1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT

55 942 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Từ sau năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Một trong những nội dung trọng tâm của chính sách đổi mới là thay đổiphương thức quản lý đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Vai tròcủa nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nóiriêng chuyển dần từ cơ chế quản lý trực tiếp sang cơ chế quản lý thông qua việcban hành các văn bản pháp luật, các cơ chế chính sách và các công cụ vĩ mônhằm điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường Đã có nhiềudoanh nghiệp lắp ráp ô tô nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp ô tô tạiViệt Nam và cũng có rất nhiều công ty trong nước mở rộng chuyển đổi sản xuất

ô tô.Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp này không đạt đượcthành công như họ đã kỳ vong Thậm chí có công ty còn tự giải thể vì hoạt độngkhông hiệu quả Và hầu hết các công ty sản xuất lắp ráp trong nước vẫn đứng trụlại thì phải chiệu thua lổ

Trong 28 năm đổi mới từ năm 1986 tới nay thì nền kinh tế thế giới đã trảiqua 2 cuộc suy thoái kinh tế, lần gần đây nhất là vào năm 2009 bắt đầu nổ ra tại

Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới Cuộc suy thoái có mức ảnh hưởng khủng khiếptới tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung Đặc biệt là các quốc gia đang pháttriển như Việt Nam, Trung Quốc…Trong năm 2014 theo dự báo sẽ vẫn cònnhiều khó khăn, bất ổn cũng như không có mấy khả quan về khả năng phục hồithoát ra hoàn toàn khỏi suy thoái, suy thoái kinh tế đã gây ra sự giảm suốt về sứcmua của người tiêu dùng Người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và có xu hướng tiếtkiệm, chọn lọc trong tiêu dùng của mình Ngoài ra, suy thoái kinh tế còn làm chocác doanh nghiệp mất thị trường, cắt giảm giá bán và chỉ tiêu sản phẩm, tỉ lệ thấtnghiệp gia tăng… dẫn đến giảm khả năng cạnh trranh của các công ty Các tácđộng trên đã làm ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động sản xuất và kinhdoanh của các công ty trên thị trường cũng như ảnh hưởng tới đời sống sản xuấtcủa nhân dân

Để ứng phó với các tác động của suy thoái kinh tế, các quốc gia đã đưa ranhiều giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế,

Trang 2

từng bước ổn định và đảy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, những tác độngcủa suy thoái kinh tế thường rất nặng nề và hậu quả của nó có thể kéo dài trongnhiều năm.

Như vậy, trong những năm gần đây các doanh nghiệp nói chung và Công ty

Cổ phần ô tô TMT nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn do các tác động từsuy thoái kinh tế Để hạn chế những tiêu cực từ của suy thoái kinh tế, các doanhnghiệp đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để từng bước ổn định và phát triểnsản xuất tiêu thụ hàng hóa Tuy nhiên, tác động của suy thoái vẫn còn nặng nề,cần có những nghiên cứu cụ thể để có những cái nhìn chính xác về sự ảnh hưởngcủa suy thoái tới doanh nghiệp như thế nào để từ đó có những giải pháp hợp lýnhằm khắc phục các doanh nghiệp thoát khỏi khó khăn, tiến hành sản xuất kinhdoanh hiệu quả trong điều kiện suy thoái kinh tế như hiện nay

Xuất phát từ thực tế trên và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty Cổ phần ô tô TMT đang gặp nhiều khó khăn, cụ thể và biểu hiện rỏ ràngnhất có thể thấy đó là tổng doanh thu thuần của công ty giảm từ 1448 tỷ đồngnăm 2011 xuống còn 503,702 tỷ đồng năm 2013 tương ứng giảm hơn 65% Do

đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích kỹ ảnh hưởng của suy thoái tới hoạtđộng kinh doanh của công ty Cổ phần ô tô TMT đang là một vấn đề cấp thiết để

từ đó đưa ra được các giải pháp hợp lý nhằm giúp công ty hoạt động hiệu quả,đặc biệt là vượt qua thời kì kinh tế khó khăn hiện nay

2 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI CÓ LIÊN QUAN

Suy thoái kinh tế hiện nay đang là vấn đề cấp thiết cũng như được nhiềungười, nhiều tổ chức quan tâm đặc biệt là các doanh nghiệp, do đó đã có nhiềutác giả nghiên cứu vấn đề này kể từ khi cuộc suy thoái kinh tế xảy ra từ năm

2009 đến nay Với mỗi tác giả có những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề nàytheo các hướng khác nhau và áp dụng ở những doanh nghiệp khác nhau và dướiđây là một số công trình nghiên cứu có liên qua đến vấn đề suy thoái kinh tế:

1 “Một số giải pháp kích cầu nhằm hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh

tế tới hoạt động kinh doanh thiết bị văn phòng trên địa bàn Hà Nội” – Của sinh

viên Trịnh Thị Huyền- Gíao viên Đào Thế Sơn hướng dẫn- Khoa Kinh Tế- Năm

2009 Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứ, phân tích suy thoái kinh tế đã cónhững tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm giảm nhu cầu của thị trường đối vớimặt hàng thiết bị văn phòng trong cả nước nói chung và tác động tới hoạt độngkinh doanh trên địa bàn Hà Nội nói riêng Mục đích của luận văn là nghiên cứu

Trang 3

những tác động này và qua đó đề xuất một số giải pháp kích cầu đối với mặthàng thiết bị văn phòng trên địa bàn Hà Nội.

2 “Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu thép sang thị trường Trung Đông của công ty cổ phần tập đoàn Thành Nam” – Của sinh viên Lương Thị Mai Anh- Khoa Thương Mại Quốc Tế- năm

2011 Đề tài khóa luận đi sâu vào nghiên cứu, phân tích những ảnh hưởng củasuy thoái kinh tê tới hoạt động xuất khẩu thép sang thị trường Trung Đông vàđưa ra những giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng đó

3 “Giải pháp hạn chế sự biến động của giá vật liệu xây dựng đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH An Thương”.- Của sinh viên Hà Thị Huệ-

Khoa Kinh Tế- năm 2011 Nội dung chính của đề tài khóa luận là đi sâu và phântích những ảnh hưởng của sự biến động giá vật liệu xây dựng tới hoạt động kinhdoanh của công ty TNHH An Thương, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạnchế những ảnh hưởng tiêu cực đó

4 “Phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt”.- Của sinh viên Hồ Thị Thơ- Khoa

Kinh Tế- Năm 2011 Đề tài khóa luận nghiên cứu những ảnh hưởng của lạm pháttới kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt, từ đó đưa ranhững đề xuất, giải pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn những ảnh hưởng đó

5 “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty CP may Sông Hồng và các giải pháp” Của tác Trền Thị Minh Nguyệt – Trường Đại học thương mại, (2009).

Luận văn tập trung tìm hiểu, phân tích và đánh giá những tác động của suy thoáikinh tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may nói chung và của công ty

CP may sông hồng nói riêng sang thị trường Hoa Kỳ, để qua đó đề xuất các giảipháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đẩy mạnh hoạt độngxuất khẩu của công ty CP may Sông Hồng

3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Vấn đề suy thoái kinh tế đang là một vấn đề nóng được hầu hết các nướctrên thế giới đặc biết quan tâm, Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề này Cáccông ty, doanh nghiệp trong nước nói chung và công ty cổ phần ô tô TMT nóiriêng đang rất khó khăn trong hoạt động kinh doanh sản xuất của mình do ảnhhưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Doanh nghiệp phải hoạt động như thế nào

và định hướng kế hoạch ra sao để vượt qua suy thoái cũng như hoạt động kinh

Trang 4

doanh có hiệu quả hơn là những câu hỏi cấp thiết của mỗi doanh nghiệp trongthời kì hiện nay Từ những vấn đề cấp thiết đặt ra đối với công ty, cần giải quyếtmột số vấn đề như sau:

Nghiên cứu, phân tích sự tác động của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinhdoanh của công ty cụ thể ảnh hưởng của nó tới cả đầu vào lẫn đầu ra của công ty

Từ những phân tích cụ thể trên có thể có được cái nhìn, đánh giá chính xác

về ảnh hưởng của suy thoái tới hoạt động kinh doanh của công ty, để từ đó có thểđưa ra được các giải pháp hợp lý và hữu hiệu khắc phục các tác động tiêu cực từsuy thoái giúp công ty vượt qua khó khăn

Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề này trong việc giúpdoanh nghiệp có định hướng kinh doanh hiệu quả trong tình hình kinh tế hiệnnay, kết hợp với những lý luận tiếp thu được trong quá trình học tập và tìm hiểu

thực tế trong thời gian qua, tôi đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần ô tô TMT” Đây là đề tài đầu

tiên nghiên cứu vấn đề này tại công ty Cổ phần ô tô TMT từ khi công ty bắt đầuthành lập và hoạt động cho tới nay

4 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài tập trung vào nghiên cứu và phân tích tác động của cuộc suy thoáikinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô TMT cụ thể là tácđộng tới doanh thu, lợi nhuận, chi phí… của công ty như thế nào

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu lý luận.

Hệ thống một cách tổng quát về cơ sở lý luận có liên quan tới suy thoáikinh tế, khái quát về cuộc suy thoái kinh tế hiện nay cũng như các vấn đề liênquan tới hoạt động kinh doanh của công ty, các nhân tố ảnh hưởng, các chi phítiêu chí đánh giá hiệu quả trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty… để

từ đó làm tiền đề phân tích thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạtđộng của công ty

Mục tiêu thực tiễn.

Trang 5

Mục tiêu thực tiễn chủ yếu của nghiên cứu đó là phân tích, đánh giá tácđộng của suy thoái đến hoạt động kinh doanh của công ty, các giải pháp ứng phócủa công ty trước tác động cả suy thoái kinh tế và đề xuất một số giải pháp nhằmgiúp công ty hoạt động có hiệu quả hơn trong điều kiện suy thoái.

Phạm vi nghiên cứu.

Giới hạn về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của suythoái kinh tế tới nền kinh tế nói chung và xem xét tác động của nó tới hoạt độngkinh doanh ô tô nói riêng, từ đó đưa ra kết luận và đề ra các phương hướng nhằmhạn chế tác động tiêu cực của lạm phát đế hoạt động kinh doanh của công ty.Giới hạn về không gian: khóa luận được đề xuất để nghiên cứu ảnh hưởngcủa suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần ô tô TMT.Giới hạn về thời gian: Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ năm 2010 đến nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

a Phương pháp thu thập dữ liệu

Do có sự giới hạn về thời gian cũng như điều kiện thu thập dữ liệu, đề tàikhóa luận sẽ chỉ chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồnthứ cấp Số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập bằng phươngpháp tổng hợp tài liệu Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tàichính, báo cáo tình hình nhân sự của công ty qua các năm, các tạp chí chuyênngành, các nghiên cứu trước có liên quan và các website Qua đó tổng hợp thống

kê doanh thu, doanh số tiêu thụ, chi phí đầu vào công ty trong những năm gầnđây, dự báo được xu hướng cũng như quyết định phương hướng ổn định và pháttriển hoạt động kinh doanh cho công ty

b Phương pháp xữ lý, phân tích số liệu

Là phương pháp sử dụng, phân tích các số liệu sau khi đã thu thập đượcthông tin số liệu cần thiết Phương pháp này tập trung phân tích, xử lý các thôngtin, dữ liệu thu thập được Sử dụng bảng báo cáo doanh thu, chi phí lợi nhuậnhàng năm của công ty để so sánh, phân tích sự biến động tăng, giảm giá cả đếndoanh thu, chi phí, lợi nhuận trong năm Từ đó thấy được ảnh hưởng của suythoái đến chi phí, doanh thu, lợi nhuận… của công ty

c.Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Trang 6

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng thường xuyên trong phân tích.

So sánh là phương pháp để nhận thức các sự vật, hiện tượng thông qua quan hệđối chiếu tương hỗ giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác Mụcđích của phương pháp này là để thấy được sự giống và khác nhau giữa các sự vật,hiện tượng Thông qua phương pháp này có thể xác định được chiều hướng biếnđộng chung của các tiêu chí để từ đó đánh giá được các mặt phát triển hay cácmặt kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các phương pháp nhằmquản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể Phương pháp này được sử dụng trongbài khóa luận để so sánh sự tăng giảm của các chỉ tiêu liên quan đến hiệu quảkinh doanh của công ty trong những năm gần đây qua các năm để từ đó nhận xétđánh giá và đưa ra các biện pháp hữu hiệu giúp công ty vượt qua con cơn khủnghoảng

d, Các phương pháp khác.

Ngoài các phương pháp nêu trên, trong quá trình hoàn thành khóa luận, emcòn sử sử dụng các phương pháp khác như phương pháp đồ thị, biểu đồ, hình vẽhay mô hình Từ các bảng số liệu lập ra biểu đồ để thông qua đó quan sát và rút

ra những đánh giá tổng quát về thực trạng hoạt động kinh doanh của công tytrong những năm gần đây

6 KẾT CẤU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP.

Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục

sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo và các phụ lục thì khóaluận có kết cấu như sau:

Chương 1 Một số lý luận cơ bản về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Chương 2 Thực trạng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của công ty.

Chương 3 Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty.

Trang 7

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Trong giai đoạn hiện nay thì suy thoái kinh tế là một vấn đề bước thiết đượcrất nhiều người và tổ chức quan tâm, nghiên cứu và nó có rất nhiều hình thứcbiểu hiện cụ thể khác nhau ảnh hưởng tới nền kinh tế Tuy nhiên thì chúng ta chỉ

đi nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về suy thoái kinh tế, được nhắc đến trêncác phương tiện truyền thông đại chúng Gồm có 3 khái niệm cơ bản bao gồm:Suy thoái kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng tài chính

1.1 KHÁI NIỆM SUY THOÁI KINH TẾ VÀ SUY THOÁI KINH TẾ

TOÀN CẦU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

a, Suy thoái kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Từ trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa như sau:

“Suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”

Còn theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gian (NBER) Hoa

Kỳ cho rằng: “Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”.

Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suy giảm đồng thời của các chỉ sốkinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như: Việc làm, đầu tư và lợi nhuận củadoanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặcngược lại, tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ định lạm

Suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự vở tàn phá kinh tế gọi là sự sụp/đổ vở kinh tế Việc suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu

b Khủng hoảng tài chính.

Trong những năm gần đây kể từ năm 2008 tới nay thì cụm từ “khủng hoảng tài chính” được xuất hiện rất nhiều trên các thông tin đại chúng hay là trong

những vấn đề nóng được đưa ra nghiên cứu và giải quyết của các chuyên gia kinh

tế hiện nay, tuy nhiên thì đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận về khoa học liênquan tới khái niệm về khủng hoảng tài chính Ví dụ, khủng hoảng tài chính đượchiểu là “sự gián đoạn tiềm ẩn nghiêm trọng của thị trường tài chính, do thị trườngsuy yếu khả năng hoạt động hiệu quả, có thể có tác động tiêu cực lớn đến nềnkinh tế thực” (IMF, 1998, trang 75), là “sự gián đoạn phi tuyến của thị trường tài

Trang 8

chính …” (Mishkin, 1997) Theo Caprio, cuộc khủng hoảng tài chính thườngxuyên có nguồn gốc hoặc gây ra vở nợ trong hệ thống ngân hàng, và có sự sụp đổtrong giá tài sản, nhất là trong thị trường chứng khoán (Caprio, 1998) Woo vàSachs cho rằng “khủng hoảng tài chính được đặc trưng bởi sự thay đổi một cáchđột ngột và đáng kể đang từ dòng vốn ròng hảy vào thành dòng vốn ròng chảy ra

từ năm này sang năm kế tiếp” (Woo và Sachs, 2000)

Có thể nói, khủng hoảng tài chính thể hiện sự thất bại của một số nhân tốcủa nền kinh tế trong việc thực hiện sự thất bại của một số nhân tố của nền kinh

tế trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình Khủng hoảng tài chính làtình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sự sụp đổ quỹ.Đặc trưng của mỗi quỹ cấu thành nên hệ thống tài chính là dòng tiền vào/ra,nhận/thanh thoán, hình thành tài sản có/tài sản nợ Khi xảy ra hiện tượng mất cânđối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lượng, thờihạn, chủng loại tiền thì có thể xãy ra khủng hoảng tài chính

Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niêm bao trùm được sử dụng chungcho mọi khủng hoảng gắn với mất cân cân đối về tài chính và thường gắn vớinghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại mộtthời điểm nào đó Chính vì vậy, khủng hoản tài chính có đặc điểm của khủnghoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nèn kinh tế thịtrường từ nhiều năm nay Khủng hoảng tài chính liên quan đén cấu trúc tài chính

và nền kinh tế tiền tệ trong khi khủng hoảng kinh tế liên quan đến cấu trúc kinh

tế và nền kinh tế thực Cuộc khủng hoảng tài chính đề cập trong khóa luận làcuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 mà kéo theo nó là suy thoái kinh tế thếgiới Suy thoái kinh tế thế giới có thể được hiểu là việc các giá trị kinh tế vĩ mônhư tổng sản phẩm quốc dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế giá trị sản phẩm côngnghiệp giảm sút năm này qua năm khác Suy thoái kinh tế hiện nay là hậu quảtrực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008

c, Các kiểu suy thoái kinh tế.

Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của

đồ thị tăng trưởng theo quý Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:

Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độsuy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh;điểm đồi chiều giữa hai phá này rõ ràng Đây là kiểu suy thoái thường thấy

Trang 9

Hình 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa

Kỳ năm 1953

Nguồn: Tổng cục thống kê

Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rấtchậm Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả đểthoát khỏi suy thoái Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăngtrưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau

Hình 1.2 Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa

Trang 10

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.

1.2.1 Lý thuyết về suy thoái kinh tế

1.2.1.1 Chu kỳ phát triển kinh tế.

Trang 11

Chu kỳ kinh tế hay còn gọi là chu kì kinh doanh, là biết động của GDP thực

tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Cũng cónhững pha phục hồi thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ có hai pha chính là suythoái và thịnh vượng

Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt

là suy thoái, khủng hoảng, và thịnh vượng Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại,khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu biểu, sản lượng giảm bớt, hoạt động sản xuất

bị ngưng trệ, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăngcao…không xãy ra nữa Vì thế, toàn bộ giá trị của GDP giảm đi, tức là giai đoạnnền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái

Ở Việt Nam, cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế cácnước tư bản chủ nghĩa, khi đó về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này làkhủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh Hiện nay, không còn thấy cáchgọi này nữa

Các pha của chu kỳ kinh tế:

Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người

ta quy rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quyliên tiếp thì mới gọi là suy thoái

Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suythoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ

Hưng thịnh: là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngaytrước lúc suy thoái Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểmngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế

Trang 12

Từ nghiên cứu trên thấy, nền kinh tế diễn ra theo một chu kỳ đầy đủ với đầy

đủ ba pha kinh tế tuần tự (suy thoái, phục hồi, hưng thịnh) Suy thoái kinh tế làpha đầu tiên của chu kỳ kinh tế và ngay trước đó là pha hưng thịnh của chu kỳkinh tế trước, sau đó là pha phục hồi và hưng thịnh của chu kỳ kinh tế mới Từ đócho thấy suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kỳ

1.2.1.2 Sơ lược về cuộc suy thoái kinh tế 2007 – 2008.

Khủng hoảng tài chính ở Mỹ - xuất phát điểm cảu suy thoái toàn cầu hiệnnay

Khủng hoảng tại Mỹ được đánh dấu bằng sự đổ vở với hệ thống ngân hàng

ở đây Tình trạng thua lổ, phá sản thường chỉ xảy ra trong các ngân hàng nhỏ vàtrung bình ở Mỹ Nhưng kể từ tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngânhàng có tầm ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu Fredtic mac vàfrannie max là hai tập đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ Nếu hai tập đoànnày sụp đổ thì hệ thống tài chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn Vì thế Đểtạm thời ngăn chặn sự việc này, ngày 07/09/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra

25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn này

Tập đoàn lớn thứ tư tại Mỹ - Lehman Brothers Holdings đã thua lỗ gần 7 tỷUSD trong quý II và III năm 2008, trong đó quý III lỗ 3,9 tỷ USD Nguyên nhân

là do các khoản nợ xấu trong lĩnh vực tín dụng thứ cấp thế chập mua nhà tại mỹcủa các ngân hàng này không có khả năng thanh toán Sau 158 năm hoạt đông,Lehman Brothers Holdings đã phải nộp đơn xin phá sản ngày 15/09/2008 Cùngngày với lý do như trên tập đoàn ngân hàng lớn khác của Mỹ là Merrill Lynch đãtuyên bố sắp nhập với Bank of America với giá trị 50 tỷ USD, tương đương 29usd/cổ phần, trở thành tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính lớn nhất thế giớiTập đoàng bảo hiểm hàng đầu của Mỹ, AIG tuyên bố thua lỗ 18 tỷ USDtrong quý II và quý III, riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã lỗ hơn 13 tỷ USD Để cứutập đoàn khỏi nguy cơ phá sản, FED đã cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng 2năm, đổi lại Chính phủ Mỹ sẽ nắm giữ 80% cổ phần và thay đổi ban lãnh đạo củatập đoàn này

Không chỉ những ngân hàng có quy mô tài sản hàng tỷ USD mà hàng loạtcác ngân hàng có quy mô tài sản vài trăm triệu USD cũng lần lượt rơi vào tìnhtrạng tồi tệ Theo công bố của FED, đã có 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể trong năm

2008 Theo các chuyen gia thì con số này sẽ tăng lên trong năm 2009 do khủng

Trang 13

hoảng tài chính chưa chịu buông tha hệ thống tài chính nước này và viễn cảnhkinh tế nói chung còn tiếp tục u ám.

Khủng hoảng tài chính ở các nước khác:

Cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn cầu không chỉ riêng có ở Mỹ mà nó

đã lan rộng ra toàn cầu Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu

có mối quan hệ tín dụng đan xen nhau chằng chịt, cuộc khủng hoảng tài chínhcủa nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ đã nhanh chong lây lan sang các nướckhác như hiệu ứng đô – mi – nô

Khủng hoảng ở Châu Âu

Ủy ban Châu Âu đã vừa thừa nhận nền kinh tế 15 nước sử dụng đồng tiềnchung Euro đã bước vào một cuộc suy thoái

Các ngân hàng ở Anh chiệu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng tàichính Mỹ Mặc dù đã được hỗ trợ từ năm 2007 nhưng tính đến hết tháng 7 năm

2008 thì northern Rock chịu khoản nợ xấu lên tới 191,6 tỷ USD Do tình trạngtổn thất tín dụng ngày càng gia tăng, trong tháng 7 và đầu tháng 8/2008, Bộ tàichính Anh đã phải bơm them 3 tỷ bảng anh (tương đương 5,86 tỷ USD) để cứungân hàng này

Ngày 29/09/2008, nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng chịu thua lỗ lớn,không có khả năng trụ vững do liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ,

Bộ tài chính Anh đã tuyên bố quốc hữu hóa tập đoàn cho vay kinh doanh bấtđộng sản lớn nhất nước là Bradford & Bingley Pic Tổng gía trị các khoản thếchấp và vay trên sổ sách là 50 tỷ bảng

Lối tiếp các ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại Châu Âunhư Fortis của Bỉ và Lucsxămbua, Dexia của Bỉ và Pháp Đầu tháng 10/2008,ngân hàng Hypo real Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng và chính phủĐức phải cứu trợ bằng biện pháp tài chính cần thiết Vào ngày 08/01/2009, chínhphủ Đức đã tuyên bố quốc hữu hóa ngân hàng thương mại lớn thứ hai của Đức làCommerzbank, để cứu ngân hàng này khỏi bị phá sản Dấu hiệu đầu tiên và rõràng nhất cho thấy nền kinh tế nước này bước vào giai đoạn suy thoái là GDPliên tục giảm trong quý II năm 2008 đã giảm 0.4% quý III/2008 giảm o.5% Sựsụt giảm tăng mạnh hơn so với dự báo của kinh tế Đức là từ thương mại quốc tế,với sự tăng mạnh của nhập khẩu trong khi xuất khẩu giảm

Trang 14

Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chúng khoán cũng bị

ảnh hưởng nghiêm trọng Trong tháng 9 năm 2008, đợt suy giảm thị trườngchứng khoán cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong tháng 9/2008, đợt suy giảmthị trường chứng khoán diễn ra đã làm mất 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu thịtrường Tính đến ngày 07/10/2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần tạm thờiđóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh Chỉ trong 3 tuần cuối của tháng 9 vàđầu tháng 10/2008 ngân hàng Trung ương Nga đã phải tung ra thị trường 170 tỷUSD để cứu các ngân hàng và các công ty tài chính Để hổ trợ cho các ngânhàng, ngày 08/10/2008, Tổng thống Nga công bố kế hoạch cho vay với thời hạn

5 năm với tổng giá trị là 950 tỷ rúp, tương đương 36,4 tỷ USD

Sự lan tỏa của khung hoảng tài chính và suy giảm kinh tế Châu Á.

Ngày 08/10/2008, thị trường chứng khoán châu Á trải qua một ngày tồi tệ,hàng loạt thị trường chứng khoán châu Á trong tình trạng sụt giảm nghiêm trọng.Chỉ số Nikkei của Nhật bản giảm xuống còn 9253,32 điểm Kể từ năm 1987, đây

là mức giảm lớn nhất: 9,4% Hàng loạt chỉ số chứng khoán trên các thị trườngcác nước khác cũng ở tình trạng tương tự: Chỉ số Hangseng của Hồng Kông giảm5,2%, chỉ số Sensex của Ấn Độ giảm 4,3%, chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm5,8% Sự suột giảm này trên thị trường chứng khoán châu Á còn kéo dài đếntháng 11, các chỉ số trên thị trường Xingapo, Hàn Quốc, Malaxia cũng sụt giảm.Nhật bản trong năm 2008 sản lượng công nghiệp giảm tới 8,1%, lợi nhuậncác công ty giảm mạnh và tỷ lệ thất nghiệp đã tăng them 3,9% Theo báo cáo củaChính phủ Nhật, xuất khẩu tháng 11/2008 so với cùng kỳ năm 2007 giảm 26,7%trong đó xuất khẩu xe hơi giảm 32% Ngoài ra, sự lên giá mạnh của đồng Yên sovới USD cũng gây áp lực không nhỏ cho các nhà xuất khẩu của Nhật Nguyênnhân là do giới đầu tư Nhật Bản ồ ạt rút vốn về nước vì lo ngại khủng hoảng tàichính ở các thị trường bên ngoài đã đẩy đồng Yên tăng 25% so với USD

Tại Hàn Quốc, theo thông tin tài chính quốc tế Hàn Quốc (KCIF), từ tháng

6 đến tháng 9/2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã rút 15 tỷ USD ra khỏi thịtrường chứng khoán Hàn Quốc Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại các thịtrường chứng khoán lướn trong khu vực như: Đài Loan, Philippin, Thái Lan, Ấn

độ, Indonexia

1.2.2 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế hiện nay

Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luậnsôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống

Trang 15

nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tối bên trong(nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh).

Một số nguyên nhân có thể dẫn đến suy thoái kinh tế:

Thứ nhất, sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, các khoản cho vay

dưới chuẩn Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng vàtrả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, một số sự liên kết rất chặtchẽ giữa tình hình lãi suất và tình hình của thị trường bất động sản Khi lãi suấtthấp và dễ vay mượn được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tíndụng bất động thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm chobong bóng nhà đất hình thành, đảy giá nhà xuống thấp Kahi nền kinh tế đixuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi rotín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất độngsản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sảncàng tăng làm cho giá bất động sản càng giảm điều này có nghĩa giá trị tài sảnđảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng Vòng xoáy khủnghoảng cứ tiếp tục vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàngđầu tư mặc dù không nắm gữi toàn bộ rui ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếpduy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả làhàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh

Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ.

Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của các thị trường các công cụphái sinh như CDS có mức đọ ảnh hưởng còn lớn hơn sự đổ vỡ của bong bóngnhà đất rất nhiều Trong cho vay nhà đất lẫn trong thị trường nợ việc dùng đònbẩy tài chính là hết sức quan trọng Một doanh nghiệp có thể đi vay ba nếu cóvốn riêng là một, như vậy được gọi là sử dụng đòn bẩy bằng ba lần Các doanhnghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực nếu có đòn bẩy tài chính không lớn hơn

ba thì được coi là bình thường Với hình thức này, trong trường hợp rủi ro người

đi vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên và khi đòn bẩy càng cao thì tức là rủi ro càng lớn.Khi cho vay, các ngân hàng thường chú ý tới hệ số đòn bẩy nảy bởi vì nếu hệ sốđòn bẩy quá cao, thì khi có lãi người vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân hàng gánhchịu Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao hơn, có khilên tới hàng trăm lần do các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính không cóquy định nghiêm ngặt về vấn đề này

Thứ ba: Thiếu cơ chế giảm sát chặt chẽ.

Trang 16

Các ngân hàng thương mại chiệu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhànước, còn các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu giám sát ít hơn Các

cơ quan quản lý lỏng lẻo, không theo kiệp hoạt động của tất cả các tổ chức tàichính ngân hàng dẫn đến những rủi ro không lường Có tiền, các công ty “thoảimái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông quaviệc mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàng này, trên cơ

sở các danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vay tiền.Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tàichính sang ngân hàng đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mà các chứngkhóan này, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thịtrường bất động sản ở Mỹ tăng nóng

Thứ tư: Khủng hoảng niềm tin.

Theo giáo sư Joseph Stiglitz, trường Đại học tổng hợp Colombia, ngườidành được Giả thưởng Nobel kinh tế năm 2001, thì cuộc khủng hoảng bắt nguồn

từ sự sụp đổ thảm khốc niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ chovay cũng như tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro vàche giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Thị trường tài chínhxoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó nếu bị xuống cấp sẽ làmgiảm tổng cầu, gây ra sự sụt giảm tổng sản phẩm quốc dân

1.2.3 Lý thuyết về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.3.1 Mục tiêu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, tuy nhiên

đi kèm mục tiêu kinh tế, hoạt động của doanh nghiệp còn hướng tới những mụctiêu xã hội nhất định Định rõ mục tiêu là điều quan trọng trong thành công của

tổ chức vì chúng định rõ hướng đi, cho thấy những ưu tiên, những sự hợp tác cầnthiết, là cơ sở cho việc lập kế hoạch và hoạt động có hiệu quả Mục tiêu nên đặt

ra cao hơn mức đã đạt được trong quá khứ, rỏ ràng, hợp lý, phù hợp với điều kiệnbên trong và bên ngoài của công ty Các mục tiêu dài hạn là cơ sở định hướngquan trọng của việc hình thành các chiến lược Dài hạn có nghĩa là trên một năm,trong khi đó các mục tiêu ngắn hạn (hàng năm) đặc biệt quan trọng trong việcthực hiện các chiến lược Đó là cơ sở để doanh nghiệp tính toán phân bố cácnguồn lực Trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận Các mục tiêu được thiết lậpcho toàn công ty và cho mỗi bộ phận

Trang 17

1.2.3.2 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiện trạng môi trường kinh tế vĩ mô quyết định sức mạnh và tiềm lực củanền kinh tế Điều này sẽ có tác dụng đến khả năng tìm kiếm được lợi nhuận củacông ty Các chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng là:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: có ảnh hưởng trực tiếp tốc độ của những cơ hội

và mối đe dọa mà công ty đang phải đối mặt Tăng trưởng kinh tế cao đưa đếnkhả năng tiêu dùng cao hơn, vì thế mà giảm bớt áp lực cạnh tranh cho cong ty.Ngược lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp sẽ làm giảm việc tiêu dùng tăng áp ực

về cạnh tranh, đe dọa đến lợi nhuận của doanh nghiệp, diều này dẫn đến chiếntranh về giá giữa các doanh nghiệp

Lãi suất: mức độ về tỷ lệ lãi suất quyết định mức độ nhu cầu đối với các sảnphẩm của doanh nghiệp, bởi vì nó sẽ là quan trọng trường hợp người tiêu dùng đivay tiền để mua sản phẩm (ví dụ mua nhà, mua ô tô…) Thêm vào đó tỷ lệ lãisuất sẽ có ảnh hưởng tới chi phí vốn cho việc đầu tư của công ty, và chi phí này

là một yếu tố quan trọng để quyết định xem chiến lược đầu tư có khả thi haykhông (dự báo lãi suất thấp: nên đầu từ và ngược lại)

Các chính sách của nhà nước: trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các chínhsách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát được ưu tiên hơn là tăng trưởngkinh tế Nhà nước sẽ ban hành các chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, các góikích cầu… để hạn chế tác động của suy thoái kinh tế và doanh nghiệp là đốitượng trực tiếp ảnh hưởng bởi các chính sách này

Tỷ giá: một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của quan hệ tỉ giá

là xuất nhập khẩu Nếu đồng nội tế mất giá có tác động kích thích xuất khẩu, hạnchế nhập khẩu và ngược lại Hầu hết các nước trên thế giới để thoát khỏi khủnghoảng kinh tế ngoài việc dựng lên những rào cản bảo hộ sản xuất trong nướcthường chủ trương duy trì đông tiền yếu để tăng lợi thế xuất khẩu, thúc đẩy sảnxuất

Biến động giá cả: khi giá cả các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất như giánguyên vật liệu, giá nhiên liệu, giá thuê lao động tăng sẽ kéo theo rất nhiều chiphí của doanh nghiệp tăng theo Kể cả các doanh nghiệp không sản xuất cũng bịảnh hưởng không nhỏ bơi chi phí cho vận chuyển, chi phí thuê nhân công tăng…trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế, doanh nghiệp cần dự báo được tình hình biết

Trang 18

động của giá cả để có các chính sách ứng phó phù hợp như cắt giảm chi phí, đadạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, thay đổi cơ cấu sản xuất…

1.2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt độngkinh doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanhnghiệp với nhau và so sánh trong doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét cácthời kỳ doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả cao hơn hay không

Doanh thu: đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Nhưng doanh thu cao chưa hẳn là doanh nghiệp đã kinh doanh có hiệuquả mà tính hiệu quả phải được đánh giá dựa trên lợi nhuận mà doanh nghiệp thuđược

Lợi nhuận: doanh nghiệp có lợi nhuận thu được trong kỳ càng cao thì chứng

tỏ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả

Sản lượng bán và giá bán: sản lượng bán và giá bán ảnh hưởng trực tiếp đếndoanh thu của doanh nghiệp Một trong hai yếu tố này giảm đều dẫn đến giảmdoanh thu và ngược lại

Chi phí kinh doanh: tổng tất cả các chi phí để duy trì hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp như: Chi phí thuê nhân công, thuê nhà xưởng, máy móc, chiphí quảng cáo, PR…chi phí càng thấp thì doanh nghiệp càng tăng được lợi nhuậnbởi vậy doanh nghiệp nào cũng cố gắng duy trì chi phí ở mức tối thiểu

Chỉ tiêu lợi nhuận theo chi phí: tỷ xuất lợi nhuận theo chi phí = lợi nhuậntrong kỳ/Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ x 100

Chỉ tiêu này phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất

Nó cho thấy với một đồng chii phí tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Chỉ tiêu này cóhiệu quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí

1.3 NỘI DUNG VÀ NGUYÊN LÝ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ ẢNH

HƯỞNG CỦA SUY THOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.

1.3.1 Ảnh hưởng của suy thoái đến hoạt động của doanh nghiệp

1.3.1.1 Ảnh hưởng đối với đầu vào của doanh nghiệp.

Trang 19

Ảnh hưởng đến vốn của công ty

Điểm yếu lớn nhất hiện nay và có ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp chính là vấn đề nguồn vốn Nền kinh tế và cácdoanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào vốn vay từ hệ thống tíndụng ngân hàng Trong khi đó cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng cònnhiều rủi ro, chủ yếu là sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn,hoạc vốn huy động từ khách hàng đối với các dự án bất động sản, do đó thiếu hụtnguồn vốn trung và dài hạn ổn định cho nền kinh tế Khi nảy ra suy thoái kinh tếtức tổng sản lượng quốc gia giảm, tính lũy của nền kinh tế giảm dẫn đến lượngvốn tái đầu tư cũng giảm Mặt khác, do niềm tin của người dân sụt giảm nên họchạn chế gửi tiền, vốn huy động từ tiền gửi của dân từ đó cũng giảm Các ngânhàng hạn chế cho vay nên doanh nghiệp rất khó khăn để vay vốn kinh doanh.Hơn nữa, trong bối cản suy thoái kinh tế thì chính sách tiền tệ sẽ chưa đượcnới lỏng trong ngắn hạn do chính phủ phải ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô, cộng với việc hệ thống ngân hàng đang đối mặt với nhiều khókhăn do đó sẽ thắt chặt vốn tín dụng hơn, thị trường chứng khoán và bất động sảntrì trệ kéo dài sẽ dẫn đến một thực tế là các doanh nghiệp sẽ ngày càng khó khănhơn về việc tìm nguồn vốn trong thời gian tới

Ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

Nếu suy thoái kinh tế xuất phát từ nguyên nhân tổng cung tăng sẽ dẫn đến

sự sụt giảm lượng và đẩy giá lên cao Đặc biệt là ngành dệt may gặp khá nhiềukhó khăn khi giá nhập khẩu các nguyên phụ liệu tăng Trong khi để duy trì sảnlượng bán, doanh nghiệp có thể tăng giá khi sức mua ngày càng sụt giảm

Bên cạnh đó giá điện, giá xăng dầu, giá nhập khẩu máy móc…đều tăngkhiến chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng tăng nhanh hơn giá thành sảnphẩm, làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả

Giải quyết vấn đề chi phí thực sự là bài toán hóc bua với doanh nghiệp, cácdoanh nghiệp thường chọn ra giải pháp thay đổi cơ cấu sản xuất, cắt giảm các chiphí có thể để tập trung vào mục tiêu duy trì lợi nhuận

Nếu suy thoái kinh tế xuất phát từ nguyên nhân tổng cầu giảm sẽ làm giảmgiá thành, tuy không phải luôn dẫn đến tăng chi phí nhưng lúc này nếu giá cácyếu tố đầu vào chỉ giảm ít thì doanh nghiệp phải đứng trước lựa chọn có nên

Trang 20

giảm giá sản phẩm đầu ra hay không và phải giảm bao nhiêu để vẫn đảm bảo tínhcạnh tranh cho sản phẩm.

1.3.1.2 Ảnh hưởng đến đầu ra của doanh nghiệp.

Thị trườn tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sức mua của khu vực tư nhân giảm, nhànước cũng cắt giảm chi tiêu, khiến thị trường của doanh nghiệp ngày càng thuhẹp Người dân giảm bớt nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng như nhu cầu đầu tư domất niềm tin, và hậu quả là tổng cầu giảm sút; tồn kho của nền kinh tế tăng cao,các doanh nghiệp không tiêu thụ được đầu ra, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ.Đối với vấn đề này, doanh nghiệp cần áp dụng các chính sách đa dạng hóa sảnphẩm, đa dạng hóa thị trường để duy trì sản lượng tiêu thụ

Doanh số bán hàng

Suy thoái kinh tế làm cho mức tiêu thụ các sản phẩm của công ty giảm làmcho doanh số bán hàng giảm, mặt khác việc cắt giảm chi tiêu trong thời kì nàycũng làm cho doanh nghiệp khó bán được hàng dẫn đến lượng hàng tiêu thụ kém

Ảnh hưởng đến tổng doanh thu.

Khi mà doanh số bán hàng giảm, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp tất yếu sẽdẫn đến tổng doanh thu của doanh nghiệp sẽ giảm, điều này tác động trực tiếpđến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, hiện tại cũng như tương lai củadoanh nghiệp

1.3.1.3 Ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Lợi nhuận thì bằng khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra Vìvậy hai yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận chính là doanh thu và chi phí.Khi bị tác động của suy thoái kinh tế khiến cho giá các yếu tố đầu vào tăngcao, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuât hay giá thành sản phẩm đầu

ra Giá thành sản phẩm, dịch vụ đầu ra tăng lên làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ,khả năng làm giảm doanh thu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ là rất lớn Lạm phát làmcho giá trị thực của các tài sản khấu hao nhiều hơn, phải nộp thuế thu nhập doanhnghiệp cao hơn khiến lợi nhuận giảm sút

Như vậy là khi bị tác động của suy thoái kinh tế thì chi phí sản xuất, chi phícho các yếu tố đầu vào thì tăng lên trong khi doanh thu không tăng hoặc tốc độ

Trang 21

tăng không bằng với tốc độ tăng của chi phí bỏ ra dẫn đến lợi nhuận của DNgiảm xuống.

1.3.2 Nguyên lý giải quyết vấn đề ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.2.1 Giải quyết vấn đề đầu vào.

Huy động vốn thông qua việc phát hành các công cụ tài chính: Cổ phiếu,trái phiếu doanh nghiệp trong và ngoài nước

Tăng cường quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hơn, để tránh lãng phí vàtiết kiệm được chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp

Cơ cấu lại sản phẩm đầu ra cho phù hợp với tình hình mới, cần nghiên cứu

và đanh giá lại nhu cầu thị hiếu của thị trường trong giai đoạn suy thoái kinh tế từ

đó đưa ra chiến lược phát triển dòng sản phẩm cho phù hợp với hiện tại và trongthời gian sắp tới sẽ giúp doanh nghiệp tiêu thụ hàng nhanh và xoay vòng đượcvốn

Việc tạo dựng uy tín và mối quan hệ tín dụng tốt với các ngân hàng cũngcần được chú trọng Vì sẽ được ảnh hưởng các chính sách ưu đãi về hạn mức, lãisuất… đặc biệt trong thời kỳ khó khăn như hiện này, các ngân hàng cũng ưu tiênlựa chọn các doanh nghiệp tốt và uy tín để cấp tín dụng

Giải quyết vấn đề chi phí các yếu tố đầu vào

Khi công ty chiệu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thì chi phí yếu tố đầuvào sẽ tăng lên làm cho công ty phải tăng chi phí với các yếu tố đầu vào với cùngmột lượng hàng, bởi vậy công ty cần có những biện phá làm giảm chi phí xuốngmức thấp nhất để giảm giá bán tiêu thụ sản phẩm cho người tiêu dùng

1.3.2.2 Giải quyết vấn đề các yếu tố đầu ra.

Tìm cách giảm chi phí để giảm giá bán.

Trang 22

Để tồn tại được trong thời kỳ suy thoái, công ty cần phải có chiến lược tái

cơ cấu và mạnh dạn thay đổi Trong đó cần:

Sắp xếp và phân bổ lại các nguồn lực của doanh nghiệp, điều chỉnh quy mô,chiến lược kinh doanh, dòng sản phẩm cho phù hợp với sự thay đổi và thích nghivới nhu cầu hiện tại của thị trường để tồn tại

Đánh giá lại hiệu quả hoạt động các phòng ban, công ty con, công ty liêndoanh liên kết… từ đó có chiến lược tái cơ cấu và sắp xếp bộ máy hiệu quả hơn,mạnh tay cắt giảm các bộ phận hoạt động không hiệu quả, sẵn sàng thoái vốn,tiết giảm chi chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tiếtkiệm chi phí, tập trung vốn để duy trì sự hoạt động trong giai đoạn khó khăn vàtích lũy nguồn lực để phát triển trong thời kỳ hậu khủng hoảng

Áp dụng các giải pháp quản lý bằng công nghệ hiện đại, các phần mềmquản trị chất lượng cao để nâng cao hiệu quả quả lý: phần mềm ERP, Internet,LAN…

Tìm cách giải quyết hàng tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng hàng làm chậmquá trình xoay vòng vốn, hư hỏng hàng hóa…

Đa dạng hóa thị trường.

Trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp có thể không đủ tiềm lực để mở rộngthị trường, thay vào đó có thể tập trung phát triển các phân khúc thị trường tiềmnăng nhất, tránh đầu tư dàn trải gây mất hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp cũng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, hướng đếnnhững đối tượng ngoài tập khách hàng mục tiêu để tăng khả năng tiêu thụ sảnphẩm

Đa dạng hóa sản phẩm.

Thay đổi cơ cấu sản phẩm cũng là một giải pháp tăng sức tiêu thụ chodoanh nghiệp Nghiên cứu những mẫu mã mới, nắm bắt xu hướng của thị trường

để tung ra các loại sản phẩm kích thích nhu cầu của khách hàng

Đông thời doanh nghiệp cũng cần xây dựng chiến lược marketing và địnhhướng phát triển thương hiệu, uy tín, sản phẩm của công ty Duy trì và phát triểnthương hiệu bằng cách tham gia các hoạt động vì cộng đồng, xã hội, lập bộ phân

Trang 23

phòng ban chuyên về quản trị thương hiệu, quảng bá hình ảnh của công ty sửdụng sức mạnh truyền thông…

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TMT.

2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN Ô TÔ TMT.

2.1.1 Tổng quan tình hình suy thoái kinh tế và hệ lụy của suy thoái kinh tế thế giới những năm gần đây

Thứ nhất, kinh tế thế giới vẫn nhiều mây đen và bão táp.

Theo IMF và tất cả các tổ chức đánh giá tín dụng nhiệm kinh tế hàng đầuthế giới như Citigruop, Fitch, GoldmanSachs đều đồng loạt hạ mức dự báo tăngtrưởng kinh tế thế giới năm 2013 Ngay các nền kinh tế mới nỗi như Trung Quốc,Nga, Brazil đều tăng trưởng GDP 2013 thấp hơn 2012 Cụ thể là, Trung Quốctăng trưởng GDP năm 2013 đạt 7,7% thấp hơn 2012 là 7,8%, còn tăng trưởngGDP của Nga trong năm 2012 chỉ đạt 3,4% - mức thấp nhất ghi nhận được kể từkhi diễn ra cuộc khũng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2009

Tăng trưởng kinh tế thế giới 2013 không chỉ thấp hơn mà còn đối mặt vớinhiều vấn đề rủi ro như:

 Khủng hoảng nợ công nghiêm trọng nhất là ở Châu Âu, cả ở nước Mỹ,Nhật bản Mức nợ công ở Mỹ đã bằng khoảng 100% GDP, các nước khu vực sửdụng đồng tiền chung Euro đã vượt qua ngưỡng 100% GDP có nước đã tới 200%GDP và đứng trước nguy cơ vỡ nợ cần cứu trợ, Nhật Bản – 200% GDP Ở cácnước BRIC mức gia tăng nợ công cũng khá cao

 Thâm hụt ngân sách cao, các nước Châu Âu, Mỹ, Nhật đề rơi vào tìnhtrạng này, mức thâm hụt ngân sách đã vượt quá xa ngưỡng 5% - mức an toàn Ở

Mỹ mức thâm hụt ngân sách đã đạt xấp xi 10%, Nhiều nước Châu Âu đã vượtqua mức này

 Tỷ lệ thất nghiệp khá cao ở Mỹ đã vào khoảng 9 – 10%, ở các nướcChâu Âu từ 10% đến 20% Theo “báo cáo năm 2011 về việc làm và phát triển xãhội” của ủy ban Châu âu, thì cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến 6 triệu ngườiChâu Âu mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp dài hạn hiện chiếm 40% số người không

có việc làm và chắc chắn con số này sẽ cao hơn nhiều trong năm 2014 Tỷ lệ thất

Trang 24

nghiệp trong EU đã vượt 25% tại 10 trong 27 quốc gia thành viên của EU, trong

đó tỷ lệ thất nghiệp tại Tay Ban Nha là 50% Ảnh hưởng nghiêm trọng nhất củacuộc khủng hoảng là “sự hủy duyệt hàng loạt”, việc làm đối với những ngườihưởng lương trong lĩnh vực công nghiệp và chế tạo, xây dựng Hệ quả của tìnhtrạng mất việc làm là gia tăng sự phân cực xã hội, gia tăng số người nghèo Năm

2000 EU có 114 triệu người, chiếm ¼ dân số khu vực đang đối mặt với nguy cơnghèo khổ và bị gạt ra ngoài lề xã hội Trong bối cảnh đó những người nhập cưngày càng khốn khổ hơn Số người thất nghiệp tăng mạnh, thu nhập của họkhông có, do vậy nhu cầu của nền kinh tế sẽ bị giảm sụt – lại là một vòng xoáylàm cho khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng hơn

Thứ hai, Hệ lụy của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 – 2008 vẫn còn

nghiêm trọng và kéo dài

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 – 2008 đã được xem lànghiêm trọng nhất định từ cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933 Đối phó với cuộckhủng hoảng này các ngân hàng Trung ương và các Chính phủ từ Đông sang Tâyđều đã ào ạt đổ ra hàng chục tỷ USD để chống đỡ với các gọi cứu trợ liên tục.Nhưng cứ tiêu hết gói cứu trợ, thì nền kinh tế lại có nguy cơ suy thoái, các ngânhàng Trung ương và các Chính phủ phải bơm them tiền Một câu hỏi được đặt ra

là liệu tiền có thể cứu được nền kinh tế khỏi khủng hoảng hay không? Có thẻkhẳng định là hàng ngàn tỷ USD đã được tung ra, đã tạm thời ngưng được chiềuhướng suy thoái kinh tế, nhưng chắc chắn không thể chấm dứt được cuộc khủnghoảng này Lý do là cuộc khủng hoảng này có nguyên nhân sau xa từ kết cấu vàthể chế của nền kinh tế toàn cầu Cho đến nay nền kinh tế toàn cầu về cơ bản dựatrên nền tảng công nghệ cơ điện tử - tiêu hao các nguồn tài nguyên không tái tạo,gây ô nhiểm môi trường… Các nguồn tài nguyên không tái chế này càng ngàycàng cạn kiệt dần, chi phí khai thác ngày càng tăng, nhu cầu ngày càng lớn (dotốc đọ tăng trưởng các nước đang phát triển cao hơn), do vậy giá cũng càng giatăng Ô nhiễm môi trường cả nguồn nước và không khí ngày càng nghiêm trọngđang làm trái đất nóng lên, dẫn đến biến đổi khí hậu… đe dọa sự tổn vong củatrái đất

Người ta đã kỳ vọng vào những thành quả của cách mạng khoa học – kỹthuật để giải quyết những vấn đề bức bách trên Nhưng cho đến nay những thành

tự của khoa học – công nghệ dù đã được đánh giá là to lớn, kỳ diệu, nhưng nhânloại vẫn chưa tìm được những nguồn nguyên liệu mới thay thế cho những nguyênliệu không tái tạo và đang cạn kiệt Cuộc cách mạng xanh cũng mới đạt đượcnhững kết quả đang còn hạn chế Nhưng năng lượng hạt nhân vẫn còn chưa đạt

Trang 25

chuẩn an toàn Công nghệ Nano mới có những ứng dụng hạn chế Công nghệbiến đổi gen vẫn còn những hoài nghi về những hệ lụy của nó… Nhân tố tiến bọcông nghệ có thể tạo ra sự thu bứt phá về năng suất hiện chưa xuất hiện rỏ nét.Đây là lý do rất cơ bản làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào thời kỳ trì trệ.

Không chỉ có ly do về tiến bộ công nghệ, mà còn có lý do về thể chế củacác quốc gia cũng như thể chế toàn cầu cũng đang có nhiều bất cập Những bấtcập nổi bật là toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnhvực, nhung hầu như chưa có các bộ máy điều tiết toàn cầu, đặc biệt là về kinh tế

và hệ quả là những mất cân bằng kinh tế toàn cầu không xữ lý được, thể chế củacác quốc gia cũng rất chậm được đổi mới, đặc biệt là phúc lợi xã hội ngày càngbành trướng vượt quá khả năng tài chính của các chính phủ, cơ chế điều tiết kinh

tế của các chính phủ cũng bất cập làm cho các chính phủ hầu như bất lực trướccác cuộc khủng hoảng đnag biến phức tạp hiện nay

Những vấn đề căn bản về khoa học – công nghệ, về thể chế trên đây nếuchưa được giải quyết, thì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay sẽ còn cóthể kéo giài có khả năng kết thúc trong một hai năm trước mắt

2.1.2 Tổng quan tình hình nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây

Trong những năm gần đây cùng sự suy thoái kinh tế thế giới nền kinh tếViệt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn, rất nhiều công ty làm ăn thu lổ, khôngnhững thế có nhiều công ty, doanh nghiệp đã phải phá sản Trước tình hình đónhà nước đã ban hành các quyết định hay các thông tư nhằm ổn định nền kinh tế,đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khó khăn

Những thay đổi của tình hình kinh tế trong và ngoài nước đã làm cho cácmục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch kinh tế - xã hội chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2011-

2015 trở nên khá cao Các mục tiêu, nhiệm vụ này được Đại hội XI của Đảng(tháng 1/2011) thông qua, được tính toán trên cơ sở kế thừa những thành tựu củaviệc thực hiện các mục tiêu chiến lược 10 năm trước đó và những dự báo về bốicảnh tình hình trong nước và quốc tế lúc đó có nhiều điều kiện tương đối thuậnlợi Ở trong nước, những kinh nghiệm tích lũy được sau hơn 20 năm đổi mới đãbảo đảm kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng kinh tế khá (bình quân đạt7,3% thời kỳ 2001-2010), GDP năm 2010 gấp 2 lần năm 2000, nước ta đã ra khỏitình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèogiảm nhanh và đã hoàn thành hầu hết mục tiêu Thiên niên kỷ cam kết với quốc

tế, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững

Thế nhưng, ngay sau khi Đại hội XI bế mạc (19/1/2011), tình hình kinh tế

đã nhanh chóng xuất hiện những dấu hiệu bất ổn Những yếu kém vốn có của nền

Trang 26

kinh tế cùng những nhiệm vụ của đổi mới thể chế chưa được giải quyết dồn tíchlại từ nhiều năm trước đã bộc lộ ra một cách gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyếtmột cách hệ thống, căn bản và cấp bách Trên bề mặt của đời sống kinh tế, chỉ sốgiá tiêu dùng của năm 2011 đã tăng lên 1,5 lần so với mức lạm phát của nămtrước (từ mức 11,75% của năm 2010 lên 18,13%) Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu có xuhướng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, trực tiếp gây ra tình trạngrủi ro, bất ổn đe dọa hệ thống ngân hàng Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừnghoạt động tăng cao hơn trước… Kinh tế thế giới cũng xuất hiện nhiều diễn biếnxấu, lạm phát tăng, giá dầu thô, nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất,lương thực, thực phẩm trên thị trường tiếp tục tăng cao Sau khủng hoảng tàichính ở Mỹ năm 2008, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo.

Trước tình hình thực tế như vậy, phản ứng trong chính sách điều hành kinh

tế cũng đã rất nhanh nhạy, kịp thời Ngay trong tháng 2/2011, Chính phủ đã raNghị quyết số 11/NQ-CP, chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trungkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội” Quan điểmchỉ đạo này được khẳng định tại Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của BộChính trị là: “Tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát; ổn địnhkinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội; coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắnhạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo” Hộinghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI (10/2011) đánh giácác giải pháp, chính sách này là ”đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của đấtnước” và xác định: “Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, tiếp tục ưu tiênhàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh

xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế”

Trên tinh thần chỉ đạo này, trong 3 năm qua, kết quả thực hiện các nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội về đại thể như sau:

Về nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

Ba năm qua, nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ápdụng đồng bộ các biện pháp, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm đã giảm từ mức18,13% năm 2011 xuống 9,21% năm 2012 và năm 2013 lạm phát ở mức khoảng6,04% Mặt bằng lãi suất huy động đã giảm từ mức 17%-18% của năm 2011xuống còn 7%-10%/năm, mặt bằng lãi suất cho vay giảm còn 9%-12%/năm, hiệnlãi suất cho vay khoảng 9%-11,5% (các lĩnh vực ưu tiên là 7%-9%), đã tạo điềukiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn từ ngân hàng Bội chingân sách, nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia theo cách đánhgiá của Việt Nam vẫn trong giới hạn kiểm soát Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước

Trang 27

ngoài (FDI) vẫn có xu hướng tăng lên; năm 2011, số vốn đăng ký là 15,6 tỷUSD, vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD; các con số tương ứng của năm 2012 là 16,3

tỷ USD và 10,1 tỷ USD; năm 2013 là 21,6 tỷ USD và 11,5 tỷ USD

Về tăng trưởng kinh tế

Theo giá so sánh năm 2010, GDP năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng5,25% và năm 2013 tăng 5,42% Bình quân 3 năm, GDP tăng 5,6%/năm Tuychưa đạt kế hoạch đề ra ban đầu cũng như chỉ tiêu đã điều chỉnh, song đây làmức tăng có thể chấp nhận được và có phần cao hơn chút ít so với mức bình quâncủa các nước ASEAN (5,1%/năm trong thời kỳ 2011-2013, theo IMF) Tuynhiên, điều rất lo ngại là, khu vực sản xuất vật chất có xu hướng giảm dần tốc độtăng trưởng (Bảng 1)

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013

Về nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Do đây là nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch 5 năm 2011-2015, vừa có ýnghĩa cấp bách trước mắt, lại vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài, nên 3 năm qua,Chính phủ đã tập trung chỉ đạo việc hoàn thiện thể chế, chính sách và quy địnhpháp luật phục vụ cho tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Đối với tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công, Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Chỉ thị 1792/CT-TTg, ngày 15/10/2011 về tăng cường quản lý đầu

tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ; Chỉ thị số 27/CT-TTg,ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xâydựng cơ bản tại các địa phương; Chỉ thị số 14/CT-TTg, ngày 28/6/2013 về tăngcường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhànước, trái phiếu chính phủ Trên thực tế, tái cơ cấu đầu tư công là một bước đột

Ngày đăng: 26/04/2014, 21:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Hình 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa (Trang 9)
Hình 1.2 Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Hình 1.2 Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa (Trang 9)
Hình  1.4 Suy  thoái hình   chữ  L,  như trường  hợp Thập kỷ  mất mát - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
nh 1.4 Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Trang 10)
Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013 - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Bảng 1 Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013 (Trang 27)
Bảng 3  : Sản phẩm tiêu thụ Công ty CP ô tô TMT theo trọng tải qua các năm 2011-2013 - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Bảng 3 : Sản phẩm tiêu thụ Công ty CP ô tô TMT theo trọng tải qua các năm 2011-2013 (Trang 29)
Bảng 2  : Sản phẩm tiêu thụ Công ty CP ô tô TMT theo kiểu xe qua các năm 2011-2013 - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Bảng 2 : Sản phẩm tiêu thụ Công ty CP ô tô TMT theo kiểu xe qua các năm 2011-2013 (Trang 29)
Bảng 4 : Kết quả kinh doanh của Công ty qua các năm 2011-2013 - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Bảng 4 Kết quả kinh doanh của Công ty qua các năm 2011-2013 (Trang 31)
Bảng 5: Đơn giá trung bình của các mặt hàng chính của công ty giai đoạn 2011 – 2013. - Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tình hình kinh doanh ô tô của Công ty cổ phần ô tô TMT
Bảng 5 Đơn giá trung bình của các mặt hàng chính của công ty giai đoạn 2011 – 2013 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w