1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an

86 639 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Hiện nay, thế giới đang đứng trước thảm hoạ bùng nổ dân số, trong khi diện tích đấtđai canh tác ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Đặc biệt,các nước đang phát triển là khu vực sản xuất lương thực chủ yếu nên vấn đề an ninhlương thực đang là thách thức lớn mang tính toàn cầu

Theo nghiên cứu của FAO, cứ tăng 1% dân số thì nhu cầu lương thực phải tăng4%, nên muốn tăng sản lượng lương thực chỉ có một trong hai hướng giải quyết sau:

- Tăng diện tích canh tác và tăng diện tích gieo trồng Hiện nay, chúng ta bị hạnchế do quá trình đất đai bị đô thị hoá, dân số tăng nhanh và giảm cấp (chất lượng), dosuy thoái môi trường Do đó, phương án này rất khó để thực hiện

- Thâm canh tăng năng suất bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăngnăng suất cây trồng như: ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới hoặc đưa vào sản xuất cácgiống mới hay bộ giống mới có ưu thế hơn về năng suất và phẩm chất so với các giống

cũ và bộ giống cũ là một trong những chương trình an ninh, an toàn lương thực toàn cầucủa Liên Hiệp Quốc và của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, nông nghiệp thu hút 70% dân số của cả nước, với diện tích trồnglúa chiếm 80% tổng diện tích đất canh tác, 90% sản lượng lương thực quốc gia, 68%nguồn năng lượng cung cấp cho con người là từ lúa gạo Trong hơn 20 năm qua, trên

cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu của KHKT trên thế giới và khảo nghiệmgiống cây trồng, nước ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể Lĩnh vực nông

- lâm nghiệp, và nông - thực phẩm đã đạt được sự tăng trưởng liên tục, với mức tăngtrưởng trung bình 4,3%/năm, có sản lượng xuất khẩu gạo đứng vị trí thứ 2 trên thếgiới Các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu cao, thíchứng rộng đã được đưa vào sản xuất thay thế các giống cũ, giống nhập khẩu từ TrungQuốc để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng của xã hội Tuy nhiên, một giốngđược đánh giá tốt nơi này nhưng có thể không tốt ở nơi khác, bởi vì mỗi giống chỉthích ứng trong một khu vực canh tác nhất định Cùng với sự phát triển của giống mớicác biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý được đưa vào sản xuất làm cho sản lượng lúangày càng tăng lên Tuy nhiên sản xuất lúa ở nước ta chủ yếu là các hộ gia đình, với

Trang 2

quy mô nhỏ, sản xuất tự cung tự cấp là chính; sức cạnh tranh tương đối thấp so với cácquốc gia khác trên thế giới, ngay cả trên thị trường nội địa (như cạnh tranh với gạoThái Lan, gạo Campuchia…).

Diễn Thái là một xã đồng bằng nằm ở phía Bắc Tây Bắc huyện Diễn Châu, thuộctỉnh duyên hải miền trung chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: bão vềmùa thu, gió nam lào vào mùa hè,… làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặcbiệt là cây lúa Bên cạnh đó, trình độ sản xuất của người nông dân thấp, sản xuất nôngnghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lâu năm là chính; quy mô sản xuất nhỏ, manhmún, chưa có điều kiện đầu tư thâm canh cao Nguồn giống lúa lai khó khăn; giá giốngtăng cao trong lúc nông dân vừa trải qua vụ Hè thu – mùa bị dịch bệnh “vàng lùn, lùnxoắn lá” gây hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nên gặp nhiều khó khăntrong đầu tư sản xuất Nguồn nước tưới khó khăn: thời tiết đầu vụ lượng mưa khôngđáng kể, lượng nước chứa trong các hồ chứa thấp…

Để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất lúa Hè thu 2010 của người dântrong xã, với sự giúp đỡ của hợp tác xã Diễn Thái, phòng nông nghiệp huyện và thầy

giáo hướng dẫn, tôi đã tiến hành đề tài: “So sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ Hè thu 2009 ở xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”.

sử dụng sản xuất phổ biến trong xã

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế của cácgiống lúa lai và cũng là để chuẩn bị cho sản xuất lúa Hè thu 2010 tại địa phương

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập số liệu

+ Số liệu thứ cấp: Tình hình sản xuất lúa trên thế giới, ở Việt Nam, Nghệ An,huyện Diễn Châu, và xã Diễn Thái

+ Số liệu sơ cấp: Thông qua điều tra ngẫu nhiên 70 hộ sản xuất lúa Quy ưu 1 vàNhị ưu 838 ở xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 3

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng các phương pháp thống kê để phântích, tổng hợp, so sánh giữa các giống.

- Phương pháp toán kinh tế: Sử dụng hàm Cobb – Doughlas để định lượng ảnhhưởng của các nhân tố đến hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra

- Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác như phương pháp chuyên gia,chuyên khảo… được sử dụng trong đề tài để phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế củasản xuất lúa, để từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm phát triển các giốnglúa nghiên cứu

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng và nội dung nghiên cứu: So sánh hiệu quả kinh tế của một số giốnglúa lai trong vụ Hè thu 2009

- Phạm vi nghiên cứu (số liệu sơ cấp): xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnhNghệ An

- Phạm vi giống nghiên cứu: Quy ưu 1 và Nhị ưu 838

- Phạm vi điều tra: Xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Thời gian nghiên cứu: Từ 24/01/2010 đến ngày 15/05/2010

5 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần Đặt vấn đề và phần Kết luận, nội dung chính của khoá luận được kếtcấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu

Chương 2: So sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai trên địa bàn xã DiễnThái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sảnxuất lúa lai trên địa bàn xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Vài nét về cây lúa

Cây lúa (Oryza sativa), thuộc họ hoà thảo (Gramiceae), có nguồn gốc thuộc

khu vực nhiệt đới là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới Trên thế giới,cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèonhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân, là nguồn cung cấp năng lượnglớn nhất cho con người

Ở Việt Nam, với dân số 85,8 triệu người và 100% người Việt Nam đều sử dụnglúa gạo là lương thực chính

Giống cây trồng là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là yếu tốquyết định hàng đầu về năng suất, chất lượng, và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nôngnghiệp Cơ sở của việc chọn giống là sự di truyền biến đổi của giống trong một môitrường nhất định, việc chọn giống có hiệu quả và giải quyết các mối quan hệ giữa cáctính trạng trong cơ thể với môi trường, đảm bảo năng suất ổn định và sức chống chịu khá

Bảng 1: Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với

(Nguồn: www.vaas org.vn)

Qua số liệu của bảng 1 cho thấy, trong lúa gạo có chứa tỷ lệ dinh dưỡng rất caođảm bảo cho sức khoẻ của con người, cung cấp đầy đủ lượng Kalo cung cấp cho cáchoạt động sống của con người Trong đó:

- Tinh bột: Hàm lượng tinh bột 62,4% Là nguồn chủ yếu cung cấp calo Giá trị

nhiệt lượng của lúa là 3594 calo

Trang 5

- Protêin: Các giống lúa Việt Nam có hàm lượng Protêin chủ yếu trong khoảng7- 8% Các giống lúa Nếp có hàm lượng prôtêin cao hơn lúa tẻ.

- Lipit: chủ yếu ở lớp vỏ gạo Nếu ở gạo xay là 2,02% thì ở gạo đã xát chỉ còn 0,52%

- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhất là vitamin nhóm B như B1,

B2,B6, PP lượng vitamin B1 là 0,45 mg/100 hạt (trong đó ở phôi 47%, vỏ cám34,5%, hạt gạo 3,8%) [14]

Từ các đặc điểm dinh dưỡng của gạo, đã từ lâu gạo được coi là nguồn thựcphẩm, dược phẩm có giá trị, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt độngsống của con người

1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở địa bàn nghiên cứu

Huyện Diễn Châu đang trên đà phát triển theo xu hướng giảm tỷ trọng ngànhnông nghiệp, tăng nhiều hơn tỷ trọng của các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ…

Xã Diễn Thái nằm trong sự chỉ đạo phát triển kinh tế của huyện Theo số liệu thống kêcho thấy, diện tích đất sản xuất lúa của xã Diễn Thái những năm gần đây có xu hướnggiảm do quá trình đô thị hoá và quá trình tăng dân số, năng suất và bình quân lươngthực đạt thấp hơn bình quân chung của huyện, tỉnh Hơn 86,3 % dân số của xã thamgia sản xuất nông nghiệp, do đó nông nghiệp vẫn là ưu tiên hàng đầu của xã Việc duytrì diện tích, nâng cao năng suất, sản lượng để đảm bảo nhu cầu lương thực cho nhândân xã nhà và đáp ứng thêm cho nhu cầu của thị trường là hết sức quan trọng

Hiện nay, bà con nông dân sản xuất ngày càng gặp nhiều khó khăn do tình hìnhthời tiết, dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp Trong khi đó, một số giống lúa đượcgieo trồng trong xã hiện đã cũ, năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém, khóđáp ứng được nhu cầu sản xuất lương thực hiện nay Bên cạnh đó, cũng có nhiều loạigiống mới được đưa vào sản xuất Như vậy, yêu cầu chọn được loại giống có năng suấtcao, sức chống chịu sâu bệnh và thời tiết tốt, có thời gian sinh trưởng và phát triểnngắn… đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại là điều thiết yếu

1.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

1.2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả làm ăn của mộtdoanh nghiệp hay của người nông dân Nó là một phạm trù kinh tế phản ánh chấtlượng của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp;

Trang 6

được xét trên nhiều khía cạnh: có thể xét trên phương diện tài chính hoặc trên phươngdiện kinh tế xã hội như thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, giảm thất nghiệp, cải thiệnmôi trường Trong nông nghiệp, khi đề cập đến hiệu quả kinh tế thì phải đề cập đếnhiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp như lao động, đất đai, vốn, giống,phân bón Vấn đề này đã được nhiều tác giả bàn đến như: David Colman, TrevorYoung (Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, năm 1994), Schultz (1964) tất cả đều phânbiệt rõ ba khái niệm về hiệu quả: hiệu quả kinh tế (economic efficiency), hiệu quả kỹthuật (technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency).

Hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trênmột đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụthể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụngphổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả nàythường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật liênquan đến phương diện vật chất của sản xuất Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùngvào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiềuvào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của ngườisản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng.Hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giásản phẩm và giá đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả

kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra Vì thế, nó cònđược gọi là hiệu quả giá (price efficiency) Việc xác định hiệu quả này giống như xácđịnh các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là, giá trịbiên của sản phẩm phải bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.Hiệu quả kinh tế (economic efficiency) là phạm trù kinh tế mà trong đó sảnxuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là, cả hai yếu tốhiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nôngnghiệp Nếu đạt được một trong yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới

là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nàoviệc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sảnxuất mới đạt được hiệu quả kinh tế

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Trang 7

* Các chỉ tiêu đầu vào của sản xuất lúa

- Lượng giống, phân bón: kg/sào

- Chi phí dịch vụ: 1000đ/sào

- Công lao động: công/sào

* Chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất lúa)

- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ do lao độngsản xuất tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm

Trong nông nghiệp, GO thường được tính là:

- Giá trị gia tăng (VA): là một trong các chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quảcuối cùng của hoạt động sản xuất Giá trị gia tăng là sự chênh lệch giữa giá trị sảnxuất và chi phí trung gian Đó là bộ phận giá trị mới do lao động sản xuất sáng tạo

ra và khấu hao TSCĐ

VA = GO – IC

* Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất lúa

- Tỷ suất VA/GO: cho biết trong một đồng giá trị sản xuất thu được có bao nhiêuđồng giá trị gia tăng

- Tỷ suất VA/IC: cho biết 1 đồng chi phí trung gian bỏ ra sẽ thu được bao nhiêuđồng giá trị gia tăng

- Tỷ suất VA/GO, VA/IC càng lớn thì hiệu quả sản xuất càng cao và ngược lại

Trang 8

1.2.3 Vai trò và ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế

Trong thực tế sản xuất nông nghiệp, các nguồn lực của sản xuất như đất đai, laođộng, vốn, công nghệ… ngày càng khan hiếm hơn, có xu hướng tỷ lệ nghịch so vớiviệc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhu cầu con người và sản xuất nông nghiệpdiễn ra trong nhiều điều kiện rủi ro bất thường là cho kết quả và hiệu quả sản xuấtthường không ổn định Vì thế, muốn giải quyết tình trạng khan hiếm về nguồn lực,đảm bảo một nền sản xuất ổn định, chúng ta cần phải bàn đến việc nâng cao hiệu quả

sử dụng các nguồn lực đó và quản lý các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Tuynhiên, khi đề cập đến hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp thì chúng ta phảitính đến hiệu quả kinh tế Một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạothành, vì vậy chỉ có tác động đúng đối tượng, sử dụng đúng biện pháp thì sản xuấtmới đi đúng hướng và đạt được hiệu quả cao

Việc nghiên cứu và phân tích phạm trù về hiệu quả kinh tế đã chứng tỏ rằng nângcao hiệu quả sử dụng các nguồn lực là một tất yếu trong nông nghiệp

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA

1.3.1 Điều kiện canh tác

a Nhiệt độ

Cây lúa xuất xứ từ vùng nhiệt đới, là loại cây ưa nóng, để hoàn thành chu kỳsống, cây lúa cần một lượng nhiệt nhất định; do đó, điều kiện khí hậu nóng ẩm là điềukiện thuận lợi cho cây lúa phát triển Trong điều kiện trồng lúa ở nước ta, thườngnhững giống ngắn ngày cần một lượng tổng tích ôn là 2.500 – 3.000ºC, giống trungngày từ 3.000 – 3.500ºC, giống dài ngày từ 3.500 – 4.500ºC

Cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng:

- Thời kỳ nảy mầm: Nhiệt độ ấm áp rất cần để tăng cường các hoạt động ở bêntrong hạt giống và do đó đẩy mạnh sự phát triển của phôi Điều kiện để hạt thóc nảymầm tốt nhất là ở nhiệt độ xung quanh 30 - 35ºC

- Thời kỳ mạ: nhiệt độ thích hợp cho mạ phát triển là 25 – 30ºC

- Thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng: nhiệt độ thích hợp nhất là 25 - 32ºC

- Thời kỳ trỗ bông, làm hạt: đây là thời kỳ cây lúa mẫn cảm nhất với điều kiệnngoại cảnh, nhất là nhiệt độ Thời kỳ này yêu cầu nhiệt độ tốt nhất từ 28 - 30ºC Khigặp rét hoặc nhiệt độ quá cao hạt phấn mất sức nảy mầm, không thụ phấn thụ tinhđược làm tỉ lệ lép cao

Trang 9

b Ánh sáng

Ánh sáng mặt trời được diệp lục của cây hấp thụ và tổng hợp thành đường bột(monosaccharid) nhờ CO2 ở trong không khí và nước hút từ rễ lên Đường bột tiếptục kết hợp với những chất khoáng, sinh ra các dạng hữu cơ khác, tích luỹ nănglượng cung cấp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, và cũng từ đó cungcấp thức ăn cho thực vật

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới nên nó là cây ưa sáng và mẫn cảm với quang chu

kỳ (độ dài ngày) Giống như đại đa số các cây trồng khác, cường độ ánh sáng ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động quang hợp và tạo năng suất lúa Ðặc biệt với một sốgiống lúa địa phương trung và dài ngày, chu kỳ chiếu sáng có tác động đến quá trìnhlàm đòng, ra hoa

Về cường độ ánh sáng, do bức xạ mặt trời chiếu xuống mặt đất thì ánh sáng mà

ta nhìn thấy được là loại ánh sáng có tác dụng cho quá trình quang hợp của cây lúa.Trong ngày, cường độ ánh sáng đạt cực đại vào khoảng 11 - 13 giờ trưa, còn ở thờiđiểm 8 - 9 giờ sáng và 15 - 16 giờ chiều thì cường độ ánh sáng chỉ bẳng ½ thời điểmcực đại trong ngày

Về thời gian chiếu sáng (độ dài ngày): thời gian chiếu sáng và bóng tối trong mộtngày đêm (gọi là quang chu kỳ) có tác dụng rõ rệt đến quá trình phân hóa đòng và trỗbông Cây lúa thuộc nhóm cây ngày ngắn, chỉ đòi hỏi thời gian chiếu sáng dưới 13giờ/ngày Với thời gian chiếu sáng từ 9 - 10 giờ/ngày có tác dụng rõ rệt đối với việc xúctiến quá trình làm đòng, trỗ bông của cây lúa Tuy nhiên mức độ phản ứng với quang chu

kỳ còn phụ thuộc vào giống và vùng trồng

Nhu cầu về nước qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lúa cũng khác nhau:

Trang 10

- Thời kỳ nảy mầm: hạt lúa khi bảo quản thường phải giữ độ ẩm 13%, khi ngâm

ủ hạt thóc hút nước đạt 22% thì có thể hoạt động và nảy mầm tốt khi độ ẩm đạt 25 28% Những giống lúa cạn lại được gieo khô khi đất đủ ẩm hoặc trời mưa có nước mớinảy mầm và mọc được

Thời kỳ mạ: từ sau gieo đến mạ mũi chông thì chỉ cần giữ ruộng đủ ẩm cho rễ lúađược cung cấp nhiều oxy để phát triển và nội nhũ cũng phân giải thuận lợi hơn Khi cây

mạ được 3 - 4 lá thì có thể giữ ẩm hoặc để một lớp nước nông cho đến khi nhổ cấy

- Thời kỳ ruộng cấy: từ sau cấy đến khi lúa chín là thời kỳ cây lúa rất cần nước.Nếu ruộng khô hạn thì các quá trình sinh trưởng gặp trở ngại rõ rệt Ngược lại nếumức nước trong ruộng quá cao, ngập úng cũng không có lợi: cây lúa đẻ nhánh khó, câyvươn dài, yếu ớt, dễ bị đổ và sâu bệnh Người ta còn dùng nước để điều tiết sự đẻnhánh hữu hiệu của ruộng lúa

d Đất

Trong nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lương thực nói riêng, đất đai vừa

là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Đất đai là đối tượng lao động khi conngười sử dụng công cụ lao động tác động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng: nhưcày, bừa, đập đất, lên luống… làm tăng chất lượng của đất, tạo điều kiện thuận lợi đểtăng năng suất cây trồng Đất đai là tư liệu lao động, khi con người sử dụng công cụlao động tác động lên đất thông qua các thuộc tính lý, hóa, sinh vật học và các thuộctính khác của đất để tác động lên cây trồng Sự kết hợp của đối tượng lao động và tưliệu lao động đã làm cho đất trở thành tư liệu sản xuất trong nông nghiệp Khôngnhững thế, đất đai còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được

Độ phì nhiêu là thuộc tính quan trọng nhất, là dấu hiệu chất lượng của cây trồngđến hiệu quả sử dụng lao động sống và lao động quá khứ được sử dụng

Cây lúa có thể được trồng ở các loại đất như đất ngập mặn, đất phù sa, đất khôhạn theo cách thức ruộng bậc thang, nhưng để đem lại một năng suất cao và ổn địnhthì nên gieo cấy ở những vùng đất phì nhiêu, màu mỡ, có lượng nước thích hợp chocây lúa trong từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển

e Thời tiết khí hậu

Thời tiết khí hậu luôn là những tác nhân ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quá trình sảnxuất nông nghiệp cũng như đối với cây lúa Nó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng

Trang 11

và phát triển của cây lúa, ảnh hưởng thời vụ sản xuất Nếu thời tiết, khí hậu “mưathuận gió hoà” thì cây lúa sẽ cho một năng suất khá cao Ngược lai nếu thời tiết bất lợimưa bão, sương muối, lũ lụt… sẽ làm cho cây lúa không thể phát triển bình thường,làm giảm rất nhiều năng suất Chính vì vậy, trong sản xuất nông nghiệp, luôn đặt yếu

tố thời tiết, khí hậu lên hàng đầu và không ngừng hoàn thiện công tác dự báo thời tiết

1.3.2 Kỹ thuật canh tác

a Giống

Ông cha ta ngày xưa có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Giống

cây trồng là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là yếu tốquyết định hàng đầu năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nôngnghiệp Cơ sở của việc chọn giống là sự di truyền biến đổi của giống trong một môitrường nhất định, việc chọn giống có hiệu quả và giải quyết các mối quan hệ giữa cáctính trạng trong cơ thể với môi trường, đảm bảo năng suất ổn định và sức chống chịukhá Mỗi loại giống có những đặc tính sinh học khác nhau, có loại thích hợp cho vụĐông xuân, có loại lại phát triển mạnh ở vụ Hè thu Một giống lúa khi đưa vào sản xuấtcần đạt được một số chỉ tiêu quan trọng như: năng suất phù hợp với tập quán canh tác,điều kiện thâm canh của từng vùng Đồng thời, giống cần phải đáp ứng được khả năngchống chịu với những điều kiện thời tiết khí hậu, sâu bệnh Với những thành tựu ngàycàng cao trong công tác lai tạo và chọn giống mới cho năng suất cao, thời gian thuhoạch sớm đã tạo rất nhiều thuận lợi cho người nông dân Hiện nay, có rất nhiều loạigiống lúa có năng suất cao như: Khải phong số 7, Khải phong số 1, Nhị ưu 838, Nhị ưu

986, Khang dân 18, Quy ưu 1, Quy ưu 6… mỗi loại giống phù hợp với một chân ruộng,mùa vụ khác nhau và đem lại những năng suất cũng khác nhau

b Phân bón và cách bón phân

Phân bón cho lúa chứa những chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cây lúaphát triển, các loại dinh dưỡng này cần phải thường xuyên bổ sung cho cây lúa Trongđất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh dưỡng từ đấtthường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao nhất về năngsuất, chất lượng khi thu hoạch

Trang 12

- Vai trò của đạm (N): đạm có nhiều trong các hợp chất Protein, trong diệp lục tố.Đạm có tác dụng quyết định năng suất và phẩm chất của các loại cây trồng, nó quyếtđịnh tốc độ sinh trưởng, số lá, diện tích lá, chiều cao cây, số nhánh… thiếu đạm cây sẽcòi cọc, lá vàng, độ dài lóng ngắn, số nhánh ít Thừa đạm thường có hiện tượng cây to,non, mềm (lốp).

- Vai trò của lân (P): là thành phần cấu tạo tế bào, lân giữ vai trò quan trọng trongviệc cung cấp năng lượng, có tác dụng sinh lý đối với nhiều hoạt động của cây như quanghợp, hô hấp, trao đổi và hình thành các chất trong cây, đặc biệt là quá trình tổng hợp, vậnchuyển hydrat cacbon Đầy đủ lân cây ra rễ mạnh, đẻ khỏe, lá dày, hạt chắc, sáng vỏ

- Vai trò của Kali (K): kali không phải là thành phần cấu tạo nên tế bào nhưngkali tăng cường quá trình quang hợp, điều hòa sự hút dinh dưỡng, thúc đẩy quátrình hình thành tinh bột, xenlulo; kali tham gia quá trình hoạt hóa các men [4]Người ta bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa bằng cách bón các loại phân bón vàođất hoặc phun lên lá các loại phân bón khác nhau, vào các giai đoạn khác nhau để đạtđược kết quả sản xuất cao nhất Đối với cây lúa người ta thường áp dụng chủ yếu biệnpháp bón phân vào đất vì nguồn dinh dưỡng chủ yếu và cần thiết cho cây lúa thườngtồn tại trong các loại phân bón vào đất

Nếu tất cả các yếu tố sinh thái có liên quan đến sinh trưởng phát triển của cây lúanhư: ánh sáng, độ ẩm, nước, nhiệt độ… đã được đáp ứng đầy đủ mà lượng phân bón cungcấp cho cây lúa thừa, thiếu hoặc không cân đối, không đúng với nhu cầu dinh dưỡng củatừng thời kỳ phát triển thì cây lúa cũng không thể có được một hiệu suất cao nhất

c Gieo, cấy

Làm mạ là để mục đích phục vụ cho việc cấy Tập quán cấy lúa tồn tại qua rấtnhiều năm, nhiều thế kỷ và đến nay vẫn tiếp tục ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh BắcTrung bộ, “trỉa lúa” ở vùng lúa cạn chờ nước trời tại một số vùng thuộc các tỉnh miềnnúi phía Bắc và Tây Nguyên Còn tập quán sạ lúa phổ biến tại các tỉnh phía Nam từNam Trung bộ trở vào

* Sạ:

Trước khi sạ, người ta thường ngâm giống qua một thời gian sau đó tiến hànhlàm đất và bừa đất Xong, người ta gieo thẳng hạt giống xuống đất Có thể gieo trênđất đã cày bừa hoặc gieo trên ngay trên đất nổi Mỗi 1 sào người ta thường sử dụng từ

Trang 13

5 – 7 kg giống tuỳ theo từng thời vụ Nếu gieo giống với mật độ quá dày, hoặc quáthưa sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sống sót của cây lúa, làm giảm năng suất.

Đây là cách áp dụng phổ biến cho những chân ruộng sâu hay bị ngập nước Đốivới cách cấy, nếu được chăm sóc đúng kĩ thuật, cây lúa sẽ sinh trưởng rất mạnh, và vì

có những khoảng cách nhất định trên mỗi khóm lúa nên khi trổ, bông lúa thường rấtdài và hạt chắc cho năng suất cao

Nhìn chung, gieo sạ hay cấy lúa còn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng vùng vàtừng chân ruộng

Bảng 2: Thời vụ gieo, cấy của khu vực phía Bắc

Trang 14

Mùa chính vụ 5 – 20/6 5 – 30/7

Mùa chân trũng Cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 Cuối tháng 6 đến đầu tháng 7

(Nguồn: Bài giảng Nguyên lý kỹ thuật trồng trọt, tr.25)

Các tỉnh phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra, do đặc điểm gió mùa Đông Bắc từ tháng

11 đến tháng 4 của năm sau, vụ Đông Xuân phải gieo cấy để khi lúa trổ từ tiếtThanh Minh đến Cốc Vũ là thời tiết nắng ấm, thuận lợi Tuy thời kỳ cây non nhất làlàm mạ gặp khó khăn do rét đậm nhưng khi trổ lúa gặp trời quang mây, nhiệt độcao dần Còn vụ Mùa, nhờ hệ thống đê điều có thể bảo vệ lúa thời kỳ sắp trổ vàotháng 8 – 9 không bị ngập lụt [4]

1.3.3 Các loại sâu, dịch bệnh, chuột hại

Sâu bọ, dịch bệnh, chuột hại… là những nhân tố tàn phá và làm giảm đi rất nhiềunăng suất, sản lượng lúa hàng năm của nước ta, đặt ra yêu cầu là phải có những giảipháp triệt tiêu sâu bệnh một cách hiệu quả và triệt để Một số loại sâu bệnh chủ yếu củalúa như: rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá, bọ xít, bọ trĩ, bệnh “lùn, lụi”, xoắn lá…Ngoài ra, còn có một điều đáng lo ngại là chuột hại lúa Sự bùng phát của những loại sâubệnh trên dẫn đến những đợt dịch bệnh lan rộng rất khó dập hoặc dập không triệt để

1.3.4 Các yếu tố kinh tế - xã hội

a Tập quán canh tác

Người nông dân Việt Nam canh tác chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm đúc rútđược trải qua bao đời làm nông nghiệp Do vậy, để thay đổi phương thức sản xuất củamình, người nông dân cần phải có thời gian và lượng kiến thức đủ để họ nhận thức sựcần thiết phải thay đổi cho phù hợp với các loại hình sản xuất cũng như phù hợp với yêucầu của sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Nhưng trênthực tế, đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, luôn luônphải cập nhật và áp dụng các phương thức sản xuất mới, hiện đại hơn để tăng năng suất,

để thoát khỏi lạc hậu, để bắt kịp với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ

b Chính sách

Chính sách, thể chế của Nhà nước, của chính quyền địa phương cũng có tầm ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển của các ngành sản xuất lúa gạo

Trang 15

Một chính sách nới lỏng, thông thoáng, linh hoạt trong tín dụng, khuyến nông,thuỷ lợi, tiếp cận khoa học kỹ thuật… sẽ giúp người nông dân mạnh dạn đầu tư sảnxuất, mở rộng quy mô diện tích.

Ngược lại, một chính sách quá chặt chẽ, ràng buộc, thụ động sẽ cản trở bướcđầu tư của người dân

c Vốn

Bất cứ hoạt động nông nghiệp nào cũng cần vốn Theo nghĩa chung, vốn là giá trịcủa toàn bộ đầu vào, bao gồm: những tài sản, vật phẩm, tiền dùng trong sản xuất kinhdoanh Ruộng đất cũng có thể được coi như một loại vốn Do tính chất đặc biệt của vốnnày mà đất đai được xem xét như một nguồn lực riêng biệt

Vốn trong nông nghiệp có vai trò quan trọng trong sản xuất và kinh doanh Nó làyếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Vốn là điều kiện để chongười nông dân thực hiện tốt các khâu mua và sử dụng các yếu tố đầu vào cho sảnxuất như mua phân bón, mua giống, bán sản phẩm… Quy mô và chất lượng của vốn làđiều kiện tiên quyết cho người sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất của mình, khai tháctốt các nguồn lực sản xuất khác

d Thị trường tiêu thụ và giá cả

Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ, giá cả của nông sản ảnh hưởng rất nhiều đến tâm

lý của người sản xuất lúa gạo Khi thị trường lúa gạo ổn định, giá cả được giữ vững ởmức cao sẽ kích thích người dân gia tăng sản xuất, đầu tư thâm canh có hiệu quả Khi thịtrường mất ổn định, giá lúa gạo liên tục biến động sẽ tạo ra tâm lý hoang mang chongười dân, cản trở việc sản xuất, gây ảnh hưởng tới đời sống người dân và năng suất,sản lượng chung của ngành và của cả nước

1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.4.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, nhất là một quốc gia có nền nông nghiệp là chủyếu thì cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng luôn được quan tâm hàng đầu

Trang 16

Bởi vì nó không những đảm bảo an toàn cho chính nước đó mà còn đảm bảo lươngthực cho khu vực và cả cộng đồng.

Theo thống kê của FAO năm 2006:

- Có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các Châu lục trên thế giới Trong đó,Châu Phi có 41 nước trồng lúa, Châu Á có 30 nước, Bắc Trung Mỹ - 14 nước, Nam Mỹ -

13 nước, Châu Âu - 11 nước và Châu Đại Dương - 5 nước

- Diện tích lúa biến động và đạt khoảng 152.000 triệu ha, năng suất lúa bìnhquân xấp xỉ 4,0 tấn/ha

- Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất 44.790 triệu ha, ngược lạiJamaica là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 24 ha

- Năng suất lúa cao nhất đạt 9,45 tấn/ha tại Australia và thấp nhất là 0,9 tấn/hatại IRAQ

Cây lúa được trồng ở nhiều địa phương và nhiều vùng khí hậu khác nhau Người

ta cho rằng cây lúa bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á Hiện nay cây lúa đã được gieotrồng trên một địa bàn khá rộng từ 530 Bắc đến 300 Nam

Bảng 3 : Diện tích, năng suất, sản lượng của các châu lục năm 2006

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2006)

Theo số liệu thống kê của FAO tại bảng 3 cho thấy, sản xuất lúa tập trung hầuhết ở châu Á, diện tích lúa Châu Á chiếm 88,44% diện tích lúa của thế giới Ngoàichâu Á, sản lượng lúa của các châu lục còn lại chỉ chiếm dưới 8% Ở châu Mỹ khuvực sản xuất lúa gạo lớn thứ hai và chiếm 7,04% tổng sản lượng lúa gạo toàn cầu,

Trang 17

nhưng tập trung phần lớn ở vùng Mỹ Latinh Sản xuất lúa gạo khu vực châu Phiđứng thứ ba trên thế giới, chiếm 3,37% và tập trung chủ yếu ở vùng hạ sa mạcXahara Sau cùng là Châu Úc sản lượng lúa gạo không đáng kể chỉ chiếm 0,19%tổng sản lượng toàn cầu.

Qua bảng số liệu 3, ta đã thấy được cơ cấu diện tích, năng suất, diện tích củacác châu lục Tuy nhiên, bảng số liệu 4 sẽ cho ta thấy được sự biến động của sảnxuất lúa thế giới từ năm 2002 – 2006

Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới từ năm 2002 - 2006

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2006)

Về diện tích lúa 2002 – 2006: Nhìn chung diện tích có tăng nhưng không đáng kể;

do xu hướng công nghiệp hoá nên việc mở rộng diện tích gặp nhiều khó khăn Một mặt,

do đất trồng trọt dùng để mở rộng xây dựng công nghiệp, nhu cầu đất ở ngày càng tăng

do dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến quy mô mở rộng diện tích trồng lúa Theo nghiêncứu của FAO, trong 15 – 20 năm tới diện tích canh tác ở Nam Á sẽ giảm dần từ mức0,051 ha/người còn 0,029 ha/người

Về năng suất, nhìn chung vẫn tăng dần theo các năm Năm 2002, năng suất 38,5tạ/ha, đến năm 2006 năng suất tăng lên 41,1 tạ/ha; tăng 2,6 tạ/ha Qua đó cho thấy,năng suất tăng do quá trình thâm canh của các nước cải thiện, KHKT phát triển nênviệc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất được mở rộng Về sản lượng cũngtăng, từ năm 2002 – 2005 tăng 65,6 triệu tấn, tương ứng 11,5%

Trong một vài thập kỷ vừa qua, sản xuất lúa gạo của thế giới đã có nhiều tiến

bộ đáng kể như diện tích và năng suất tăng lên nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năngcho năng suất và sản lượng của nó Chính vì vậy việc ứng dụng những tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào sản xuất như: sử dụng những giống mới, bón phân hợp lý, phòng trừsâu bệnh kịp thời, hệ thống thuỷ lợi cũng như áp dụng máy móc, công nghệ sau thu

Trang 18

Diện tích lúa cả nước từ 1990-2009

Sản lượng lúa cả nước từ 1990-2009

0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000 18000 20000

hoạch vào sản xuất để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao của thế giới trướcsức ép về gia tăng dân số là vấn đề cần thiết

1.4.2 Tình hình sản xuất lúa trong nước

Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ởcác nước châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3.000 - 2.000 năm trước công nguyên Tổ tiên chúng ta đãthuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt đượcnhững tiến bộ như ngày nay [14] Có thể coi Việt Nam là cái nôi của sự phát triểncây lúa nước, và trên thực tế Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thếgiới Do vậy, tình hình sản xuất lúa gạo đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập và đờisống của hàng chục triệu người dân cũng như ảnh hưởng tới an ninh lương thực, xuấtkhẩu, sự ổn định chính trị xã hội trong nước

Hiện nay, diện tích trồng lúa cả nước từ 7,3 dến 7,5 triệu ha, năng suất trung bình

46 ha, sản lượng dao động trong khoảng 34,5 triệu tấn/năm, xuất khẩu chưa ổn định từ2,5 triệu đến 4 triệu tấn/năm Trong giai đoạn tới sẽ duy trì ở mức 7,0 triệu ha, phấnđấu năng suất trung bình 50 tạ/ha, sản lượng lương thực 35 triệu tấn và xuất khẩu ởmức 3,5- 4 triệu tấn gạo chất lượng cao

Biểu đồ 1: Diện tích, sản lượng lúa cả nước qua các năm 1990-2009

Nhìn vào bảng 5 cho thấy, diện tích sản xuất lúa của nước ta có chiều hướnggiảm dần từ năm 2000 đến năm 2007 Năm 2000, diện tích gieo trồng lúa cả năm7666,3 nghìn ha; nhưng đến năm 2007, diện tích gieo trồng lúa chỉ còn 7207,4nghìn ha, chỉ trong vòng 7 năm diện tích sản xuất lúa cả nước giảm 458,9 nghìn

ha, chiếm 6,4% tổng diện tích năm 2007 Năm 2008, diện tích gieo trồng lúa có

xu hướng tăng lên Tổng diện tích gieo trồng cả nước là 7414,3 nghìn ha, tăng

Trang 19

206,9 nghìn ha, tương ứng với 2,87% so với cùng kỳ năm trước Năm 2009, diệntích gieo trồng lúa cũng tăng lên 7440,1 nghìn ha.

Sản lượng qua các năm có chiều hướng tăng lên Năm 2000, sản lượng lúa mới chỉđạt 32529,5 nghìn tấn; nhưng đến năm 2009, sản lượng cả nước đã đạt 38895,5 nghìntấn, tăng lên 6,366 nghìn tấn, chiếm 19,57% tổng sản lượng lúa nước ta năm 2000

Trang 20

Bảng 5: Diện tích và sản lượng lúa của cả nước từ năm 1990 – 2009 (Nguồn: www.gso.gov.vn) Chỉ tiêu

Trang 21

Tuy nhiên, các số liệu ở trên mới chỉ biết được diện tích, năng suất, sản lượng lúacủa cả nước nhưng chưa thấy được tình hình của các vùng khác nhau Ở mỗi vùng khácnhau trong nước thì tình hình sản xuất lúa khác nhau Qua bảng số liệu sau cho ta thấyđược tình hình sản xuất lúa của các vùng trong nước.

Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa phân theo vùng năm 2008

Chỉ tiêu Các vùng

Diện tích (Nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Nghìn tấn)

Bắc Trung Bộ và Duyên Hải

du và miền núi phía Bắc

Năng suất lúa giữa các vùng cũng có sự khác nhau Năm 2008, vùng có năngsuất thấp nhất đạt 42,5 tạ/ha (Đông Nam Bộ), vùng có năng suất cao nhất là 58,8 tạ/ha(Đồng Bằng Sông Hồng) và qua các năm năng suất lúa của các vùng thay đổi ngàycàng tăng lên, năm 2003 Đông Nam Bộ năng suất đạt 32,5 tạ/ha đến năm 2008 đạt42,5 tạ/ha tăng được 10 tạ/ha

Trang 22

1.181.262 ha, chiếm 97,70% diện tích cây lương thực, diện tích cây lương thực khác204.512 ha chiếm 2,3%.

Từ 1999 đến nay, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà đã có bướcchuyển dịch tích cực về chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ, đưa các giống mới cónăng suất, chất lượng tốt, có sức chống chịu vào sản xuất, ứng dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật, đầu tư thâm canh tăng vụ

Để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và các mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa 24 đề ra BCH tỉnh ủy đã có nghị quyết

01 về cuộc vận động chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp tạo điều kiện đưa cơ giới vàophục vụ sản xuất, gắn việc chuyển đổi với quy hoạch đồng ruộng, dồn điền đổi thửa,quy hoạch giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, cải tạo ruộng đất, xây dựng lạivùng chuyên canh, cánh đồng màu, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, nhằm pháttriển mô hình sản xuất nông nghiệp đa dạng, khuyến khích người nông dân mạnh dạnđầu tư thâm canh ổn định trên diện tích được giao khoán

Vì vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 8,54% Riêng đầu năm

2007 đạt 9%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,8 triệu/năm (năm 2005) lên 3,8triệu/năm (năm 2007) Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm5,1% Sản lượng lương thực tăng từ 60,24 vạn tấn năm 2005 lên 77,7 vạn tấn năm 2007.Diện tích, năng suất, sản lượng qua các năm 2005 - 2007 của tỉnh Nghệ An

có sự biến động Cụ thể, năm 2006 tăng 103,29% so với năm 2005; năm 2007giảm 92,97% so với năm 2006; năm 2008 tăng 110,04% so với năm trước

Bảng 7: Tổng hợp giá trị sản xuất nông nghiệp và sản lượng lương thực có hạt của

(Nguồn: Niên giám thống kê xuất bản năm 2009 tỉnh Nghệ An)

Các xã cũng đã chủ động chú trọng công tác mở rộng diện tích và đầu tư thâmcanh, tăng vụ, cải tạo giống có năng suất cao phù hợp với điều kiện địa phương, đưa

Trang 23

cơ giới hóa nông nghiệp vào trong sản xuất, đầu tư vào các công trình thủy lợi nhằmđáp ứng kịp thời các diễn biến phức tạp của thời tiết.

1.4.4 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn huyện Diễn Châu

Trước những thuận lợi mà huyện có được, có thể nói, hiện nay huyện DiễnChâu đang ra sức đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá Nhiều khu dân cư mới, trung tâmthương mại, khách sạn… mọc lên, nhiều diện tích đất nông nghiệp ở các xã nằmtrong khu vực kinh tế Đông Nam và các khu công nghiệp của huyện đang nhườngchỗ cho những nhà máy, xí nghiệp, những con đường… theo quy hoạch phát triển

đa ngành, đa chức năng, trở thành địa bàn phát triển có tính đột phá quan trọng củahuyện; một trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại lớn

Tuy nhiên, nông nghiệp trên địa bàn vẫn đóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt

là cây lúa Nó góp phần nuôi sống con người, duy trì cuộc sống, nâng cao thu nhập,phát triển kinh tế hộ và tạo nên sự cân bằng trong cơ cấu kinh tế Ngành nông nghiệphuyện tuy không phải là ngành tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế, nhưng là một địaphương có trên 67% dân số sống ở nông thôn, trong đó cơ cấu kinh tế chiếm gần 44%nên kinh tế nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của người dân ở huyện Cơ cấunội bộ ngành nông nghiệp trong nhiều năm qua đã có sự thay đổi rõ rệt, giảm dần tỷtrọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản

Tuy bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh tác động xấu đến cây trồng làm ảnhhưởng đến năng suất lúa nói riêng và các loại cây trồng nói chung nhưng nông nghiệpDiễn Châu vẫn duy trì được kết quả đáng ghi nhận Bình quân giai đoạn 2005-2010tăng trưởng 4,4%; giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng cao, cơ cấu kinh tế nộingành và cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực.Giá trị sản xuất cả năm 2009 (GCĐ năm 1994) là 728,2 tỷ, đạt 88% so với kế hoạch.Trong đó, cây lúa đóng góp một phần rất lớn trong cơ cấu cây trồng của huyện

Vụ xuân được mùa, vụ đông và vụ hè thu mất mùa do bão lụt và dịch bệnh Năngsuất lúa cả năm đạt 58,29 tạ/ ha, giảm 2,16 tạ/ha so với năm 2008 (60.45 tạ/ha) Trong

đó, vụ xuân đạt 64,04 tạ/ha, tăng 0,97 tạ/ha so với vụ xuân 2008; vụ hè thu đạt 52,57tạ/ha, giảm 5,38 tạ/ha so với vụ Hè thu năm 2008

- Về diện tích

Trang 24

Có sự tăng dần qua các năm: Năm 2005, diện tích gieo trồng từ 16978,40 hađến năm 2006 là 17434,20 ha, tăng 455,80 ha, tăng tương ứng 2,68% Đến năm

2007, diện tích gieo trồng đã giảm 357,10 ha, cả ở vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu(năm 2007: 17077,10 ha) Điều này là do tốc độ đô thị hoá của huyện diễn ra mạnh

mẽ, một số đất nông nghiệp được chuyển qua xây dựng cơ bản

Tuy nhiên, những năm 2008-2009, diện tích gieo trồng lúa lại tăng lên đáng kể.Năm 2008, diện tích gieo trồng là 17646,80 ha, tăng 569,70 ha, tương ứng 3,34% sovới năm 2007 Năm 2009, diện tích gieo trồng là 18105,09 ha, tăng 458,29 ha, tươngứng 2,6% so với năm 2008 Có sự tăng lên về diện tích này là do một lượng khá lớndiện tích gieo trồng lạc ở một số xã được chuyển đổi qua trồng lúa vì lạc mất mùa và

để cải tạo lại đất

Bảng 8: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện từ năm 2005 - 2009

Trang 25

- Về năng suất:

Qua bảng số liệu cho thấy, năng suất qua các năm có sự biến động khá rõ Năm

2005, năng suất vụ Đông Xuân tương đối cao (64 tạ/ha), song năng suất vụ Hè Thu lạirất thấp (43,36 tạ/ha) do thời tiết không thuận lợi, làm cho năng suất lúa cả năm chỉ đạt53,58 tạ/ha Năm 2006, năng suất có tăng lên đáng kể (năng suất lúa cả năm năm 2006

là 59,03 tạ/ha, tăng tương ứng 10,2% so với năm trước) Năm 2007, năng suất đạt56,18 tạ/ha Mặc dù phải chịu một trận rét đậm, rét hại trong lịch sử kéo dài từ tháng1/2008 đến tháng 3/2008, nhưng vụ Đông Xuân năm 2008 vẫn khá được mùa, năngsuất vụ Đông Xuân năm 2008 đạt 63,07 tạ/ha Năng suất lúa cả năm đạt 60,45 tạ/ha

Vụ Đông Xuân 2009, nhờ thời tiết khá thuận lợị, đồng thời nhờ đã tháo gỡ được nhữngkhó khăn về thủy lợi, giống, máy móc mà năng suất lúa đã đạt khá cao 64,04 tạ/ha.Tuy nhiên, dịch bệnh rầy nâu bùng phát gây ra bệnh vàng lùn, xoắn lá… làm cho mộtdiện tích lúa Hè Thu chiếm 7,2% diện tích gieo trồng dường như là mất trắng và bịthiệt hại nặng Điều này là nguyên nhân làm cho năng suất lúa Hè thu 2009 giảm chỉcòn 52,57 tạ/ha, giảm 5,38 tạ/ha

Nhìn chung, hiện nay huyện đang cố gắng chuyển dịch cơ cấu ngành: giảm tỷtrọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi Tuy nhiên, diện tích gieotrồng lúa ước tính năm 2010 sẽ vẫn không thay đổi Dự án "Cánh đồng 50 triệu" đãbước đầu thu hoạch được những thành công tốt đẹp

Trang 26

CHƯƠNG 2.

HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA Ở XÃ DIỄN THÁI,

HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm ở toạ độ18,11– 19,51 độ vĩ Bắc, 105,39 – 105,45 độ kinh Đông Địa bàn huyện trải dài theohướng Bắc – Nam Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Nam giáp huyện Nghi Lộc,phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Yên Thành, phía Đông giáp biển Đông Diện tích tựnhiên là 304,924 km2 và có 39 đơn vị hành chính (38 xã và 1 thị trấn) với dân số năm

2008 khoảng 296.100 người

Diễn Châu có Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt chạy dọc Bắc Nam, là điểm khởiđầu của quốc lộ 7 nối với các huyện miền Tây và nước CHDCND Lào, Quốc lộ 48 lêncác huyện vùng Tây Bắc của tỉnh, có tỉnh lộ 538 nối liền với huyện Yên Thành, cáctuyến giao thông nội huyện và liên huyện rất thuận tiện

Diễn Thái là một xã đồng bằng chiêm trũng nằm ở phía Tây Bắc của huyện, vớiđịa hình khá thuận lợi thích hợp cho trồng lúa nước, có tỉnh lộ 538 nối liền với huyệnYên Thành chạy qua thuận lợi cho giao thông liên lạc và trao đổi hàng hoá

Nhìn chung, đất đai Diễn Thái đa số là đất chiêm trũng bạc màu, hay bị ngậpúng, hạn hán nhưng nhân dân Diễn Thái giàu kinh nghiệm trong sản xuất và thâm canhnên nông nghiệp xã vẫn là một trong những xã phát triển của huyện Diễn Châu

2.1.1.2 Thuỷ văn, sông ngòi

Mạng lưới sông ngòi xã Diễn Thái gồm có tuyến kênh Vách Bắc, kênh VáchNam, Trong đó, quan trọng nhất là 2 con sông Đào và sông Giang cung cấp nước sinhhoạt và tưới tiêu cho cả xã

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

* Chế độ nhiệt:

Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu khu vực duyên hải miền trung, khí hậu xãDiễn Thái hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh phù hợp với hai thời kỳxâm nhập của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam:

Trang 27

- Mùa nóng: mùa này tiết trời nóng nực, nhiệt độ trung bình là 30ºC có khi lên tới40ºC Mỗi năm bão đổ bộ lên đất liền vào khu vực Diễn Châu ít nhất cũng từ 1 đến 2lần, năm nhiều nhất là 4 đến 6 lần trong số hơn 10 cơn bão xuất hiện tại biển Đông.

- Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 3 dương lịch Mùa lạnh thường có gió mùaĐông Bắc, gió mùa này thường gây ra mưa phùn, lượng mưa không đáng kể, lượngmưa bình quân 1.600 – 1.800 mm/năm nhưng phân bố không đều

* Chế độ gió, bão:

- Hứng chịu tác động của 2 hướng gió mùa chủ đạo: gió mùa Đông Bắc và Tây Nam

- Là địa bàn thường chịu tác động đáng kể của bão (bình quân mỗi năm có 1đến 8 cơn bão đổ bộ vào đất liền ở Nghệ An) Bão thường kèm theo triều cường vàmưa lớn gây ngập úng, làm nhiễm mặn vùng diện tích ven các cửa sông

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

* Nước: Mạng lưới sông ngòi khá dày với sông Đào, sông Giang, kênh VáchBắc, kênh Vách Nam

Đánh giá chất lượng nước:

- Hiện nay, nhiều hộ gia đình trong xã vẫn đang sử dụng nguồn nước ngầm mạchnông ở độ sâu 5 – 12 m để phục vụ cho sinh hoạt, lưu lượng nước 0,7 – 1,8 lít/s Quacông tác khoan thăm dò khảo sát sơ bộ của phòng Địa chất huyện cho thấy lượng nướcngầm tương đối dồi dào Chất lượng nước ngầm còn khá tốt; mức nhiễm mặn, phèn,chất hữu cơ và vi trùng nhẹ, chỉ còn có hàm lượng sắt không cao

- Môi trường nước của xã chịu tác động của nhiều hoạt động: nước thải sinh hoạt,nuôi trồng thuỷ sản, nước rửa trôi từ đồng ruộng Hiện nay, môi trường nước có dấuhiệu ô nhiễm cục bộ, thường bị rò rỉ nước

- Hiện nay, xã đã đưa nước máy vào phục vụ cho sinh hoạt của người dân thaythế cho nguồn nước sinh hoạt đã bị ô nhiễm không thể sử dụng được

* Đất:

Theo số liệu thống kê năm 2009, diện tích tự nhiên của huyện có 30.504,66 ha,trong đó diện tích đất của xã Diễn Thái là 602,12 ha, được sử dụng như sau:

- Đất nông nghiệp: 399,42 ha, chiếm 6,34% diện tích tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp: 197,03 ha, chiếm 32,72% diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng: 5,67 ha, chiếm 0,94% diện tích tự nhiên.

Trang 28

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số - lao động

* Qui mô, tốc độ phát triển và mật độ dân số xã DT

Năm 2008 dân số của huyện là 296.100 người (tăng 1,01% so với năm 2006),chủ yếu là dân tộc Kinh Mật độ dân số trung bình năm 2008 của huyện là 971người/km2, tương đối cao so với các huyện khác trong tỉnh và chỉ đứng sau TP Vinh(3.737 người/km2) và TX Cửa Lò (1.759 người/km2)

Diễn Thái có dân số khá cao là 11.336 người năm 2007 và 11.986 người năm

2008, tăng 1,06%, chiếm 4,05% dân số của cả huyện

Cụ thể trong giai đoạn 2001 – 2005 và 2001 – 2008 như sau:

- Tăng tự nhiên là 0,57%/năm, thuộc loại thấp trong huyện do xã đã thực hiện tốtcông tác kế hoạch hóa gia đình Tuy nhiên, hiện tượng sinh con thứ 3 tuy có giảmnhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao (năm 2006 chiếm 19,3%, năm 2007 chiếm 18,6% so vớitổng số sinh đẻ)

- Dân số giảm Nguyên nhân là do trong những năm gần đây, xã đã và đang pháttriển các ngành thủ công và làng nghề truyền thống, song sự phát triển chưa đồng bộ.Một bộ phận rất lớn thanh niên, lao động nữ trong độ tuổi từ 35 - 60 di chuyển lênthành phố tìm việc làm

* Về cơ cấu dân số

- Cơ cấu nam luôn thấp hơn nữ, trong năm 2008 nam chiếm 45,5% và chênh lệchdân số giữa nam và nữ không cao, nhưng độ chênh lệch này sẽ giảm dần do tốc độtăng dân số của nam tăng dần và nữ giảm dần qua các năm

- Dân số nông nghiệp chiếm 86,3% dân số và dân số phi nông nghiệp 13,7%, tỷ

lệ dân số phi nông nghiệp tương đối cao hơn hẳn so với số trung bình của huyện(32,7% dân số phi nông nghiệp)

- Dân số Diễn Thái tương đối trẻ, nhóm 0 – 14 tuổi chiếm 45,1%, 15 – 39 tuổi chiếm32,4%, 40 – 59 tuổi chiếm 19,8%, độ tuổi trên 60 chỉ chiếm 4,1% Như vậy, dân số dưới

60 tuổi chiếm tới 95,9% và dân số trong độ tuổi lao động chiếm tới 60,7% dân số

- Cơ cấu lao động giảm dần lên do nhu cầu lao động trong các ngành phinông nghiệp tăng lên và người dân có xu hướng di chuyển đến các thành phố lớntìm việc làm

Trang 29

Bảng 9: Bảng tình hình dân số và lao động của xã Diễn Thái qua 2 năm 2007 - 2008

11.3365.1586.178

10045,554,5

11.9865.7896.197

10048,351,7

65063119

105,73112,24100,30

2. Tổng số hộ

- Hộ NN

- Hộ phi NN

Hộ

26992.467232

10091,48,6

28742.481394

10086,313,7

17514162

106,49100,55169,65

3. Tổng số LĐ

- LĐ NN

- LĐ CN, DV

5.4734.515958

10082,517,5

5.8944.4521.442

10075,5324,47

421-63484

107,6998,59150,58

4,22,031,83

-4,172,051,79

0,030,02-0,04

99,29101,1298,05

(Nguồn: Số liệu thống kê xã Diễn Thái)

* Nguồn lao động

Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động của xã ngày càng tăng.Năm 2008 là 4.957 lao động tăng 1,02% so với năm 2007 (năm 2007 dân số xã

là 4.860 lao động) Trong đó: Lao động nông nghiệp chiếm 75,53%, còn lại 24,47%

là lao động phi nông nghiệp (chủ yếu là giáo viên, cán bộ quản lý hành chính, thợ xây

và buôn bán nhỏ lẻ) Nhìn chung, cơ cấu lao động thời gian qua đã có chuyển dịchtheo hướng tích cực hơn song còn chậm và còn nhiều bất cập, số lao động ngành nôngnghiệp có năng suất lao động thấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn

Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 54,2% dân số, nguồn lao động khá dồidào, lao động có việc làm ổn định năm 2008 chiếm gần 77,6% trong tổng số người

có khả năng lao động

Trình độ văn hoá của lực lượng lao động trong những năm gần đây tăng đáng kể,thể hiện qua các biến động thay đổi giảm dần cơ cấu số người chưa biết chữ và chưa

Trang 30

tốt nghiệp tiểu học, đồng thời tăng nhanh cơ cấu số người tốt nghiệp trung học cơ sở

và phổ thông trung học

* Chất lượng lao động

Trong giai đoạn đến 2020 so với các yêu cầu phát triển KT – XH của huyện, lựclượng lao động của xã đủ đáp ứng về số lượng Nhưng về mặt chất lượng cần phải đàotạo để nâng cao trình độ cho lực lượng lao động phổ thông Riêng lực lượng lao độngchuyên sâu, trình độ cao trong các ngành nghề, dịch vụ trong giai đoạn trước mắt cầnphải điều từ nơi khác đến mới có thể đáp ứng nhu cầu phát triển KT – XH

2.1.2.2 Tình hình sử dụng đất

Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sảnxuất, bố trí cơ cấu cây trồng, tới sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Làmthế nào để khai thác và sử dụng tài nguyên đất hợp lý, hiệu quả là vấn đề khôngphải dễ Nhìn chung, trong thời gian qua công tác quản lý và sử dụng đất của xãtương đối tốt, để thấy rõ hơn chúng ta đi vào phân tích bảng số liệu sau:

Qua bảng số liệu 10, ta thấy rằng, cơ cấu đất của xã có sự biến động khá rõ rệt

Bảng 10: Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2007 - 2008

(Nguồn: Ban địa chính xã Diễn Thái)

Diễn Thái là xã thuần nông và hoạt động chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi còntiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản là rất thấp chỉ chiếm tỷ lê rất ít Năm 2008, trong602,12 ha đất tự nhiên thì đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất 68,18% (trong đó đấtsản xuất sản xuất nông nghiệp chiếm 96,02%); tiếp đến là đất phi nông nghiệp chiếm30,71%; còn lại là đất chưa sử dụng mà chủ yếu là đất bằng chưa sử dụng

Trang 31

Nhìn chung, cơ cấu diện tích các loại đất không có sự biến động lớn, diện tích đấtnông nghiệp năm 2008 giảm so với năm 2007 là 97,63%, tương ứng với 9,34 ha Trongkhi đó, đất phi nông nghiệp đã tăng 106,56%, tương ứng với 12,13 ha So với nhiềuvùng khác trên địa bàn huyện, xã Diễn Thái có ít lợi thế về đất đai Bình quân một laođộng nông nghiệp có 900 m2 đất nông nghiệp và do cơ cấu lao động nông nghiệp đang

có xu hướng di chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ nên so với năm 2007 thìnăm 2008 bình quân đất nông nghiệp trên lao động nông nghiệp tăng 19,62%, tươngứng với 150 m2 Nếu các hộ, lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý, đầu tư đúng mức, khaithác triệt để tiềm năng của đất đai thì sẽ thu lợi được hiệu quả kinh tế lớn

Đất đai có hạn về diện tích nhưng khả năng sinh lời vô hạn Tuy nhiên, muốn sửdụng đất đai có hiệu quả và bền vững thì chúng ta cần phải chú ý đầu tư cải tạo, bồidưỡng để không ngừng nâng cao độ phì cho đất

2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng

Ngoài những tiềm lực về kinh tế, một địa phương cũng cần phải chú trọng xây dựngđược cơ sở hạ tầng hiện đại phục vụ cho phát triển sản xuất cũng như đời sống sinh hoạtcủa người dân Trên cơ sở tập trung vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn,

đã tạo nên một bộ mặt mới về một nông thôn phát triển

* Về hệ thống giao thông

Diễn Thái nằm trên tuyến tỉnh lộ 538 là trục đường giao thông quan trọng nối liềnDiễn Châu với các huyện khác trong tỉnh (như Yên Thành, Đô Lương, Tân Kỳ), thuậnlợi trong trao đổi buôn bán cũng như lưu thông hàng hóa

Đường liên xã cũng được mở rộng, bê tông hóa giúp người dân thuận lợi tronggiao lưu Bên cạnh đó, xã đã đổ đường cấp phối xuống tận từng thửa ruộng

Nhìn chung, hệ thống giao thông trên địa bàn xã ngày càng được đầu tư pháttriển và mở rộng tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội về tổng thể của xã

* Về hệ thống thủy lợi

Thủy lợi là ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt làviệc bố trí cây trồng trên đất canh tác Xã Diễn Thái có hệ thống các sông ngòi,kênh: với sông Đào, sông Giang, kênh Vách Bắc, kênh Vách Nam và rất nhiều conkênh đào nhỏ do nhân dân tự xây dựng để dẫn nước tưới tiêu vào đồng ruộng vàphục vụ cho sinh hoạt của người dân của xã Ngoài ra, còn có các công trình như hệ

Trang 32

thống kênh mương dẫn nước, các trạm bơm cung cấp nước cho mùa màng không đểhiện tượng thiếu hụt nước vào mùa khô và ngập úng vào mùa mưa.

* Về mạng lưới điện nông thôn

Điện lực là ngành thuộc sự quản lý của Nhà nước Tính đến năm 2009, 100% hộgia đình được sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất Bên cạnh đó, xã đã mắc đènđiện công cộng trên các tuyến đường giao thông trong nội bộ xã

* Các điều kiện về cơ sở hạ tầng khác

Ngoài các công trình về giao thông, thủy lợi, hiện nay xã cũng đã và đang chútrọng đầu tư về mọi mặt như đầu tư xây dựng trường học khang trang, trung tâm y tế,các trung tâm văn hóa thể thao của xã…

UBND xã cũng chú trọng xây dựng và phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật khácphục vụ cho sản xuất và đời sống xã hội: đầu tư mua sắm máy gặt đập liên hợp, máycày, máy bừa…

Hơn nữa, để giúp người dân mạnh dạn đầu tư nguồn vốn cho sản xuất, huyệnDiễn Châu chỉ đạo xã cũng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho người dân trongcác khâu sản xuất như nylon phủ mạ, thuốc trừ rầy nâu; hỗ trợ người dân mua máymóc phục vụ sản xuất với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ dân có thể vay vốn sản xuất với lãisuất ưu đãi tại Ngân hàng NN & PTNT, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàngChính sách xã hội và huy động các nguồn vốn hỗ trợ từ các Tổ chức phi chính phủ

2.1.3 Đánh giá chung địa bàn nghiên cứu

2.1.3.1 Thuận lợi

- Với lợi thế của xã có tỉnh lộ 538 chạy qua địa bàn xã sẽ tạo cơ hội cho DiễnThái phát triển nhanh làng nghề và dịch vụ, thu hút đầu tư và trao đổi hàng hoá Hệthống giao thông, thuỷ lợi, hệ thống điện, thông tin liên lạc, cấp thoát nước… cơ bảnphủ kín các địa bàn trong xã, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, phân bổ linh hoạtrộng khắp trên địa bàn

- Nguồn lao động tương đối dồi dào, cần cù lao động, hiếu học và có kinhnghiệm trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản Mặt khác, trongnhững năm qua chính quyền xã đã nỗ lực rất nhiều trong thu hút nguồn nhân lực trithức phục vụ cho địa phương Đồng thời, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ

và tay nghề cao Cụ thể, xã đã liên tục cử cán bộ, người dân tham gia các lớp đào tạo

Trang 33

nghề ở Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề của huyện, tham gia đào tạo nâng cao nănglực, trình độ, kỹ thuật sản xuất Cán bộ chính quyền xã, người dân cũng thường xuyêntham gia các đợt tập huấn khuyến nông do huyện mở, tạo cho người dân có cơ hội tiếpthu những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, có cơ hội vươn lên làm giàu

Với những thuận lợi trên đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của ngành sảnxuất lúa gạo nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung của xã Sản xuất lúa gạo có được

sự đầu tư thâm canh cao, sự hướng dẫn, phổ biến kỹ thuật về lựa chọn các loại giống tốt

có năng suất cao, sức chống chịu tốt; kết hợp với các tiến bộ khoa học kỹ thuật côngnghệ trong nông nghiệp, góp phần giảm nhẹ gánh nặng lao động cho người dân Bêncạnh đó, đời sống của người dân trong xã ngày càng được cải thiện nên họ có nguồn vốn

để đầu tư cho sản xuất, hệ thống thủy lợi và giao thông nông thôn cộng với sự hỗ trợ củachính quyền đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất lúa gạo trên địa bàn xã

2.1.3.2 Hạn chế

- Sự năng động trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế, ít nhiều còn chịu ảnhhưởng của tư duy nông nghiệp lạc hậu, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sản xuấtnông nghiệp lâu đời

- Chất lượng lao động có tăng nhưng chậm, nhiều lao động trẻ có tay nghề, có trình

độ học thức… tìm đến những thành phố lớn để kiếm cơ hội việc làm có thu nhập cao

- Cơ cấu lao động giữa sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản chưa phù hợp,còn mang nặng tiêu thụ nguyên liệu thô, giá trị sản phẩm thấp Lợi thế nguồn lao độngdồi dào, giá nhân công rẻ đang bị mất dần và sẽ gây khó khăn về lao động khi yêu cầuphát triển đòi hỏi có trình độ lao động nhất định

- Khả năng mở rộng sản xuất hạn chế, nguồn vốn đầu tư thiếu, trong tương lai sựphát triển của xã cần phải dựa vào khả năng phát triển ngành nghề dịch vụ

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã Diễn Thái

Diễn Thái là xã thuần nông Diện tích đất của xã chủ yếu được sử dụng chosản xuất nông nghiệp với 3 vụ chính: 2 vụ lúa và 1 vụ màu, tuy nhiên, sản xuất lúacủa các hộ nông dân xã chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong gia đình Kể từnăm 2000, nhận thức được vai trò của cây lúa trong sản xuất nông nghiệp, đồngthời thực hiện sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, xã Diễn Thái đã

Trang 34

tập huấn, khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho người dân; đồng thời đưamột số loại giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng gạo tốt và có khả năngchống chịu cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả năng sản xuất của địaphương vào thử nghiệm và sản xuất Tuy nhiên, tình hình diễn biến phức tạp củathời tiết, sâu bệnh cùng với mức độ đầu tư còn hạn chế nên năng suất lúa vẫn cònthấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Bảng 11: Kết quả sản xuất lúa của xã Diễn Thái qua một số năm

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Diễn Châu)

- Về diện tích: So với năm 2006, năm 2009 diện tích có giảm 4 ha Sự giảm sútnày là kết quả của quá trình phát triển các ngành nghề dịch vụ, đồng thời với sự giatăng dân số

- Về năng suất: năm 2006, do thời tiết thuận lợi, kết hợp với sự quan tâm chỉ đạocủa các cấp chính quyền địa phương nên năng suất đạt 66,27 tạ/ha Trong đó, vụ ĐôngXuân bội thu đạt 71,2 tạ/ha, và vụ Hè Thu đạt 61,31 tạ/ha Do diễn biến phức tạp củathời tiết và dịch bệnh, năm 2007 năng suất lúa cả xã giảm chỉ đạt 58,49 tạ/ha, giảm11,74% so với năm 2006 Năm 2009, mặc dù vụ Đông Xuân bội thu đạt 64,04 tạ/ha,song vụ Hè Thu do dịch bệnh "lùn, lụi", xoắn lá làm cho năng suất lúa trong vụ chỉđạt 52,57 tạ/ha; kéo theo sản lượng lúa cả năm chỉ đạt 58,29 tạ/ha, giảm 6,5% so vớinăm 2008 (năng suất lúa năm 2008 đạt 62,34 tạ/ha)

- Về sản lượng: cùng với sự giảm sút về diện tích, sản lượng lúa năm 2009 giảm302,81 tấn so với năm 2008

Trang 35

Nhìn chung, tiềm năng sản xuất lúa gạo theo hướng sản xuất hàng hoá của xã rấtcao Tuy nhiên, để khai thác hết được năng suất tiềm năng của từng giống lúa thì đòihỏi người dân và chính quyền địa phương phải có quy hoạch cơ cấu sản xuất, kỹ thuậtthâm canh và mức độ đầu tư sản xuất.

2.2.2 Tình hình sử dụng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Đối với các loại nông sản trên địa bàn huyện nói chung và xã Diễn Thái nói riêngđang được tiêu thụ dưới nhiều hình thức như bán trực tiếp cho người tiêu dùng tronghuyện, bán cho người thu gom nhỏ, hoặc nhập trực tiếp cho các nhà thu gom lớn đểphân phối đi các chợ và người tiêu dùng trong huyện cũng như là phân phối đi cácvùng lân cận và trong cả nước

Tuy nhiên, huyện Diễn Châu nói chung và xã Diễn Thái nói riêng chưa trởthành vùng chuyên canh hàng hóa, các sản phẩm nông nghiệp được làm ra chủ yếu

để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình là chính, góp phần đảm bảo an ninhlương thực cho vùng

Việc mở rộng thị trường tiêu thụ, chính quyền địa phương cũng đã có nhiềuchính sách khuyến khích người dân, các chủ trang trại, các doanh nghiệp thu mua nôngsản trên địa bàn Tuy nhiên, chưa có sự ràng buộc cũng như liên kết giữa chính quyền,người dân và các doanh nghiệp thu mua nông sản nên tình trạng người dân bị ép giávẫn diễn ra ở nhiều nơi

2.2.3 Tình hình sản xuất và sử dụng giống trên địa bàn xã

Hiện nay, việc cung ứng giống trên địa bàn xã Diễn Thái nói riêng và toàn huyệnDiễn Châu nói chung vẫn do Trạm giống huyện lấy giống từ công ty giống cây trồngNghệ An về phân phối cho Hợp tác xã, đảm bảo số lượng và chất lượng giống

Theo thống kê của HTX Diễn Thái, tổng lượng giống của cả xã sử dụng trong

vụ hè thu 2009 là 9,7 tấn với diện tích 374 ha lúa Trong đó, trạm giống cung ứng92,43% tổng lượng giống sử dụng cho sản xuất lúa trên địa bàn huyện, Trạm vật tưcung ứng 4,71% và 2,86% lượng giống còn lại là của các doanh nghiệp cung ứnggiống tư nhân Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng giống lúa cũ để lại của vụ trước cũngchiếm 0,91% tổng diện tích gieo trồng lúa trong vụ Hè thu 2009 của xã

2.3 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA

2.3.1 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra

Trang 36

Trong sản xuất, để có thể tiến hành sản xuất thì đòi hỏi người sản xuất phải cóđược 3 yếu tố cơ bản: đất đai, lao động và vốn Trong đó, đất đai và lao động là haiyếu tố phản ánh quy mô thu nhập của hộ

Qua điều tra ngẫu nhiên 70 hộ với 321 nhân khẩu, bình quân chung có 4,59 nhânkhẩu/hộ

Lực lượng lao động đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp cũngnhư sản xuất lúa gạo Trong nông nghiệp, hầu như người nông dân thường “lấy cônglàm lãi” Nguồn lao động dồi dào sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc chủ động trongcác khâu của quá trình sản xuất lúa, đặc biệt là vào những lúc mùa vụ Theo kết quảđiều tra, trong 70 hộ thì có 250 lao động; bình quân mỗi hộ có 3,57 lao động Nếu xéttheo tính chất ngành nghề:

- Lao động nông nghiệp bình quân/hộ vẫn ở mức cao là 2,53 lao động, chiếm70,8% tổng số lao động

- Lao động phi nông nghiệp bình quân/hộ là 1,03 lao động, chiếm29,2% tổng số lao động

Bảng 12: Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra

2791814553

10064,8716,1319,00

113682619

10060,1823,0116,81

3 Trình độ văn hoá trung bình Lớp 7,9 - 8,23

-(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Trình độ văn hóa cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới tư duy sảnxuất, trình độ thâm canh, khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phầnnâng cao hiệu quả sản xuất Theo kết quả điều tra, trình độ học vấn bình quân của các

hộ điều tra là 7,94 Mặc dù chưa đạt được ngưỡng cửa phổ cập giáo dục của nước ta,song con số đó cũng là một kết quả khá cao so với tình hình chung của cả nước Hầuhết lao động ở đây đều chưa qua đào tạo, chất lượng lao động còn hạn chế, người nôngdân sản xuất chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều đời từ quátrình sản xuất nông nghiệp để áp dụng cho mùa vụ sản xuất Điều này đòi hỏi các tổ

Trang 37

chức như Trung tâm khuyến nông, HTX… phải có những chương trình tập huấn,khuyến nông phổ biến kỹ thuật sản xuất, cải tiến các trang thiết bị, tư liệu sản xuấtcũng như học hỏi các kinh nghiệm sản xuất của người nông dân.

Mặc dù vậy, lao động nông nghiệp của Diễn Thái cũng mang tất cả các đặc trưngcủa lao động nông nghiệp Tính thời vụ cao là nét đặc trưng điển hình tuyệt đối khôngthể xóa bỏ, nó làm phức tạp quá trình sử dụng yếu tố nguồn nhân lực trong nôngnghiệp Là thứ lao động tất yếu, xu hướng được chuyển một bộ phận sang các ngànhkhác, trước hết là công nghiệp với những lao động trẻ khỏe có trình độ văn hóa và kỹthuật Vì thế, số lao động ở lại trong khu vực nông nghiệp thường là những người có

độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên Lực lượng lao động nôngnghiệp của xã thường tham gia vào các ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp trongthời điểm nông nhàn như thợ xây, mộc, buôn bán, đi ở, thợ may… để tăng thêm thunhập, cải thiện cuộc sống cũng như tận dụng thời gian nhàn rỗi Qua đó, một vấn đềđặt ra cho chính quyền địa phương là mở rộng và phát triển các làng nghề, các khucông nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp… để tạo việc làm cho người nông dân,tận dụng lao động nông nghiệp trong thời điểm nông nhàn cải thiện đời sống nhân dân,đồng thời ổn định an ninh trật tự vùng

2.3.2 Tình hình sử dụng đất của các hộ

Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất Đất đai tham giavào hầu hết các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tùy thuộc từng ngành cụ thể màvai trò của đất đai có sự khác nhau Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủyếu và đặc biệt; vừa là đối tượng lao động, vừa là công cụ lao động

Bảng số liệu 13 cho ta thấy rằng:

Bảng 13 : Quy mô cơ cấu đất đai của các hộ điều tra

- Tổng diện tích đất lúa lai

- Tổng diện tích đất trồng lúa thuần và nếp

Sào

"

"

351,83274,8468,49

5,033,930,98

Trang 38

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Trong 70 hộ điều tra, tổng diện tích là 436,996 sào, tức 21,85 ha, chiếm 3,63%tổng diện tích đất của cả xã (602,1 ha), chiếm 0,07% tổng diện tích của huyện(30504,66 ha) Bình quân mỗi hộ có đến 6,24 sào Con số này không cao, tuy nhiên,Diễn Thái là một xã đồng bằng nằm ở phía Tây Bắc của huyện, diện tích đất chủ yếu

là đất trồng cây hàng năm

Hiện nay, ở xã diện tích đất canh tác của hộ được chia theo số nhân khẩu, cứ 1khẩu thì được 541,5 m2; do đó hộ có nhiều nhân khẩu và lao động thường có nhiều đấtcanh tác hơn Tuy nhiên, đất nông nghiệp được giao khoán 20 năm, chia vào năm

1994, do vậy những khẩu sinh sau năm 1994 không có ruộng, hoặc chỉ có ruộng “giácao”, nhưng những người chết sau năm 1994 thì vẫn có ruộng theo nhân khẩu đã chia.Điều này tạo ra sự mất cân đối trong sử dụng đất nông nghiệp Diện tích đất của xãchủ yếu là được giao khoán Một số ít diện tích khai hoang ở ven hai bên các bờ kênh

sử dụng cho trồng rau màu Những năm gần đây, người nông dân của xã đang có xuhướng đi về các thành phố tìm việc làm Lượng lao động này chủ yếu là phụ nữ trungniên đi ở cho các gia đình ở thành phố như Đà Nẵng, Hà Nội, Vinh… Do đó, có nhiềudiện tích đất nông nghiệp đã được cho các hộ gia đình khác thuê mướn sản xuất

Trong thời gian qua, huyện Diễn Châu đã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu câytrồng và con vật nuôi Tuy nhiên, Diễn Thái là xã có diện tích đất trồng lúa là chủ yếu,

do tính chất của đất là đất thịt, thuộc vùng chiêm trũng, nên chỉ trồng màu ở vụ thứ 3trên một số diện tích đất hai lúa Tổng diện tích đất trồng lúa của xã là 367 ha, chiếm60,95% tổng diện tích đất tự nhiên của xã và chiếm 3,9% diện tích đất trồng lúa của cảhuyện; diện tích đất trồng màu là 20 ha, chiếm 3,3% tổng diện tích đất tự nhiên của xã.Theo kết quả điều tra, diện tích đất trồng lúa của các hộ điều tra là 351,83 sào,chiếm 80,51% tổng diện tích đất của xã (436,996 sào), chiếm 4,8% tổng diện tích đấttrồng lúa của xã (367 ha) Bình quân mỗi hộ được 5,03 sào đất lúa Trong đó, diện tíchtrồng lúa lai của các hộ điều tra là 274,84 sào, chiếm 78,12% diện tích trồng lúa, bìnhquân mỗi hộ trồng 3,93 sào lúa lai Theo chính sách khuyến nông của huyện, chỉ nêntrồng từ 2 đến 3 giống lúa trên mỗi cánh đồng theo quy hoạch của từng HTX, nên hầunhư xã trồng 2 giống chính: giống Nhị ưu 838 và giống Quy ưu 1 Một diện tích rấtnhỏ các hộ nông dân trồng nếp và các loại lúa thuần khác Sản xuất lúa chủ yếu phục

vụ cho nhu cầu sử dụng của gia đình

Trang 39

Nhìn chung, tại địa bàn nghiên cứu đất đai luôn đóng vai trò quan trọng quyếtđịnh đến quy mô sản xuất của mỗi gia đình Tuy nhiên, đất sản xuất nông nghiệp cógiới hạn, với tình hình gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa rất nhanh hiện nay, việcchú trọng vào đầu tư chuyên sâu cũng như đưa khoa học kỹ thuật vào trong sản xuấtnông nghiệp là điều đáng lưu tâm cho chính quyền và người nông dân.

2.3.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra

Khác với các ngành công nghiệp và dịch vụ, ngành nông nghiệp thường bị chiphối bởi tính thời vụ nên tạo ra những giai đoạn sản xuất phức tạp Do đó, quy môđầu tư trang thiết bị tư liệu sản xuất đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trìnhsản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Cùng với quá trình CNH,HĐH, ngành nông nghiệp cũng đã dần có những thay đổi đáng kể trong sản xuất, đãđưa vào áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại giúp tăng năng suấtlao động, giảm chi phí, tăng thu nhập cho hộ gia đình Những năm gần đây, xã DiễnThái cũng đã dần áp dụng được những máy móc, phương tiện sản xuất mới, hiệnđại hơn giúp giảm được gánh nặng cho người dân, đặc biệt là vào thời điểm mùavụ; giúp tăng năng suất, sản lượng, hình thành nên phương thức sản xuất nôngnghiệp theo hướng CNH, HĐH

Để thấy được mức độ đầu tư, áp dụng của người dân cũng như vai trò của tư liệusản xuất đối với địa phương, chúng ta theo dõi bảng số liệu 14

Hầu hết các nông hộ đều nuôi trâu bò để phục vụ cho việc cày bừa cũng như làmsức kéo để giảm chi phí làm đất, bình quân các nhóm hộ điều tra là 0,84 con/hộ Đối với

xe kéo, bình quân mỗi hộ có 1,21 cái, với tổng giá trị còn lại là 23.900 nghìn đồng Con

số này khá cao, do các hộ gia đình ở đây chủ yếu dùng xe bò kéo đối với các hộ có trâu,

bò kéo Đặc biệt, hầu như tất cả các hộ gia đình đều sắm cho mình một chiếc xe cải tiến,nhỏ gọn và rất tiện lợi trong tất cả các công việc của một nông hộ hay bất kỳ ngành nghềnào; giá cả cũng tương đối rẻ, chỉ khoảng từ 700 nghìn đến 1 triệu đồng/chiếc

Bảng 14 : Tình hình đầu tư cho tư liệu sản xuất của các hộ điều tra

GTCL BQ/con (cái, hộ) (1000đ)

1 Trâu, bò kéo (con) 59 715.000 0,84 12.118,64

Trang 40

2 Cày, bừa tay (cái) 73 9.000 1,04 123,29

5 Xe bò kéo, xe cải tiến (cái) 85 23.900 1,21 281,18

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Tuy nhiên, số lượng trâu bò kéo có xu hướng giảm đi do điều kiện canh tác hiệnnay chủ yếu là các hộ thuê cơ giới như: máy cày, bừa, dập rạ, máy tuốt lúa… để giảmbớt sức lao động và thời gian cũng như để cho kịp mùa vụ, cải tạo đất, diệt bớt mầmbệnh Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi hộ chỉ có 0,09 máy/hộ đối với máy cày,bừa đa chức năng; và 0,10 máy/hộ đối với máy tuốt lúa Ngoài sử dụng những máymóc này cho gia đình, các hộ có máy còn tiến hành cày, bừa, tuốt thuê trong thời kỳmùa vụ căng thẳng Đồng thời, đầu máy của máy cày còn có thể tận dụng để làm xekéo, phổ biến là xe càng chuyên chở thay thế cho xe bò kéo Qua điều tra, mỗi xóm có

từ 1-2 máy Hiện nay, trên địa bàn xã cũng chỉ có máy cày, bừa và máy tuốt lúa, chưa

áp dụng máy cắt trong sản xuất; thu hoạch chủ yếu bằng tay Nguyên nhân là ruộng đấtmanh mún, nhỏ lẻ theo từng khoảnh (có khoảnh chỉ có 3 thước, tương đương với 0,21sào), do vậy rất khó khăn cho công tác cơ giới hóa nông nghiệp

Qua bảng số liệu trên còn cho ta thấy, đối với bình phun thuốc và các loại nông

cụ khác phục vụ cho sản xuất đã được người dân áp dụng rộng rãi Hầu như nhà nàocũng có bình phun thuốc; bình quân mỗi hộ có 0,67 cái Các loại nông cụ khác màngười dân thường sử dụng là cuốc, vên, vét, liềm, bồ cào… bình quân mỗi hộ đầu tưcho công cụ này là 29,33 nghìn đồng

Nhìn chung, cùng với xu hướng ngày càng phát triển của huyện, sự đầu tư trangthiết bị hiện đại cho sản xuất cũng đã được các hộ nông dân chú trọng trang bị khá đầy

đủ với sự hỗ trợ của Nhà nước về lãi suất vay vốn mua máy móc sản xuất và sự quantâm của chính quyền địa phương

2.3.4 Tình hình đầu tư thâm canh

Ngày đăng: 27/09/2013, 21:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   1: Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với  một số cây lấy hạt khác - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
ng 1: Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với một số cây lấy hạt khác (Trang 4)
Bảng 2: Thời vụ gieo, cấy của khu vực phía Bắc - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 2 Thời vụ gieo, cấy của khu vực phía Bắc (Trang 13)
Bảng 3  : Diện tích, năng suất, sản lượng của các châu lục năm 2006 - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 3 : Diện tích, năng suất, sản lượng của các châu lục năm 2006 (Trang 16)
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới từ năm 2002 - 2006  Chỉ tiêu - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới từ năm 2002 - 2006 Chỉ tiêu (Trang 17)
Bảng 5: Diện tích và sản lượng lúa của cả nước từ năm 1990 – 2009 (Nguồn: www.gso.gov.vn) - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 5 Diện tích và sản lượng lúa của cả nước từ năm 1990 – 2009 (Nguồn: www.gso.gov.vn) (Trang 20)
Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa phân theo vùng năm 2008 Chỉ tiêu - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 6 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa phân theo vùng năm 2008 Chỉ tiêu (Trang 21)
Bảng 7: Tổng hợp giá trị sản xuất nông nghiệp và sản lượng lương thực có hạt của tỉnh  Nghệ An từ 2005 – 2008 - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 7 Tổng hợp giá trị sản xuất nông nghiệp và sản lượng lương thực có hạt của tỉnh Nghệ An từ 2005 – 2008 (Trang 22)
Bảng 8: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện từ năm 2005 - 2009 - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 8 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện từ năm 2005 - 2009 (Trang 24)
Bảng 9: Bảng tình hình dân số và lao động của xã Diễn Thái qua 2 năm 2007 - 2008 - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 9 Bảng tình hình dân số và lao động của xã Diễn Thái qua 2 năm 2007 - 2008 (Trang 29)
Bảng 10: Tình hình sử dụng đất đai của xã  năm 2007 - 2008 - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 10 Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2007 - 2008 (Trang 30)
Bảng 11: Kết quả sản xuất lúa của xã Diễn Thái qua một số năm - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 11 Kết quả sản xuất lúa của xã Diễn Thái qua một số năm (Trang 34)
Bảng 12: Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 12 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra (Trang 36)
Bảng số liệu 13 cho ta thấy rằng: - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng s ố liệu 13 cho ta thấy rằng: (Trang 37)
Bảng 15: Nguồn cung ứng giống của các hộ điều tra - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 15 Nguồn cung ứng giống của các hộ điều tra (Trang 42)
Bảng 16: Chi phí đầu tư của các hộ điều tra - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 16 Chi phí đầu tư của các hộ điều tra (Trang 43)
Bảng 18: So sánh năng suất của các giống lúa trong thí nghiệm  và năng suất thực tế thu được tại xã Diễn Thái - Khóa luận so sánh hiệu quả kinh tế của một số giống lúa lai vụ hè thu 2009 ở xã diễn thái, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 18 So sánh năng suất của các giống lúa trong thí nghiệm và năng suất thực tế thu được tại xã Diễn Thái (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w