1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hình thức hát xẩm ở xã yên phong huyện yên mô tỉnh ninh bình

79 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

48 3.1 Gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của hình thức hát Xẩm tại xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình.. 48 3.2 Những hạn chế trong hoạt động phát triển nghệ thuật hát Xẩ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀ NỘI- 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 8

Chương I: Khái quát vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội của xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình 8

1 1 Vị trí địa lý 8

1.2 Kinh tế 10

1.3 Văn hóa – xã hội: 16

Chương II: Hình thức nghệ thuật Hát Xẩm 28

2.1 Nguồn gốc của hình thức hát Xẩm 28

2.2 Hình thức hát Xẩm: 32

2.2.1 Các hình thức hát Xẩm: 32

2.2.2 Giai điệu, nhạc cụ và lời ca của hình thức hát Xẩm 36

2.3 Sân khấu biểu diễn của hát Xẩm 43

2.4 Giá trị của hình thức hát Xẩm 45

Chương III: Gìn giữ, bảo tồn và phát triển hình thức hát Xẩm 48

3.1 Gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của hình thức hát Xẩm tại xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình 48

3.2 Những hạn chế trong hoạt động phát triển nghệ thuật hát Xẩm của xã Yên Phong – Yên Mô nói riêng và nhân dân tỉnh Ninh Bình nói chung 51

3.3 Phát triển hình thức hát Xẩm ở tỉnh Ninh bình 53

3.4 Phát triển và giới thiệu nét đẹp văn hóa truyền thống của loại hình nghệ thuật hát Xẩm với du khách trong và ngoài nước 61

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 66

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngay từ khi còn nhỏ, được lắng nghe mẹ cùng các đồng nghiệp của

mẹ hát những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng, thắm đượm tình yêu con người, quê hương, đất nước tôi đã rất yêu thích và say mê chúng Và khi lớn hơn, Mẹ đã giải thích cho tôi biết những giai điệu đó là Chèo, là Trầu Văn, là Ca Trù, là Xẩm…- những di sản phi vật thể vô giá của Ninh Bình nói riêng và của cả nước nói chung Có lẽ niềm đam mê nghệ thuật dã theo tôi từ ngày ấy Giờ đây là sinh viên năm cuối của Trường Đại học Văn hóa

Hà Nội, khoa Quản lý văn hóa nghệ thuật, lớp chuyên ngành âm nhạc, tôi thực sự rất mãn nguyện bởi đã thực hiện được ước mơ theo đuổi con đường trở thành một cán bộ văn hóa góp sức mình trong công cuộc gìn giữ và phát triển những nét đẹp văn hóa vốn quý của cha ông truyền lại để lại

Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cố đô Hoa Lư – Ninh Bình giàu truyền thống văn hóa lịch sử Càng tự hào hơn nữa khi mỗi ngày quê hương Ninh Bình càng trở nên giàu đẹp với những dự án lớn đầu tư về văn hóa du lịch như Cố đô Hoa Lư là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, hiện còn nhiều di tích cung điện, đền, chùa, lăng mộ liên quan đến các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý; Chùa Bái Đính là một quần thể gồm khu chùa cổ và khu chùa mới với quy mô là ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á; Khu du lịch sinh thái Tràng An với hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố đô Hoa

Lư Nơi đây đang được các nhà khoa học lập hồ sơ đề cử Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động đã được tặng chữ: "Nam thiên đệ nhị động" hay "vịnh Hạ Long cạn" với các điểm du lịch như: Tam Cốc, đền Thái Vi, chùa Bích Động, động Tiên, hang Bụt, thung Nắng, Hải Nham, thung Nham, vườn chim…; Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, là rừng quốc gia đầu tiên của Việt Nam Nơi đây có nhiều động thực vật quý hiếm,

Trang 4

có cây chò ngàn năm tuổi, có động Người Xưa; Nhà thờ Phát Diệm là công trình kiến trúc tôn giáo kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương đông và phương tây Là một công trình kiến trúc đá độc đáo; Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long là khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ Tại đây có suối nước nóng Kênh Gà, động Vân Trình, Kẽm Trống

và nhiều núi hang đẹp khác; Vùng ven biển Kim Sơn với những giá trị kiến tạo địa chất và đa dạng sinh học nổi bật toàn cầu được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, là một khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam Ngoài ra còn có: động Mã Tiên, hồ Đồng Chương, núi Non Nước, sông Hoàng Long, núi Kỳ Lân, khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, Phòng tuyến Tam Điệp, hồ Đồng Thái, sân golf Hoàng Gia 54 lỗ hiện đại và lớn nhất Việt Nam và rất nhiều những

dự án phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội mang tính Quốc gia, Quốc tế

Ninh Bình đang là một hiện tượng phát triển nhanh, mạnh và vững chắc về cả kinh tế, văn hóa và chính trị Trong đó phát triển văn hóa đang được chính phủ cùng các cấp chính quyền trong tỉnh rất quân tâm Kinh đô Hoa Lư - Ninh Bình xưa là quê hương của hát chèo, được coi là đất tổ của nghệ thuật sân khấu chèo tiêu biểu nhất ở Việt Nam Làm phong phú bản sắc văn hóa dân gian nơi đây còn phải kể đến hai loại hình dân ca là hát xẩm và ca trù Ninh Bình cũng là “cái nôi” của loại hình nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền bởi nơi đây có những vùng đất và những nghệ nhân tiêu biểu nhất của dân tộc đang lưu giữ loại hình nghệ thuật hát Xẩm.Để phát triển văn hóa nghệ thuật, tỉnh Ninh Bình đã xây dựng đề án khôi phục một loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian cổ truyền của dân tộc, vừa bình dân, vừa chuyên nghiệp, vừa độc đáo lại quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt Nam đó là Hát Xẩm Hát Xẩm có nguồn gốc từ lâu đời, là một trong những món ăn tinh thần của người dân Việt Nam Ninh Bình là nơi phát tích của nghệ thuật chèo và cũng là vùng đất có những nghệ nhân tiêu biểu nhất của dân tộc đang lưu giữ loại hình nghệ thuật hát Xẩm Vì thế, có cơ sở để

Trang 5

khẳng định Ninh Bình là một trong những “cái nôi” của loại hình nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền Tuy nhiên, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, loại hình nghệ thuật hát Xẩm đang có nguy cơ bị thất truyền Một trong những nguyên nhân chính là các nghệ nhân hát Xẩm ngày một vắng bóng Hiện tại, chỉ có nghệ nhân-nghệ sỹ ưu tú Hà Thị Cầu ở xã Yên Phong, huyện Yên Mô là còn có thể tự sáng tác, tự trình diễn nhạc cụ và biểu diễn một cách nhuần nhuyễn, mang lại cái hồn cho loại hình nghệ thuật độc đáo này Nhưng cụ Hà Thị Cầu hiện đã rất yếu, khả năng nhớ và hát các làn điệu Xẩm cũng dần mai một

Vì vậy là một người con của mảnh đất Cố Đô Hoa Lư Ninh Bình, là sinh viên được đào tạo chuyên sâu về quản lý văn hóa nghệ thuật, chuyên ngành âm nhạc tôi đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về hình thức hát Xẩm ở xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình” để có cơ hội được nghiên cứu

về “cái nôi” của loại hình nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền, được tìm hiểu một cách chuyên sâu bài bản về hình thức hát Xẩm

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu:

Đề tài nghiên cứu lịch sử văn hóa kinh tế xã hội của xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, nghiên cứu về nguồn gốc, hình thức nghệ thuật hát Xẩm Đề tài cũng sẽ đánh giá một cách sâu sắc ý nghĩa của hình thức hát Xẩm đối với đời sống tinh thần của người dân xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, người dân toàn tỉnh Ninh Bình nói riêng và

du khách nói chúng từ đó đưa những ý kiến đóng góp trong việc gìn giữ và phát triển những giá trị văn hóa đích thức của hình thức Hát Xẩm của xã Yên Phong huyện Yên Mô để nhân rộng loại hình nghệ thuật này

Mục đích:

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đưa ra một cái nhìn đúng đắn nhất về hát Xẩm và cái nôi nghệ thuật hát Xẩm truyền thống Mong rằng

Trang 6

đây sẽ là tài liệu có ý nghĩa và có ích đối với những ai quan tâm tới đề tài này

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu tài liệu

có các bước thể nghiệm để định hình được các giá trị văn hóa truyền thống quý báu của loại hình nghệ thuật này Để từ đó khai thác nguồn lực từ các

tổ chức, cá nhân, đóng góp cho việc giữ gìn di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể liên quan đến loại hình nghệ thuật này; khuyến khích sự sáng tạo của nhân dân trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật

- Là tài liệu có ý nghĩa và có ích đối với những ai quan tâm tới đề tài này

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo

Đề tài có bố cục bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội của xã Yên Phong huyên Yên Mô tỉnh Ninh Bình

1.1 Vị trí địa lý

1.2 Kinh tế

1.3 Văn hóa – xã hội

Chương 2: Hình thức hát Xẩm ở xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình

Trang 7

2.1 Nguồn gốc của hình thức hát Xẩm

2.2 Hình thức hát Xẩm

2.2.1 Các hình thức hát Xẩm

2.2.2 Giai điệu, nhạc cụ và lời ca của hình thức hát Xẩm

2.3 Sân khấu biểu diễn của hát Xẩm

3.2 Những hạn chế trong hoạt động phát triển hình thức hát Xẩm tại

xã Yên Phong huyện Yên Mô nói riêng và nhân dân tỉnh Ninh Bình nói chung

3.3 Phát triển hình thức hát Xẩm ở Ninh Bình

3.4 Phát triển và giới thiệu nét đẹp văn hóa truyền thống của loại hình nghệ thuật hát Xẩm với du khách trong và ngoài nước

Trang 8

NỘI DUNG Chương I:

Khái quát vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội của

xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình

1 1 Vị trí địa lý

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam Theo quy hoạch xây dựng phát triển kinh tế thì tỉnh Ninh Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Mặc dù được xếp vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhưng Ninh Bình chỉ có 2 huyện duyên hải

là Yên Khánh và Kim Sơn không thuộc miền núi Vùng đất này từng là kinh đô của Việt Nam ở thế kỷ X, là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng Ninh Bình được ví như một Việt Nam thu nhỏ

Ninh Bình giáp với Hòa Bình, Hà Nam ở phía bắc, Nam Định ở phía đông qua sông Đáy, Thanh Hóa ở phía tây, biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông nam Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93

km về phía nam

Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía tây bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp Nơi đây

có đỉnh Mây Bạc với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất Ninh Bình Vùng đồng bằng ven biển ở phía đông nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp Rừng ở Ninh Bình có đủ cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại Có 4 khu rừng đặc dụng gồm rừng Cúc Phương, rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch

sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn Ninh Bình có

bờ biển dài 18km Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra

Trang 9

trên 100m Vùng ven biển và biển Ninh Bình đã được UNESCO công nhận

là khu dự trữ sinh quyển thế giới Hiện 2 đảo thuộc Ninh Bình là đảo Cồn Nổi và Cồn Mờ

Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm; Nhiệt

độ trung bình 23,5 °C; Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ; Độ ẩm tương đối trung bình: 80-85%

Trong đó Yên Phong là một xã nằm ở phía đông huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình Trụ sở xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 19 km Đây cũng là một xã nằm bên bờ sông Vạc Xã này có tỉnh lộ 480 nối từ Quốc lộ 1A tại Mai Sơn qua Thị trấn Yên Thịnh đến Quốc lộ 10 tại Lai Thành Theo đề án điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị đến năm

2030, tầm nhìn 2050 của tỉnh Ninh Bình thì xã này được quy hoạch thành

đô thị Lồng

Trang 10

1.2 Kinh tế

Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch

Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, Năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; Năm 2010 thu ngân sách đạt 3.100 tỷ đồng trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/63 và 43/63 Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2011: Công nghiệp - xây dựng: 49%; Nông, lâm - ngư nghiệp: 15%; Dịch vụ: 36%

Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên

Hà, xi măng Hướng Dương Sản phẩm chủ lực của địa phương là xi măng,

Trang 11

2011, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 12.826 tỷ đồng, tăng 4.168 tỷ đồng so với thực hiện năm 2010 Về thu hút đầu tư, tỉnh hiện có những dự

án công nghiệp với mức đầu tư lớn đang được triển khai xây dựng như: Nhà máy đạm Ninh Bình công suất 56 vạn tấn/năm, nhà máy sản xuất phụ tùng động cơ tàu thuỷ Vinashin, nhà máy sản xuất sôđa, nhà máy sản xuất phôi thép Ninh Bình

Nghề thủ công truyền thống địa phương có: thêu ren Văn Lâm, đá

mỹ nghệ Ninh Vân ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh , đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, làng nghề mộc Phúc Lộc, Ninh Phong (Thành phố Ninh Bình)

Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản, vùng Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch Cơ cấu Nông, lâm, thuỷ sản trong GDP của tỉnh, năm 2007 đạt 26% (mục tiêu đến năm 2010 là 17%) Lĩnh vực nuôi thuỷ sản phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2007 đạt 9.021

ha, tăng 27,7% so với năm 2004; trong đó diện tích nuôi thả vùng nước ngọt đạt 6.910 ha, nuôi thuỷ sản nước lợ 2.074 ha Sản lượng thuỷ sản năm

2007 đạt 18.771 tấn Trong đó sản lượng tôm sú đạt 1.050 tấn, cua biển đạt 1.280 tấn Tổng giá trị thuỷ sản năm 2007 đạt 350 tỷ đồng, tăng 73,4 tỷ đồng so với năm 2004 Về hạ tầng, tỉnh đang đầu tư, nâng cấp, xây mới nhiều trạm bơm nước, kênh mương Các tuyến đê quan trọng như: đê biển Bình Minh II; đê tả, hữu sông Hoàng Long; đê Đầm Cút, đê Năm Căn, hồ Yên Quang, âu Cầu Hội được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá

Ninh Bình có vị trí hội tụ giao thông liên vùng rất thuận lợi cho phát triển lưu thông hàng hóa với các địa phương khác trong cả nước Về dịch vụ hạ tầng du lịch, Ninh Bình có điều kiện phát triển đa dạng các loại

Trang 12

hình du lịch: sinh thái - nghỉ dưỡng, văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch mạo hiểm, thể thao

Ninh Bình đang có nhiều nỗ lực kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ Tỉnh coi đây là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ đạt 16% Từ năm 2004, Sở Công thương Ninh Bình đã xây dựng quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2010

và định hướng đến năm 2015 Năm 2008, toàn tỉnh có 107 chợ, trong đó hiện có Chợ Rồng ở thành phố Ninh Bình là chợ loại 1 và 5 chợ loại 2 Các chợ Rồng, chợ Đồng Giao, chợ Nam Dân, chợ Ngò đều được Bộ Công thương quy hoạch thành chợ đầu mối tổng hợp, 3 chợ đầu mối nông sản được đầu tư xây mới là chợ thủy sản Kim Đông, chợ rau quả Tam Điệp và chợ nông sản Nho Quan

Sau khi tái lập huyện, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Yên Mô đã phát huy tốt tiềm năng và lợi thế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước trở thành “điểm sáng” trong phát triển kinh tế của tỉnh

Từ xưa Yên Mô đã nổi tiếng là vùng đất hiếu học, chuộng văn chương, nhân dân Yên Mô có lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống ngoại xâm vì nền độc lập, tự do của dân tộc Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện được thành lập từ năm 1929 do đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư chi bộ sau này là Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Đây

là 1 trong 2 chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh ta Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Yên Mô đã có hàng vạn con em hăng hái lên đường đánh giặc, đã có hàng nghìn người anh dũng hy sinh giành độc lập cho dân tộc Sau 17 năm, từ năm 1977 đến năm 1994 sáp nhập 9 xã của huyện Yên Khánh thành lập huyện Tam Điệp, thể theo tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển trong công cuộc đổi mới đất nước, ngày 4/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định

Trang 13

59 cho phép tái lập huyện Yên Mô Ngay sau khi được tái lập, Đảng bộ và nhân dân Yê Mô đã xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm cùng với tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội Tập trung khai thác các tiềm năng thế mạnh, tích cực chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH Từ một địa phương có điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp bấp bênh, luôn thiếu lương thực Đến nay, kinh tế của huyện Yên Mô đã có bước tăng trưởng khá, sản xuất lương thực liên tục đạt đỉnh cao về năng suất, sản lượng và bình quân lương thực đầu người Cơ cấu trà lúa, giống lúa được chuyển dịch theo hướng tích cực, Yên Mô đã tập trung gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năn xuất cao, lúa đặc sản, lúa chất lượng cao nhằm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Năng suất lúa không ngừng tăng lên, tổng sản lượng lương thực năm 2011 đạt gần 85 ngàn tấn/ha, tăng 2,5 lần so với năm

1994, bình quân lương thực đầu người đạt 750kg, tăng gấp 2,2 lần so với năm 1994; góp phần đưa giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác đạt 91 triệu đồng, tăng gấp 4 lần so với năm 2001 Thực hiện Nghị quyết số 03 của Tỉnh uỷ Huyện Yên Mô đã đẩy mạnh phát triển vụ đông, từng bước đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính với diện tích trên 4000ha Cùng với đó, chăn nuôi cũng được quan tâm Đến nay, toàn huyện có 53 trang trại chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao, đem lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm Đặc biệt là từ năm 2005 đến nay, Yên Mô đã chuyển đổi trên 200ha ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản theo mô hình 1

vụ lúa, 1 vụ cá, kết hợp chăn nuôi trên bờ, tập trung ở các xã Yên Thái, Yên Đồng… Qua đó góp phần tăng giá trị sản xuất chăn nuôi- nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn

Cùng với sản xuất nông nghiệp, Yên Mô còn là địa phương có tiềm năng, thế mạnh để phát triển CN-TTCN Với các làng nghề truyền thống như sản xuất đồ mộc dân dụng, thêu ren, chế tác đá mỹ nghệ, may mặc… Với nguồn lao động dồi dào, hệ thống giao thông thuận tiện, hàng năm,

Trang 14

Yên Mô bố trí kinh phí hàng trăm triệu đồng và tranh thủ các nguồn hỗ trợ khuyến công Quốc gia, khuyến công địa phương và nguồn vốn hỗ trợ việc làm của Nhà nước Hỗ trợ đào tạo nghề, ưu tiên cho các nghề chế biến sản phẩm cói xuất khẩu, thêu ren, chế tác đá mỹ nghệ và may công nghiệp Đến nay, Yên Mô đã có trên 100 DN đầu tư lớn vào địa bàn, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 6.000 lao động của huyện Huyện đã tập trung chỉ đạo đầu tư, tăng cường quảng bá quy hoạch 2 cụm và 9 điểm CN-TTCN tại các

xã, tạo điều kiện thuận lợi thu hút doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất kinh doanh, trong đó Cụm công nghiệp Mai Sơn đã có 7 doanh nghiệp đầu tư và

đi vào sản xuất, kinh doanh Cụm công nghiệp Yên Phú đã có nhà đầu tư nước ngoài đang làm thủ tục thuê đất xây dựng nhà xưởng sản xuất Cùng với đó, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu phát triển ổn định ở các

xã như: Yên Nhân, Yên Lâm, Yên Từ, Yên Phong, Yên Thái Nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương như: Doanh nghiệp Xuân Tình xã Yên Lâm, năm 2011 DN đã tạo việc làm thường xuyên cho

1500 lao động với mức thu nhập trên 1 triệu đồng/ng/tháng Doanh thu năm

2011 đạt trên 19 tỷ đồng

Hệ thống giao thông của Yên Mô trong những năm qua cũng được quan tâm đầu tư xây dựng, đến nay phần lớn các đường giao thông nông thôn đã được bê tông hóa hoặc rải nhựa đến từng thôn xóm; hệ thống đê điều, kè cống thường xuyên được tu bổ, nâng cấp, nhất là những trọng điểm trong mùa mưa lũ 100% xã, thị trấn có trường cao tầng kiên cố 100% các xã, thị trấn có trạm y tế được xây dựng kiên cố Trung tâm Y tế huyện được xây dựng mới với quy mô 100 giường bệnh Sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã có những bước phát triển toàn diện về quy mô, số lượng, chất lượng, công tác văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực Đến nay, Yên Mô có 201/233 thôn xóm, được công nhận danh hiệu văn hóa các cấp,98% trường học, cơ quan công sở được công nhận văn hoá Có trên

Trang 15

26.000 gia đình được công nhận gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 85% Toàn huyện không còn nhà tranh tre vách đất, công tác an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội được đảm bảo Với những thành tích xuất sắc trong thời gian qua, Đảng bộ, quân và dân huyện Yên Mô vinh dự được Chính phủ, Nhà nước, các bộ ngành TW và tỉnh tặng nhiều phần thưởng cao quý như 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Ba; được Chính phủ tặng 2 cờ thi đua, 43 bằng khen và mới đây nhất năm 2009, Yên

Mô được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất Đó là những dấu ấn phát triển của huyện Yên Mô từ khi tách huyện đến nay

Trong đó Yên Phong là một xã thuần nông, người dân Yên Phong

từ xưa đến nay rất chú trọng sản xuất nông nghiệp, khác vói trước đây, việc sản xuất nông nghiệp truyền thống tốn sức lao động mà hiệu quả kinh tế không cao, với tư duy sản xuất mới, hiện toàn xã đã tiến hành chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, khoanh vùng sản xuất nuôi trồng, thay đổi cây trồng, con giống để phát triển kinh tế thao hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm, UBND xã chỉ đạo 4 hợp tác xã nông nghiệp gieo trồng hoàn thành kế hoạch với tổng diện tích gần 1.400 ha Trên diện tích ấy, bà con Yên Phong đưa các giống lúa mới phù hợp vào các khâu gieo trồng chăm sóc cho đến lúc thu hoạch, bảo quản và đưa ra thị trường Nhờ đó sản xuất nông nghiệp liên tục được mùa, Yên Phong được huyện đánh giá có tốc độ tăng trưởng sản xuất cao, năng xuất từ 121,8 ta/ha (năm 2005) tăng lên 128,6 ta/ha (năm 2009) Tổng sản lượng lương thực bình quân 5 năm đạt hơn 5.500 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 660 kg/năm Bên cạnh cây lúa, diện tích cây màu, các cây công nhiệp ngắn ngày liên tục được mở rộng, đến năm 2009 đạt 70,9 triệu đồng, tăng 35,9 triệu đồng so với mục tiêu Đại hội và tăng 2, 026 lần Mô hình cây trồng tại xã Yên Phong được Hội nông dân huyện đánh giá là mô hình dân vận khéo

Trong chăn nuôi, nhìn chung quy mô còn nhỏ lẻ theo hộ gia đình, đàn trâu bò duy tri ở mức trên 6 trăm con, khoảng 4 ngàn con lợn, 35 ngàn

Trang 16

con gia cầm và 30,1 ha nuôi thủy sản Tổng giá trị chăn nuôi ước đạt hơn 4

tỷ đồng/năm Hiện xã có 6 trang trại lớn kết hợp giữa chăn nuôi cá và chăn nuôi lợn cho hiệu quả kinh tế cao, mô hình này sẽ tiếp tục được nhân rộng trong tương lai gần từ những hướng đi đúng đắn trong sản xuất nông nghiệp, nhiều nông dân Yên Phong đã vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình Vì vậy trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tăng giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác, nông nhiệp được chú trọng đầu tư phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa

1.3 Văn hóa – xã hội:

Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở núi Ba (Tam Điệp) thuộc

sơ kỳ đồ đá cũ; động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình Sau thời kỳ văn hoá Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình

là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng Cư dân

cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu

Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu

Trang 17

tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần

Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá

từ Bắc vào Nam, từ biển vào Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua Nếp sống của

cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất

mở

Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc, Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động", Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động" Ở phía nam thành phố Ninh Bình

có một quả núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi là núi Ngọc Mỹ Nhân Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ

Trang 18

Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình Vùng đất này còn là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh, Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tụy, Ninh Tốn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền

Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua (đặc biệt là các Vua Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục với số lượng vài chục đền thờ mỗi vị); thờ Thánh (Nguyễn Minh Không và các tổ nghề); thờ Thần (phổ biến là các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn) Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi Các lễ hội khác: Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội đền Trần Ninh Bình các công trình kiến trúc văn hóa như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính, đền Thánh Nguyễn, làng chèo Phúc Trì, Nam Dân, Thượng Kiệm, những trung tâm hát chầu văn, xẩm, ca trù ở đền Dâu, phủ Đồi Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn

Là tỉnh không lớn, nhưng Ninh Bình lại có bề dày lịch sử và văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân gian Đây là vùng địa lịch sử, địa văn hoá, đã một thời là vùng đất thiêng - địa chính trị của quốc gia Đại Cồ Việt Ở hang Tam Giao (thị xã Tam Điệp) đã tìm thấy những di vật cuội gia công có niên

Trang 19

đại Sơn Vi - Hoà Bình ( 1 - 2 vạn năm cách ngày nay) Cùng với hang Thung Lang - đá vũ, và hang Chợ Ghềnh - đầu đá mới đến thời đại kim khí, vừa có yếu tố văn hoá sông Hồng, vừa có yếu tố văn hoá sông Mã, là trường hợp quý hiếm, để khảo sát hiện tượng giao lưu văn hoá trong thời

kỳ tiền Đông Sơn, cùng với việc tìm thấy những chiếc trống đồng Nho Quan loại 1 Heger (từ 2.500 năm cách ngày nay), và hàng loạt các phát hiện khác về khảo cổ học gần đây ở Mán Bạc (Yên Mô), hang núi Một, hang Sáo (thị xã Tam Điệp) càng làm sáng tỏ nhận định Ninh Bình cũng là cái nôi của người Việt cổ Điều đáng chú ý ở đây là, trên những mảnh chạc gốm có chi chít vỏ trấu cùng những công cụ chế tác đồ trang sức mỹ nghệ bằng đá, chứng tỏ từ thời đại các vua Hùng dựng nước, người Việt cổ đã sinh tồn bằng nghề trồng lúa, đúc đồng và chế tác đồ mỹ nghệ, trang sức làm đẹp bản thân mình cùng đồng loại trên dải đất này

Có con người là có văn hoá Vì vậy, di sản văn hoá Ninh Bình, trong đó có văn hoá dân gian, hình thành rất sớm, đồng hành và trải dài suốt tiến trình lịch sử dân tộc, từ thời đá cũ đến thời kỳ Bắc thuộc cho tới ngày nay

Di sản văn hoá dân gian ở Ninh Bình tập trung khá đậm đặc ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, là những vùng đất cổ Còn hai huyện Yên Khánh và Kim Sơn là những vùng đất mới hình thành, nên di sản văn hoá dân gian ở đây có phần thưa nhạt hơn các vùng trên

Văn học dân gian Ninh Bình khá đa dạng, phong phú cả về đề tài, thể loại và số lượng Song, phong phú và đa dạng hơn cả là ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết, cổ tích và giai thoại Đặc biệt là những truyện kể dân gian khá nhiều Trong những công trình nghiên cứu đã được công bố từ trước tới nay, ta bắt gặp rất nhiều cổ tượng mẫu của tảng nền văn hoá dân gian như những hình tượng ông khổng lồ, những con rắn, con thuồng luồng, con cú, con giải, con rái thần Có những huyền tích lý giải sự ra đời

Trang 20

của những ngọn núi, dòng sông, tên làng, tên đất Lại có những huyền sử, huyền tích về các nhân vật lịch sử như vua Đinh, vua Lê Các hoàng tử, công chúa, quận chúa, tướng lĩnh các thời hay những huyền thoại ly kỳ về kho vàng khổng lồ thời Cảnh Hưng do Thượng thư Ninh Tốn cất giấu ở hang động Tam Điệp hơn 200 năm trước Hầu hết truyền thuyết, truyện cổ tập trung phản ánh quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chiến thắng thú dữ và quân xâm lược ngoại bang để xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước Nói như Mác, đó là quá trình đấu tranh để chiến thắng "kẻ thù bốn chân và kẻ thù hai chân" vô cùng cam go của nhân dân ta

Ninh Bình có ngót 92 vạn dân, trong đó có tới hơn 200 ngàn người Mường Vì vậy, văn hoá Mường cũng là một bộ phận đáng kể trong di sản văn hoá Ninh Bình Những huyền thoại, huyền tích ở đây lý giải sự ra đời của người Mường, các bản làng, các tộc Mường, cùng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của họ Nghiên cứu văn hoá, nhất là văn hoá dân gian- văn hoá truyền thống Ninh Bình, không thể không nghiên cứu văn hoá Mường trên dải đất này Có lẽ không sai khi cho rằng, những tộc người đầu tiên khai sơn phá thạch dựng cơ đồ trên dải đất cổ xưa nhất của Ninh Bình là người Mường Ninh Bình còn là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền nằm trong những sinh hoạt ca nhạc cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ Những dịp làng quê mở hội truyền thống, cùng với các đám rước,

có phường bát âm tấu những bài lưu thuỷ, bình bán, kim tiền, có múa rồng, múa lân, múa sư tử, kéo chữ, đánh đu, đấu vật chọi gà Nhiều thể loại ca hát - diễn xướng dân gian cùng với nhiều lễ hội cổ truyền mang đậm sắc thái văn hoá cư dân lúa nước đồng bằng Bắc Bộ Tiêu biểu nhất là hát - diễn chèo, tuồng, múa rối, hát ru, cò lả, hát xẩm, hát văn, ca trù, đối đáp giao duyên Ninh Bình cũng là cái nôi của hát - diễn chèo từ thời vua Đinh

Ninh Bình có đủ cả rừng, biển, trung du, miền núi và đồng bằng - đúng là hình ảnh về một đất nước Việt Nam thu hẹp "Là nơi chứa những

Trang 21

vật báu của trời, nơi nổi tiếng có nhiều thắng cảnh" Đây là vùng đất "đầu gối rừng, lưng áp biển", "Núi không cao mà hiểm, sông không sâu mà nước chảy xiết" "con người, phong tục thuần hậu" (Nguyễn Tử Mẫn) Dải đất này đã được các nhà chiến lược quân sự từ thời phong kiến coi "là cổ họng giữa Bắc, Nam" (Đại Nam nhất thống chí) Ninh Bình nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, là cửa ngõ ra đồng bằng Bắc Bộ hay vào lãnh thổ miền Trung Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hoá lớn sông Hồng - sông Mã - Hoà Bình Bởi tính tiếp giáp ấy nên văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang sắc thái vùng miền do yếu tố hội tụ, giao thoa của các nền văn minh, văn hoá trên tích hợp Là vùng đất

có vị trí chiến lược trong suốt hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, nên bao cuộc hành quân thần tốc vào Nam hay ra Bắc vẫn âm vang mặt đất nơi này Đất Ninh Bình ken dày vết chân lịch sử Kinh đô Hoa Lư với ngót nửa thế kỷ của hai vương triều Đinh - Lê dựng nền chính thống, độc lập Nơi hoạch định kế sách và phát xuất các đạo hùng binh năm 981 -

982 phá Tống, bình Chiêm, Lê Đại Hành đã kiến tạo võ công oanh liệt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Hoa Lư cũng là nơi khai sinh ra vương triều Lý với áng văn "Chiếu dời đô" lịch sử Đất này không chỉ là "địa linh" mà còn là nơi "nhân kiệt" Có "Đại Hữu sinh vương", lại có cả "Điềm Dương sinh thánh" nữa! Biết bao danh nhân, danh tướng, danh sỹ sinh ra trên dải đất này! Thời nào Ninh Bình cũng có nhân tài Yếu tố "địa linh", "nhân kiệt" là nhân tố quan trọng và chủ yếu nhất làm nên gương mặt lịch sử - văn hoá Ninh Bình qua các thời đại Yếu tố con người là quyết định nhất Vì "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao" (Trương Hán Siêu)

Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu

ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách đất nước khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú Ninh Bình Có thể gọi đây là hiện tượng "Di mặc danh nhân" (lưu

Trang 22

lại nét bút danh nhân) Bao đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca! Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình

Hiện tại, Ninh Bình cùng với Hà Nội, Hải Phòng là 3 địa phương ở phía bắc Việt Nam có đội bóng chuyên nghiệp tham gia giải bóng đá vô địch quốc gia Câu lạc bộ bóng đá Xi măng The Vissai Ninh Bình lấy sân vận động Tràng An làm sân nhà sân vận động Ninh Bình là sân vận động cấp 1

Từ năm 2005 tỉnh có một đội bóng chuyền hạng mạnh là Tràng An Ninh Bình, một đội bóng mạnh trong hệ thống thi đấu bóng chuyền Việt Nam, đoạt danh hiệu vô địch quốc gia các năm 2006 và 2010 Các môn thể thao thế mạnh khác của Ninh Bình là vật, cầu lông và bóng bàn Một số vận động viên thể thao Ninh Bình tiêu biểu như Nguyễn Đình Cương, Trương Thanh Hằng

Từ năm 2010, ngành Y tế Ninh Bình hiện có 2 bệnh viện quân đội

là Bệnh viện Quân y 5 của Quân khu 3 và bệnh viện Quân y 145 của Quân đoàn 1; 7 bệnh viện tuyến tỉnh đó là bệnh viện đa khoa Ninh Bình, bệnh viện Y học cổ truyền Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện điều dưỡng - PHCN (100 giường), bệnh viện Lao và bệnh phổi Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện Tâm Thần Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện Sản - Nhi Ninh Bình (200 giường) và bệnh viện Mắt Ninh Bình (50 giường)

Về giáo dục và đào tạo tỉnh có Trường Đại học Hoa Lư và 4 trường cao đẳng: Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình; Trường Cao đẳng nghề LILAMA-1; Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình và Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Xây dựng Tam Điệp Năm 2011, Ninh Bình cùng với Nam Định là 2 tỉnh dẫn đầu về tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT với 99,8%

Trang 23

Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, nhiều danh lam, thắng cảnh

và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như:

 Cố đô Hoa Lư là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, hiện còn nhiều di tích cung điện, đền, chùa, lăng mộ liên quan đến các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý

 Chùa Bái Đính là một quần thể gồm khu chùa cổ và khu chùa mới với quy mô là ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á

 Khu du lịch sinh thái Tràng An với hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố

đô Hoa Lư Nơi đây đang được các nhà khoa học lập hồ sơ đề cử Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới

 Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động đã được tặng chữ: "Nam thiên đệ nhị động" hay "vịnh Hạ Long cạn" với các điểm du lịch như: Tam Cốc, đền Thái Vi, chùa Bích Động, động Tiên, hang Bụt, thung Nắng, Hải Nham, thung Nham, vườn chim v.v

 Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, là rừng quốc gia đầu tiên của Việt Nam Nơi đây có nhiều động thực vật quý hiếm, có cây chò ngàn năm tuổi, có động Người Xưa

 Nhà thờ Phát Diệm là công trình kiến trúc tôn giáo kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương đông và phương tây Là một công trình kiến trúc đá độc đáo

 Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long là khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ Tại đây có suối nước nóng Kênh

Gà, động Vân Trình, Kẽm Trống và nhiều núi hang đẹp khác

 Vùng ven biển Kim Sơn với những giá trị kiến tạo địa chất và đa dạng sinh học nổi bật toàn cầu được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, là một khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam

Trang 24

 Ngoài ra còn có: động Mã Tiên, hồ Đồng Chương, núi Non Nước, sông Hoàng Long, núi Kỳ Lân, khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, Phòng tuyến Tam Điệp, hồ Đồng Thái, sân golf Hoàng Gia 54 lỗ hiện đại và lớn nhất Việt Nam

Hiện nay Ninh Bình có các khu du lịch đã và đang hoàn thiện hồ sơ

đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới:

 Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư: di sản văn hóa thế giới

 Vườn quốc gia Cúc Phương, khu du lịch sinh thái hang động Tràng An: di sản thiên nhiên thế giới

Ngoài ra, Vườn quốc gia Cúc Phương, hệ thống núi rừng Cố đô Hoa Lư, khu sinh thái Tràng An là những khu vực của Việt Nam có thể được UNESCO công nhận công viên địa chất toàn cầu

Năm 2009, lượng khách du lịch đến Ninh Bình thống kê được là 2.400.000 trong đó khách quốc tế hơn 600.000 lượt Năm 2010 đón 3.375.261 lượt khách Trong đó khách quốc tế 700.006 lượt Doanh thu ước đạt 549,908 tỷ đồng, tăng 119,8% so với cùng kỳ năm 2009 Ninh Bình được xác định là một trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ, sẽ trở thành thành phố du lịch trong tương lai

Đặc sản Ninh Bình nổi tiếng gồm có các món ăn chế biến từ thịt

dê núi Ninh Bình, Rượu Kim Sơn, miến lươn, cá rô Tổng Trường, dứa Đồng Giao và cơm cháy Ninh Bình Chủ yếu phát triển mạnh dọc theo tuyến quốc lộ 1A

Trong các đặc sản Ninh Bình thì thịt dê núi Ninh Bình là nổi tiếng

và độc đáo nhất Thịt dê Ninh Bình ngon hơn các vùng khác vì: Dê ở đây nuôi trên núi đá vôi, ăn đa dạng các loại lá cây nên thịt săn chắc hơn so với

dê thả đồi; Món ăn từ thịt dê được đi kèm với các loại rau thơm địa phương như lá đinh lăng, lá mơ, lá sung và thịt dê được địa phương xây dựng thành món ẩm thực đặc trưng, đậm đà hương vị sông núi quê hương, được kế

Trang 25

thừa truyền thống với những bí quyết riêng, biến thịt dê thành món đặc sản nổi tiếng

Trương Hán Siêu có thể coi là người có công đầu phát hiện và khai

thác vẻ đẹp Ninh Bình qua hình ảnh núi Non Nước Ông đặt tên núi là Dục

Thúy Sơn và là người đầu tiên lưu bút tích một bài thơ cho các thi sĩ đến

thưởng ngoạn, ngắm cảnh làm những bài thơ khắc vào hệ thống đá núi, hang động ở Ninh Bình Các vua nhà Hậu Lê cũng đặt hành cung ở trên núi Dục Thúy Sơn để đến chơi thăm và vịnh thơ Hiếm có ngọn núi nào có trên

30 bài thơ văn khắc vào núi như núi Thuý và còn đến hàng trăm bài thơ vịnh cảnh của các nhà thơ qua các triều đại: Trần Anh Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phạm Huy ích, Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Phạm Văn Nghị Bài thơ “Dục Thúy Sơn khắc thạch” của Trương Hán Siêu nói về vẻ đẹp núi Dục Thúy ở thành phố Ninh Bình được khắc bên sườn núi, hãy còn bút tích Các thắng cảnh nằm ở cửa ngõ Ninh Bình như Kẽm Trống và Đèo

Ba Dội trên quốc lộ 1A; núi Non Nước, núi Ngọc Mỹ nhân gần quốc lộ 10 đều rất nổi tiếng từ xa xưa trong thơ ca

Bài thơ "Dục Thuý sơn" của Nguyễn Trãi vừa lột tả vẻ đẹp của thiên nhiên Ninh Bình vừa thể hiện một tâm hồn đẹp và tinh tế về con người và đất nước của Nguyễn Trãi, đó là thái độ trân trọng tha thiết đối với những giá trị văn hóa dân tộc qua tình cảm mà ông dành cho Trương Hán Siêu và vùng đất cố đô

Từ xưa xã Yên Phong huyện Yên Mô đã nổi tiếng là vùng đất hiếu học, chuộng văn chương, trộng đạo lý làm người Nhân dân xã Yên Phong huyện Yên Mô có lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường bất khuất trong đấu tranh chống ngoại sâm vì nền độc lập, tự do của dân tộc Vùng đất Yên Phong - Yên Mô còn lưu giữ rất nhiều giá trị truyền thống văn hóa lịch sử quý báu Yên Mô là một vùng đất cổ còn lưu giữ nhiều đình, đền, chùa và các di tích lịch sử văn hóa Từ năm 1994 đến nay, toàn huyện đã có 12 di

Trang 26

tích lịch sử cấp quốc gia, 21 di tích lịch sử cấp tỉnh đã được công nhận Tại các điểm thờ tự và các di tích còn lưu giữ nhiều tư liệu quý như thần phả, ngọc phả, sắc phong, văn bia ghi lại công đức các bậc tiền nhân của quê hương, đất nước và hàng năm đều diễn ra các lễ hội dân gian hết sức phong phú và đặc sắc

Chính vì lẽ đó, từ năm 1989 đến nay, Yên mô đã thu hút được nhiều đoàn khảo cổ học trong và ngoài nước đến nghiên cứu Qua 7 lần khai quật các di chỉ Mán Bạc đã thu được hàng nghìn hiên vật của người Việt cổ cách đây trên 3.000 – 3.500 năm, được xác định thuộc thời đại kim khí theo phân kỳ khảo cổ học Tại điểm khai quật Đồng Vườn đã thu được nhiều hiện vật minh chứng đây là điểm sản xuất gốm sứ cách đây 1.000 năm, là thủy tổ của nghề gốm Bát Tràng – Hà Nội ngày nay

Yên Phong – Yên Mô còn là nơi duy trì được nhiều lang nghề truyền thống Theo thống kê, hiện nay xã có 11 làng nghề truyền thống như nghề khai thác đá, dệt chiếu, làm mộc, làm bún, mây tre đan, nuôi dê Năm

2008, có 2 làng nghề được công nhận đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh Để phát huy giá trị truyền thống, văn hóa vật thể, phi vật thể cũng như vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên của địa phương, huyện Yên Mô đã phối hợp với sở văn hóa – thể thao và du lịch, Sở Thông tin truyền thông, các sở ban ngành của tỉnh, các đơn vị tư vấn xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020 vơi mục tiêu đến năm 2030 đưa giá trị của cơ cấu kinh

tế dịch vụ - du lịch đạt 35%, nỗ lực đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng Hiện nay, UBND huyện đang tập trung chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị liên quan xây dựng hoàn chỉnh quy hoach tổng thể phát triển du lịch đến năm 2030, đồng thời tiến hành xây dựng quy hoạch chi tiết các khu du lịch như các khu liên hiệp thể thao sân golf 54 lỗ với quy mô 680 ha; khu

du lịch sinh thái hồ Đồng Thái với quy mô 150 ha Để tạo sự phong phú, hấp dẫn cho du lịch địa phương, đồng thời gắn kết phát triển các ngành nghề khác,huyện xây dựng quy hoach làng nghề sản xuất hang hóa phục vụ

Trang 27

du lịch như làng nghề thảm cói Nộn Khêm làng nghê thêu ren Hà Thanh, làng gốm Mỹ nghệ Bạch Liên Với mục tiêu đẩy mạnh khai thác du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Yên Mô chủ trương tạo mọi điều kiện và cơ hội thuận lợi bằng cơ chế thông thoáng, ưu đãi để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư kinh doanh du lịch trên địa bàn; tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch, làm tốt công tác quảng

bá, giới thiệu các sản phẩm về du lịch, vận động nhân dân tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao nhân lực, trình độ chuyên môn, phục vụ cho hoạt động

du lịch, xây dựng các làng du lịch sinh thái và nếp sống văn minh du lịch trong cộng đồng dân cư

Bên cạnh đó, có kế hoạch cụ thể để bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của các loại hình nghệ thuật như hát chèo, hát xẩm tại các khu dân cư Trong năm 2010 xã Yên Phong – huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình đã đưa các câu lạc bộ hát xẩm hát chèo đi vào hoạt động thường xuyên Trung tâm VHTT-TT tổ chức các lớp năng khiếu, bồi dưỡng, tập huấn về hát Xẩm, hát chèo Hàng năm tổ chức hội diễn nghệ thuật quần chúng, bắt đầu từ năm 2012 tổ chức liên hoan các các câu lạc bộ truyền thống

Có thể nói rằng, Ninh Bình đã được thiên nhiên quá ưu ái bởi đã ban tặng cho nơi dây những phong cảnh vô cùng hùng vĩ, những tài nguyên

vô cùng giá trị Để từ đó con người Ninh Bình đã sinh sống, lao động sáng tạo ra của cải, sáng tạo ra những nét văn háo hóa bản địa phong phú Từ thời đại đá cũ đến văn minh Đại Việt và cho tới đương đại, gương mặt lịch

sử - văn hoá Ninh Bình nói chung, văn hóa xã hội xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình nói riêng rất phong phú, đa dạng, trong đó có văn hoá, văn nghệ dân gian là nét đẹp văn hóa vô cùng đặc sắc và giá trị

Trang 28

có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp

Cả trong truyền thuyết lẫn hiện thực, nghề hát Xẩm vốn là một loại hình nghệ thuật âm nhạc của những nghệ sĩ hát rong – mà chủ yếu là những người khiếm thị Xẩm vừa là tên gọi của thể loại, đồng thời cũng là tên gọi của những nghệ sỹ hành nghề như anh Xẩm, chị Xẩm, bác Xẩm…

Không rõ nguồn gốc xuất xứ của nghề hát Xẩm nhưng những truyền thuyết về người sáng tạo ra loại hình nghệ thuật này cũng đầy tính thuyết phục Các cụ kể rằng, tục truyền ngày xưa, lâu lắm rồi, có lẽ vào khoảng cuối đời Trần, vợ vua sinh hạ được hai hoàng tử là Trần Quốc Toán

và Trần Quốc Đĩnh Đến khi hai con trưởng thành, nhà vua liền truyền lệnh cho hai hoàng tử lên rừng tìm ngọc quý, ai đem về trước sẽ được truyền ngôi Vâng lời vua cha, hai anh em tức tốc lên đường Trải qua nghìn trùng gian lao vất vả, cuối cùng hoàng tử Đĩnh đã tìm được viên ngọc quý Hoàng từ Toán với lòng tham lam đố kỵ, bèn lừa lúc Đĩnh ngủ say, rút gươm chọc mù hai mắt Đĩnh rồi cướp lấy ngọc đem về Trong cơn bĩ cực khốn cùng, với cặp mắt mù lòa, hoàng tử Đĩnh đã lần mò trong rừng sâu, nhặt được hai mảnh tre khô, liền gõ vào nhau giả tiếng chim chóc để chúng tha thức ăn đến cho chàng cầm hơi, rồi hoàng tử lần mò dần ra cửa rừng

Trang 29

Vô tình quờ quạng được sợi dây rừng, tước nhỏ, se lại, Đĩnh buộc vào cây song mây hình cánh cung để làm đàn và cất lên những khúc nhạc lòng ai oán Những người kiếm củi nghe thấy, liền đưa chàng ra khỏi rừng Từ đó, hàng ngày, hoàng tử Đĩnh lần mò ra xóm chợ, ngã ba đường, kiếm sống bằng chính lời ca, tiếng đàn của mình Tiếng đồn về những khúc nhạc của người nghệ sĩ mù dần vang xa, lan mãi đến tận kinh thành và tới tai nhà vua Nhờ đó mà vua cha đã tìm được Đĩnh và trừng trị Toán Nghệ thuật hát Xẩm nước Nam ta bắt đầu từ đấy

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của hát Xẩm Lúc này, không còn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nông nhàn, Xẩm đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị

và được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác

Trong quá trình phổ biến lối hát Xẩm, có những người mù hoặc nghèo khổ nhưng rất có năng khiếu về âm nhạc đã vận dụng hát Xẩm làm phương tiện kiếm sống, vô hình trung, đưa hát Xẩm trở thành "đặc sản" của những người ăn xin Lượng người hát Xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc

và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

Có thể nói, một thời gian dài, hát Xẩm đã là món ăn tinh thần của quần chúng lao động cả nước nói chung và của nhân dân lao động nghệ thuật của xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình nói riêng Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống,

từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời… Không chỉ phục vụ cho đám đông ngoài xã hội, người nghệ sĩ Xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu như trong dịp cưới xin, ma chay, giỗ kỵ và thậm chí nhiều khi chỉ đơn giản là “nhờ bác Xẩm đánh tiếng dùm” với cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng

Trang 30

Một trong những chức năng vô cùng độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm là một kênh truyền thông bằng tiếng hát rất hữu hiệu Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Xẩm địch vận đã xuất hiện và phát huy vai trò tích cực của mình Để động viên tinh thần đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng, nghệ nhân Xẩm Minh Sen (Thanh Hoá) đã ôm cây đàn nhị đi khắp mọi nơi trên mặt trận để mang những lời

ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ Rồi nghệ nhân Xẩm đất Ninh Bình là bà Hà Thị Cầu, người được mệnh danh là người đàn bà hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, tuy không hề biết đến mặt chữ, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ đã sáng tác ra bài Xẩm “Theo Đảng trọn đời” theo điệu thập ân với những câu thơ: “Vững tâm theo Đảng nghe con/ Đạp bằng sóng gió sắt son lời thề” Hay nghệ nhân Vũ Ðức Sắc với bài “Tiễu trừ giặc dốt” hưởng ứng Phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch

Hồ Chí Minh phát động

Tuy nhiên, đến nay, nghệ nhân hát Xẩm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, đặc biệt những người coi hát Xẩm như một nghề kiếm sống giờ chỉ còn duy nhất nghệ nhân Hà Thị Cầu (vợ út của ông Chánh Trương Mậu - trùm Xẩm đất Ninh Bình khi xưa)

Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm nên các phường Xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa Các nghệ nhân Xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành Đời sống xã hội của nghệ sĩ Xẩm không còn, nghệ thuật hát Xẩm đã bị lãng quên, tưởng như đã thất truyền

Theo tài liệu của ông Trần Việt Ngữ - nhà nghiên cứu dân gian lão thành công bố năm 1964 thì hát Xẩm có 8 làn điệu chính: Xẩm chợ; Xẩm xoan (Chênh bong); Huê tình (riềm huê); Xẩm nhà trò (ba bậc); Nữ oán

Trang 31

(Phồn huê); Hò bốn mùa; Hát ai; Thập ân Tuy nhiên, dân gian thường gọi tên các loại Xẩm theo một số tiêu thức khác, đó là gọi theo tên bài Xẩm nổi tiếng như “Xẩm anh Khóa” (theo tên bài thơ được hát theo điệu Xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải), hoặc theo mục đích, nội dung bài Xẩm như “Xẩm dân vận”, là những bài Xẩm được sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng và gọi theo môi trường biểu diễn như “Xẩm chợ” và “Xẩm cô đầu” (hay còn gọi là Xẩm nhả tơ, Xẩm ba bậc, Xẩm nhà trò, Xẩm huê tình Dung lượng lời ca bài Xẩm thường khá dài, mang đậm phong cách hát kể chuyện Bởi trong môi trường diễn xướng hỗn tạp đông người nơi đầu chợ, bến đò, góc phố sự "dài hơi” của những bài ca là điều tối cần thiết Người ta sẽ không thể cảm nhận kịp những bài

ca ngắn (kiểu cấu trúc ca khúc) Ví như làn điệu "trường thiên”, nổi tiếng nhất của Xẩm có lẽ là điệu Xẩm Thập ân Nội dung của nó kể về công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục, từ lúc phôi thai, mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn cho đến lúc trưởng thành như thế nào Với tính chất da diết, xoáy sâu vào lòng người, Xẩm Thập ân được xem như làn điệu đặc trưng nhất của nghệ thuật Xẩm Nó được coi như một trường ca giáo hiếu hoàn hảo

Bên cạnh những làn điệu riêng, hành trình của Xẩm còn du nhập nhiều làn điệu dân ca khác, bên cạnh những làn điệu vay mượn ở những thể loại bạn như hát Ví, Trống quân, Sa mạc, Hành vân, Lưu thủy Điều đặc biệt, những làn điệu đó đều được "Xẩm hóa” cho đúng với phong cách dân

dã, giang hồ của các nghệ sĩ

Về nhạc cụ, ở đây, điều đáng nói trước nhất là cây đàn bầu Song, phần vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm Xẩm nào cũng sử dụng đàn bầu Chồng bà Hà Thị Cầu- nghệ nhân Xẩm Nguyễn Văn Mậu là một "trùm phường” Xẩm chơi đàn bầu nổi tiếng thời trước ở vùng Ninh Bình Theo thời gian, về cơ bản, một nhóm Xẩm thường phải có đàn nhị, sênh, phách và cặp trống mảnh (trống

Trang 32

da một mặt) Nhưng tùy vào hoàn cảnh, nhiều khi chỉ cần một đàn nhị và

cỗ phách đơn hay cặp sênh là đủ tiếng tơ đồng phụ họa Khi trình diễn, bao giờ cũng có một người hát chính, những người còn lại chơi nhạc cụ đệm hoặc hát đỡ giọng khi cần Tuy nhiên cũng có trường hợp một người hát sử dụng luôn các nhạc cụ phụ họa để biểu diễn

Từ môi trường diễn xướng là hát rong, Xẩm đã trở thành một loại hình nghệ thuật chuyên biệt Những người hát xẩm – họ là những nghệ sĩ chân chính, làm đẹp cho đời và kiếm sống bằng chính tài năng nghệ thuật của mình Xẩm hoàn toàn không phải người ăn mày Họ sống bằng những đồng tiền thù lao tự nguyện của mọi người chứ không bao giờ ngửa tay xin của bố thí Xét một cách toàn diện, Xẩm cũng giống như tất cả những nghệ

sĩ chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ sân khấu của họ chính là đường phố, gốc

đa, bến nước, sân đình hay góc chợ nghèo (về sau này đã được đưa lên sân khấu)… và cũng đề cập đến tất cả những vấn đề cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, anh em cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội đương thời… Hiện tại, ở nước ta nghệ nhân Hà Thị Cầu – hiện sống ở Ninh Bình đã được nhà nước phong tặng Nghệ sĩ ưu tú và được mệnh danh là Nghệ nhân hát Xẩm - Hà Thị Cầu

2.2 Hình thức hát Xẩm:

2.2.1 Các hình thức hát Xẩm:

Từ khi ra đời cho đến giữa thế kỷ 20, hát xẩm được nhiều người khiếm thị sử dụng làm nghề kiếm sống nơi bến đò, chợ búa hay lang thang trên những nẻo đường Họ tổ chức thành các phường hội để truyền nghề

và giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống Vào cuối năm 1954 đầu 1955, để chống lại việc người dân miền Bắc di cư vào miền Nam sau Hiệp định Genève, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tập trung nhiều nhóm hát xẩm (gồm nhiều nghệ nhân xẩm của các vùng Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nội ), cử người viết bài và

Trang 33

đến các vùng duyên hải phía Bắc biểu diễn nhằm vận động nhân dân không

di cư Sau đó, khi Hội Người mù được thành lập, những người hát xẩm được dạy nghề về thủ công và chuyển sang sống bằng nghề mới này nên xẩm dần vắng bóng Hát xẩm hiện nay chỉ đôi khi xuất hiện trên sóng phát thanh, sân khấu như một tiết mục văn nghệ thuần túy do những diễn viên chuyên nghiệp biểu diễn chứ hát xẩm không còn tồn tại với hình thái xã hội vốn có của nó Gần đây, khi công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn dân ca được chú trọng, các nghệ nhân hát xẩm hiếm hoi còn lại như bà Hà Thị Cầu

đã được tổ chức truyền lại cho thế hệ sau loại hình dân ca này Sau mấy chục năm gián đoạn, ngày 29 tháng 3 năm 2008 (22 tháng 2 âm lịch), lễ giổ

tổ nghề hát xẩm cũng đã được phục hồi và tổ chức một cách trọng thể tại Quốc tử giám, Hà Nội Thời gian gấn đây, được sự đồng ý của Sở Văn hoá,

du lịch và thể thao Hà Nội cùng với sự tài trợ của một số doanh nhiệp; các nghệ sĩ Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan, Đoàn Thanh Bình thường tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật hát xẩm vào tối thứ bảy hàng tuần tại truớc cổng chợ Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm trong khuôn khổ các hoạt động văn hóa nghệ thuật tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào "Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị." Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo, hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát xẩm đã được "xẩm hoá" theo phong cách đặc trưng của xẩm Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác:

Trang 34

Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)

Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)

Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện

Theo địa phương có hát xẩm Hà Nội, hát xẩm Ninh Bình, Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi mền Nam gọi là

"nói thơ" chẳng hạn như "nói thơ Lục Vân Tiên"

Ở xã Yên Phong – Yên Mô – Ninh Bình có nghệ nhân Hà Thị Cầu

là nghệ nhân cuối cùng của loại hình hát Xẩm truyền thống Bà tên thật Hà Thị Năm (Cầu là cách gọi theo tên con trai cả ở vùng Yên Mô, Ninh Bình), sinh năm 1917 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình 3 đời hát xẩm Cha mất sớm, bà cùng mẹ về sinh sống tại thôn Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, Ninh Bình

Khoảng tám tuổi, bà đã đã bê chiếc thau đồng theo bố mẹ lê la khắp các chợ quê để hành nghề hát xẩm kiếm sống Định cư sống tại Yên Mô (Ninh Bình), hai mẹ con bà nương nhờ học hát tại nhà ông trùm xẩm Chánh Trương Mậu khi đó hiện là trưởng 6 gánh hát ở Ninh Bình Sau đó

bà trở thành người vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (biệt danh là Chánh Trương Mậu) Năm đó, ông Mậu 49 tuổi, từng chung sống với 17 người đàn bà, trong đó có 8 bà chính thức Khi bà gần 40 tuổi thì ông Mậu qua đời, để lại cho bà 7 người con, 4 người lần lượt bị mất vì bệnh đậu mùa Hiện tại bà sống cùng vợ chồng người con gái Con rể bà

Trang 35

làm nghề đánh cá còn con gái buôn bán rong các chợ Bút, chợ Ninh, chợ Nam Dân ở Ninh Bình

Năm 1977, sau ngày thống nhất, bà viết bài Theo Đảng trọn đời

Sau đó bà đã được tham dự nhiều hội diễn văn nghệ quần chúng toàn quốc, đoạt được nhiều huy chương vàng, giải thưởng đặc biệt Năm 1981 -1982,

bà được Nhạc viện Hà Nội mời tham gia phụ trách chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V Bà đã nhận được bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói Việt Nam và giải đặc biệt "Nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình" trong Liên hoan trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc Bước vào tuổi 90, bà kết thúc công việc hát rong của mình Hoàn cảnh khó khăn của gia đình bà đã được đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông và đã nhận được nhiều sự ủng hộ tích cực của nhiều người hảo tâm Những làn điệu xẩm cùng giọng hát của bà là những di sản quý giá còn lại của nghệ thuật xẩm Bà đã được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vào ngày 25 tháng 12 năm 2004 và

đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú

Năm 2008, Nghệ nhân Hà Thị Cầu đã nhận được giải thưởng Đào Tấn, giải thưởng cho những đóng góp trong việc gìn giữ vốn quý nghệ thuật dân tộc.Mặc dù những giải thưởng và danh hiệu, nhưng cuộc sống của bà vẫn vô cùng khổ cực Đến cuối đời, bà vẫn chưa một ngày thoát khỏi cảnh nghèo khó và gia đình bà Cầu thuộc diện những hộ dân nghèo nhất xã Yên Phong

Nhờ giọng hát độc đáo đó đã đưa bà đến với những sân khấu lớn của nghệ thuật xẩm Việt Nam, đã có lần bà được mời đi biểu diễn tại Trung Quốc Bà đã đạt được nhiều danh hiệu cao quý như: Danh hiệu nghệ sỹ ưu

tú năm 1992; năm 1998, bà được nhận Bằng khen của Đài tiếng nói Việt Nam và giải đặc biệt "Nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình” trong liên hoan trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc; năm 2004, bà được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian; năm 2008, bà tiếp

Trang 36

tục nhận giải thưởng Đào Tấn - giải thưởng cho những đóng góp trong việc gìn giữ vốn quý của nghệ thuật dân tộc Dù tuổi cao, nhưng bà vẫn tham gia dạy hát cho các nghệ nhân nhí Theo bà, hát xẩm đòi hỏi mọi người phải có niềm đam mê, có giọng hát khỏe thì mới theo nghề được Bà nói, xẩm có rất nhiều làn điệu, nếu ai đã hát được điệu Lưu thủy thì sẽ hát được rất nhiều bài như: Huê tình, Hà liễu, Ba bậc, Cò lả Vừa nói tay bà vừa cầm cây líu (Nhị) lên và cất giọng hát: Mẹ kể từ khi mới sinh/Con đâu đã biết gì đau thương/Giặc Pháp giày xéo quê hương/Bà con chết đói ngập đường, đầy chợ Từ khi có Đảng dẫn đường/Tự do độc lập qua cầu nguy nan/ Mẹ con ta khỏi bần hàn

2.2.2 Giai điệu, nhạc cụ và lời ca của hình thức hát Xẩm

Hát Xẩm trong âm nhạc dân gian đa phần có giai điệu chậm rãi, khoan thai, trầm bổng, mang tính kể chuyện (kể tích)… Nghệ thuật hát Xẩm có tính chất rộng mở, thường kể lể thân phận cuộc đời dựa trên ca dao theo thể thơ lục bát hoặc vần thơ của các thi sĩ danh tiếng hay nho sĩ xưa Hát Xẩm kể tích thông qua rất nhiều làn điệu và ca từ bắt nguồn từ dân gian Loại hình nghệ thuật này còn có cấu trúc giai điệu uyển chuyển, tinh tế, nhạc cụ đệm cho hát Xẩm rất phong phú như phách, nhị, sáo, đàn bầu…Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; nêu gương các anh hùng, liệt sỹ hay châm biếm những thói hư, tật xấu hoặc trữ tình Những bài thơ thường được diễn ca trong hát xẩm: thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính Ca từ của Xẩm là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu Ngoài ra, Xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo, hoặc ngâm thơ Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát Xẩm đã được "xẩm hoá" theo phong cách đặc trưng của Xẩm

Trang 37

Những bài hát Xẩm được coi là "kinh điển" của nghệ thuật hát Xẩm như: Anh Khoá, Cho thiếp theo cùng, Lơ lửng con cá vàng, Mục hạ

vô nhân, Lỡ bước sang ngang , hoặc Theo Đảng trọn đời do "thần xẩm"

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng Để thay cho đàn nhị truyền thống,

có thể dùng đàn gáo Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc) Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm

Xẩm có hai làn điệu chính là Xẩm Chợ và Xẩm Cô đào "Hát Xẩm Chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát Xẩm

Cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng Hát Xẩm Cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị."

Về làn điệu, xẩm có trên 400 bài, hầu hết là truyền miệng (không

rõ tên tác giả), nhưng có 7 bài đặc trưng của xẩm đó là Xẩm chợ, giản dị,

Trang 38

ngắn gọn, Chênh bong vui vẻ, phấn chấn, Riềm huê, thường lồng vào hát những nội dung trao tình, hẹn hò, nhớ thương da diết, Ba bực nhịp bằng thì duyên dáng, tha thiết, Phồn huê là điệu hát kể ràu nghe thương cảm về những nỗi cực nhục khổ đau của người phụ nữ trong xã hội, Hát ai với tính chất than thở, oán trách pha chút hài hước, Xẩm thập ân nói lên

những nỗi khổ cực của cha mẹ nuôi dạy con cái từ lúc sinh thành và nhắc nhở con cháu về đạo hiếu Bên cạnh đó, các nghệ nhân hát xẩm còn vận dụng những điệu hát Ví, Trống quân Sa mạc, Bồng mạc, hành vân, lưu thủy, phú lục v.v

Văng vẳng trên cánh đồng bao la với trà lúa thời con gái xanh tươi màu cốm điệu hát ví:

Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân đứng lại em than đôi lời

Đó là giọng kim của cô Mơ cô Mận, cô Đào nào đó Hoặc giọng cò

lả, ru em trong quê trưa đêm vắng, tiếng dây đàn "thùng thì thùng" một điệu hát trống quân với câu hát thậm vô lý nhưng mọi người vẫn hào hứng chấp nhận:

Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

để rồi:

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay

Theo tài liệu của ông Trần Việt Ngữ - nhà nghiên cứu dân gian lão thành công bố năm 1964 thì hát xẩm có 8 làn điệu chính: Xẩm chợ; Xẩm xoan (Chênh bong); Huê tình (riềm huê); Xẩm nhà trò (ba bậc); Nữ oán (Phồn huê); Hò bốn mùa; Hát ai; Thập ân

Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu

mà theo một số tiêu thức khác:

Trang 39

Tên bài Xẩm nổi tiếng: Xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu

xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)

Theo mục đích, nội dung bài Xẩm: Xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)

Theo môi trường biểu diễn: ngoài Xẩm chợ và Xẩm cô đầu (hay còn gọi là Xẩm nhả tơ, Xẩm ba bậc, Xẩm nhà trò, Xẩm huê tình)

Một số trích đoạn lời ca của các bài Xẩm nổi tiếng xã Yên Phong huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình:

Xẩm Sênh

Thăm huyện Yên Mô mấy ai về thăm / huyện Yên Mô ngắm / nhìn phong cảnh ngắm / nhìn phong cảnh bốn / mùa đẹp tươi đồng quê bát / ngát chân trời quanh / năm gieo cấy quanh / năm gieo cấy bốn / mùa bộn thu rộn ràng tiếng / hát xa đưa (LK)

Rộn ràng tiếng / hát xa đưa tám / cô gái đảm tám / cô gái đảm sớm / trưa giữ đường bom rơi đạn / nổ coi thường (giữ / liền mach máu) chiến trường giao thông cung bình sơn / đỏ chiến công (LK)…

…Xưa mấy kia là / đất Cố Đô vua / Đinh tiên Hoàng phất / cờ đôi tay dẹp từ Thập / Nhị xứ quân cõi / bờ thống nhất nghĩa / tình có nhau anh hùng từ / thuở chăn trâu quê / ta lớp trước lớp / sau anh hùng giọng đàn

nay / đã chuyển cung

Ba Bậc:

Ngâm bồng mạc:

Chữ rằng xuân bất tái lai

Ngày nay huê nở ngày mai huê tàn

Hát: Lạng vàng ai / đem trăng kim ư ư / đổi lấy / lạng vàng / ư ừ ư

ư (lưu không…)

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w