh Bình
Dương
Quy định tiêu chí hộ chuẩn nghèo ở xã long Nguyên là hộ có mức thu nhậpbình quân từ dưới 1,1 triệu đồng/người/tháng; và có tổng thu nhập dưới 13,2 triệuđồng/người/năm
Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.1triệu đồng/người/tháng;
và có tổng thu nhập 13.2 trệu đồng/người/năm
Và Việc tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện theophương pháp nhận dạng nhanh, điều tra định lượng, phương pháp đánh giá có sự thamgia của người dân Cụ thể như sau:
Sử dụng công cụ nhận dạng nhanh về tình trạng tài sản (sản xuất và sinh hoạtcủa hộ gia đình) để xác định chắc chắn hộ không nghèo, cận nghèo
Các yếu tố đặc trưng của hộ nghèo là:
Nhà ở kém chất lượng (nhà ở tạm - đơn sơ); Hộ có 2/3 số thành viên hộ trở lên
là người ăn theo; Hộ không có nhà vệ sinh; Hộ dùng đèn dầu, nến do không có tiền sửdụng điện
Gia đình đông con có trẻ em 6 - 15 tuổi không đến trường, có đủ điều kiện chođến trường
Gia đình có người ốm đau bệnh tật lâu năm không có sức khỏe để lao động,tham gia sản xuất
Trang 18Gia đình không có đất sản xuất hoặc đông nhân khẩu mà có diện tích đất sảnxuất nhỏ.
Không có nghề nghiệp không có việc làm ổn định
Xem xét tình trạng tài sản của hộ gia đình thông qua số lượng và chấm điểm tàisản: Nếu có số điểm lớn hơn hoặc bằng số điểm quy định, thuộc diện hộ không nghèo,không cần điều tra thu nhập; Nếu tài sản hộ gia đình có số điểm nhỏ hơn điểm quyđịnh, điều tra viên tiến hành điều tra thu nhập của hộ gia đình
Việc xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo phải có sự tham gia đánh giá, bình xétcủa người dân tại Hội nghị bình xét tổ chức ở thôn/ấp, tổ dân cư Chủ trì Hội nghị làTrưởng thôn/ấp, tổ dân cư; tham dự hội nghị gồm đại diện đảng ủy, UBND cấp xãLong Nguyên, cán bộ giảm nghèo, bí thư chi bộ, chi hội trưởng các chi hội đoàn thểthôn/ấp; các hộ có tên trong danh sách đưa ra bình xét; đại diện các hộ gia đình trongthôn/ấp, tổ dân cư (hội nghị phải có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự) Việc bìnhxét theo nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan và phải lấy ý kiến biểu quyết đốivới từng hộ (theo hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín); kết quả biểu quyết phải có trên50% số người tham dự đồng ý mới đưa vào danh sách đề nghị: hộ thoát nghèo, cậnnghèo; hộ nghèo, cận nghèo mới
Trang 19CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NGHÈO ĐÓI
ở XÃ LONG NGUYÊN, HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG2.1 Khái quát chung về xã Long Nguyên
2.1.1 Vị trí địa lí
Địa giới hành chính của xã:
+ Phía tây giáp sông Thị Tính và xã An Lập (huyện Dầu Tiếng)
+ Phía đông giáp xã Lai Hưng, Lai Uyên (huyện Bàu Bàng)
+ Phía bắc giáp xã Long Tân (huyện Dầu Tiếng)
+ Phía nam giáp thị trấn Mỹ Phước (thị xã Bến Cát)
Xã Long Nguyên hiện có 12 ấp, gồm : Long Hưng, Bà Phái, Mương Đào, BưngThuốc, Bến Sắn, Long Bình, Long Thành, Nhà Mát, Hố Muôn, Trảng Lớn, Suối Tre,
Sa Thêm
Trên địa bàn xã có tuyến đường tỉnh lộ ĐT 749A chia cắt xã làm đôi, đây làtuyến đường bộ huyết mạch của xã, nối xã với các huyện trong tỉnh, cũng là một trongnhững con đường chính nối thị xã Bến Cát với huyện Dầu Tiếng Hệ thống giao thông
đi lại của xã Long Nguyên có cả đường thủy lẫn đường bộ Sông Thị Tính nằm ở phíatây của xã, vừa là ranh giới tự nhiên vừa là tuyến đường thủy quan trọng, vừa là nguồnnước tưới và bồi đắp phù sa màu mỡ cho vùng đất ven sông
Địa hình xã Long Nguyên không bằng phẳng, có nhiều kênh rạch, được phânlàm 2 vùng, vùng trũng và vùng đồi Vùng trũng thích hợp với việc trồng lúa, hoa
Trang 20màu, còn ở vùng đồi, ngày nay cây khoai mì đã nhường chỗ cho rừng cao su bạt ngànvới hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay xã được công nhận là xã nông thôn mới đầu tiên của Huyện BàuBàng Trên địa bàn xã có 01 trường THCS Long Bình, 02 trường tiểu học Long Bình
và Long Nguyên, 01 trường mầm non Hoa Hồng, 04 trường đều đạt trường chuẩnQuốc Gia cấp độ 01
2.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
Long Nguyên là một trong 15 xã, thị trấn của huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.Đến tháng 04 năm 2014 do tách huyện, xã Long Nguyên là một trong 07 xã thuộchuyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
Long Nguyên có địa hình rộng, diện tích tự nhiên là 7.562,61ha Hiện nay chủyếu trồng cây lâu năm như cao su, điều chiếm 4.730,4ha (riêng diện tích trồng cao suchiếm đến 3.370,6ha) còn lại là lúa nước, 148,5 ha đất trồng hoa màu, trồng cỏ và nuôitrồng thủy sản
Dân số gồm 4.262 hộ với 9.349 nhân khẩu, trong đó 80% hộ sản xuất nôngnghiệp, 16% hộ làm công nhân cao su, 4% hộ buôn bán dịch vụ Toàn xã có 273 hộ với
769 nhân khẩu theo đạo Thiên chúa giáo, một số theo đạo Cao Đài, Tinh Lành nhưngkhông đáng kể và 23 hộ dân tộc thiểu số với 98 nhân khẩu, gồm có: Khơ Me, Hoa,Nùng, Sán Dìu
Xã Long Nguyên được tỉnh và huyện Bàu Bàng (trước kia là huyện Bến Cát)chọn là 1 trong 3 xã điểm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nôngthôn mới (NTM) giai đoạn 2011-2015 Qua 4 năm thực hiện xây dựng NTM, đến nay
xã Long Nguyên đã hoàn thành 19/19 tiêu chí, trở thành xã đầu tiên của huyện BàuBàng hoàn thành chương trình xây dựng NTM Tổng nguồn vốn huy động trong 4 nămtriển khai xây dựng NTM của xã trên 838 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách Nhà nướctrên 415 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp trên 29 tỷ đồng, vốn nhân dân đóng góp trên 393
tỷ đồng
Với việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và vốn từ nhân dân đóng góp chiếmhơn 50% nguồn kinh phí triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM,cho thấy vai trò chủ đạo của nhân dân trong việc triển khai, vận động đóng góp cùng
Trang 21chính quyền và Nhà nước chung tay xây dựng NTM của xã Long Nguyên, thể hiện caotinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, phát huy tốt vai trò chủ đạo của nhân dântrong xây dựng NTM, từ đó giúp địa phương hoàn thành chương trình mục tiêu quốcgia xây dựng NTM sớm hơn 1 năm so với kế hoạch đề ra.
Qua gần 4 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM,Long Nguyên đã đầu tư 9 tỷ đồng xây dựng, sửa chữa văn phòng ấp Nhờ vậy đến nay12/12 ấp có văn phòng ấp, mỗi văn phòng rộng từ 100 - 200m2 Bên cạnh đó, LongNguyên đã duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa bảo đảm 100% tuyến đường trục xã, liên xãđược nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 100% đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vàomùa mưa với tổng số tiền trên 260 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đóng góp của ngườidân là 4,1 tỷ đồng Riêng tiêu chí về điện, điện chiếu sáng công cộng từ trung tâm xãđến các ấp, Long Nguyên đã đầu tư trên 23,5 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp hoànthiện
Bên cạnh hoàn thành các tiêu chí khó, xã Long Nguyên đã thực hiện nhiều tiêuchí đạt chuẩn trên mức quy định của chương trình xây dựng NTM Cụ thể như trườnghọc, toàn xã có 4 trường đạt chuẩn quốc gia gồm trường THCS Long Bình, trườngTiểu học Long Bình và Long Nguyên và trường Mầm non Hoa Hồng; về y tế xã đạtchuẩn với tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 70% Kết quả đó đã giúpLong Nguyên về đích chương trình xây dựng NTM trước một năm
Việc thực hiện chương trình xây dựng NTM ở xã đã tạo sự chuyển biến rõ nét,
cơ bản về mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội Nổi bật nhất là thu nhập bình quân đầungười tăng lên gần 39 triệu đồng/năm; kinh tế phát triển theo hướng bền vững, ổnđịnh, gắn với bảo vệ môi trường Bên cạnh đó là bảo đảm an ninh trật tự, giải quyết tốtcác vấn đề an sinh xã hội
“Nhờ xây dựng NTM trường học được đầu tư sửa chữa, xây dựng mới khangtrang, đường sá sạch đẹp, chợ quy hoạch tập trung tạo điều kiện cho bà con buôn bánthuận tiện Người dân rất vui mừng khi cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu vui chơi, sinhhoạt, phát triển kinh tế được đầu tư xây dựng”
Bộ mặt nông thôn Long Nguyên theo đó đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhândân ngày càng nâng cao
Trang 222.2 Thực trạng nghèo đói của xã Long Nguyên
Xã Long Nguyên là 1 trong 7 xã của huyện bàu bàng có số dân đông nhất là4.262 hộ dân ( 2014) trong đó xã Long Nguyên gồm 12 ấp, trong đó có 11 ấp có số hộdân nghèo chiếm với tổng số là 31, chiếm 0,72% và 7 ấp có hộ dân cận nghèo vớitổng số là 16 hộ, chiếm 0.37%
Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo được thể hiện thông qua biểu đồ dưới đây
Hình 2.1 : Biểu đồ thể hiện số hộ nghèo, cận nghèo và các hộ khác tại xã Long
Nguyên năm 2014 (Báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của xã
Long Nguyên)
Và tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giữa các ấp có sự chênh lệch với nhau cụ thể qua haibảng số liệu dưới đây:
Trang 23Hộ nghèo:
Bảng 2.1: số hộ nghèo của các ấp ở xã Long Nguyên năm 2014 (Báo cáo
tổng kết về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của xã Long Nguyên)
Trang 24Hình 2.2 : Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hộ nghèo giữa các ấp, xã Long Nguyên năm 2014,
đơn vị % (Báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của xã Long Nguyên)
Qua bảng số liệu 2.1 và hình 2.2 chúng ta nhận thấy rằng:
Trong tổng số là 124 nhân khẩu thì có tới 31 hộ thuộc diện hộ nghèo chiếm tới25% trong tổng số 100%
Ấp có số hộ nghèo nhiều nhất là ấp Long Thành có 5 hộ, chiếm 16,12% trên tổng
số hộ nghèo của toàn xã
Ấp có số hộ nghèo thứ 2 là ấp Hố Môn có 4 hộ, chiếm tới 13.01% trên tổng số hộnghèo của toàn xã
Có 5 ấp có tổng số hộ nghèo là 2 đó là các ấp: Nhà Mát, Bưng Thuốc, MươngĐào, Long Hưng, Bà Phái, mỗi ấp như vậy chiếm 6.45% trên tổng số hộ nghèo của xã
Từ ấp có số hộ nghèo cao nhất đến ấp có số hộ nghèo thấp nhất chênh lệch nhau là
3 hộ nghèo, cụ thể là từ ấp Long Thành có số hộ nghèo nhiều nhất là 5 hộ đến những ấp
có số hộ nghèo thấp nhất như: Bà Phái, Long Hưng, Nhà Mát, Bưng Thuốc, MươngĐào là 3 hộ
Trong đó thì Long Thành là ấp có nhiều nhân khẩu nhất gồm 20 nhân khẩu trongtổng số 124 nhân khẩu , chiếm 16.13% trên tổng 100%
Ấp có số nhân khẩu đứng thứ 2 là ấp Bến Sắn gồm 16 nhân khẩu trong tổng số
124 nhân khẩu, chiếm 12.93 % trên tổng 100%
Ấp có số nhân khẩu nhiều thứ 3 là ấp Hố Môn gồm 15 nhân khẩu trong tổng số
124 nhân khẩu, chiếm 12.09 % trên tổng 100%
Cũng có nhiều ấp có số nhân khẩu bằng nhau :
Ấp Trảng Lớn và Sa Thêm có 12 nhân khẩu trong tổng số 124 nhân khẩu, chiếm 9.68%trên tổng 100%
Ấp Suối Tre và Mương Đào gồm 9 nhân khẩu trong tổng số 124 nhân khẩu, chiếm 7.25
Trang 25Long Hưng có 8 nhân khẩu, ấp Mương Đào có 9 nhân khẩu và ấp Bà Phái có 10 nhânkhẩu Điều đó chứng tỏ rằng Bưng Thuốc là ấp có thu nhập thấp nhất.
Ấp Long Thành có 20 nhân khẩu nhưng số hộ nghèo là 5, chiếm ¼ số nhân khẩutrong toàn ấp
Ấp Hố Môn có 15 nhân khẩu và số hộ nghèo là 4, chiếm 1/3 số nhân khẩu trongtoàn ấp, ta thấy rằng số hộ nghèo chiếm rất nhiều trong tổng số toàn ấp
Còn các ấp có số hộ nghèo là 3 bằng nhau như ấp: Trảng Lớn có số nhân khẩu là
12, Sa Thêm có số nhân khẩu là 12; ta nhận thấy được ở 2 ấp này có sự phát triển đềunhau từ đó hiểu được thực trạng nghèo đói ở cả 2 ấp
Ở 2 ấp có số hộ nghèo bằng nhau nhưng số nhân khẩu lại chênh lệch rất nhiều
đó là ấp Suối Tre với 9 nhân khẩu và ấp Bến Sắn với 16 nhân khẩu Từ đó suy ra đượckinh tế ở Suối Tre và Bến Sắn có sự chênh lệch rất lớn, thu nhập của các hộ dân ở ấpBến Sắn có phần ổn định hơn và cao hơn ở ấp Suối Tre, tình trạng nghèo đói có phần íthơn khi xét đến diện toàn nhân khẩu, ở Suối Tre tuy số nhân khẩu ít nhưng số hộ nghèolại bằng ấp Bến Sắn có số nhân khẩu cao hơn tới 7 nhân khẩu
Chênh lệch từ ấp có nhiều nhân khẩu nhất (20 nhân khẩu) đến ấp có ít nhân khẩunhất (6 nhân khẩu) là 14 nhân khẩu Trong địa bàn xã có sự chênh lệch cao về nhân khẩu như vậy nhưng số hộ nghèo từ ấp có nhiều hộ nghèo nhất đến ấp có ít hộ nghèonhất chỉ có 2 hộ Từ đó suy ra trong toàn xã Long Nguyên tình trạng nghèo đói diễn rakhá phổ biến và rất phức tạp
Cùng với sự phân hóa về hộ nghèo, hộ cận nghèo cũng có sự phân hóa giữa các ấptrong xã Hộ cận nghèo tập trung phần lớn ở các ấp : Long Bình, Bến Sắn, Bà Phái Cụthể sự phân hóa hộ cận nghèo thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2: Số hộ cận nghèo của các ấp ở xã Long Nguyên năm 2014 (Báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của xã Long Nguyên)