0 UỶ BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI – ƯU ĐIỂM & NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC NHÓM 9 Phạm Thị Hoài Linh 31213[.]
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN - -
CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI – ƯU ĐIỂM & NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC
NHÓM: 9
Phạm Thị Hoài Linh 3121320174 Trịnh Khánh Linh 3121320183 Nông Thị Phương Loan 3121330199 Nguyễn Thị Mai 3121420210
Trần La Tuệ Mẫn 3121330212
TP.HCM, THÁNG 11 NĂM 2022
MÔN : PHÁP LUẬT KINH DOANH (867003)
Trang 2Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU _ 2
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH _ 3 Khái niệm 3 Đặc điểm 3
II CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH 3
1 PHƯƠNG THỨC THƯƠNG LƯỢNG _ 3 Khái niệm phương thức thương lượng _ 3 Đăc điểm của phương thức thương lượng _ 4 Các hình thức thương lượng 5
Ưu điểm _ 5 Nhược điểm 6 Thực tiễn 6 2.PHƯƠNG THỨC TOÀ ÁN 7 Khái niệm phương thức Toà án _ 7 Đặc điểm phương thức Toà án _ 7 Hình thức của phương thức Toà án 8 Thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Việt Nam _ 8
Ưu điểm 10 Nhược điểm _ 10 3.PHƯƠNG THỨC HOÀ GIẢI 11 Khái niệm phương thức Hoà giải _ 11 Đặc điểm phương thức Hoà giải 11 Quy định pháp luật 11 Phạm vi,nguyên tắc và điều kiện giải quyết _ 12 Quy trình hoà giải _ 12
Ưu điểm 13 Nhược điểm _ 13 4.PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 13 Khái niệm của phương thức Trọng tài thương mại 13 Hình thức của trọng tài thương mại _ 14 Đặc điểm của phương thức Trọng tài thương mại _ 15 Nguyên tắc giải quyết _ 15
• Thẩm quyền của trọng tài _ 17
• Thời hiệu khởi kiện 17
• Thỏa thuận trọng tài vô hiệu _ 17
• Trình tự giải quyết tranh chấp qua trọng tài thương mại 18
Ưu và nhược điểm của trọng tài thương mại _ 18 KẾT LUẬN _ 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO _ 21
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam chúng ta đã mở cửa và đang đứng trước xu thế hội nhập, giao thương với các cường quốc kinh tế trên thế giới Điều đó đã mở ra nhiều cơ hội, thách thức cho nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước, dẫn đến việc các doanh nghiệp mới được thành lập trong thời kì này là một tất yếu, nhằm tìm kiếm cơ hội trong thời
kì đầu hội nhập
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế,các giao dịch kinh tế ngày càng tăng thì không thể tránh khỏi những tranh chấp vì lợi ích của chủ thể đôi bên Chính vì vậy nhóm 9 chúng em đã chọn đề tài “Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại – ưu nhược điểm của các phương thức” để làm chủ đề phân tích trong bài tiểu luận này
Bởi lẽ kiến thức về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là vô cùng cần thiết với bất
kì ai vì mỗi ai trong chúng ta đều sẽ thực hiện những giao dịch kinh tế trong hiện tại và
cả tương lai,việc có kiến thức về vấn đề giải quyết tranh chấp sẽ giúp chúng ta tránh những rủi ro không đáng có,nhằm đem lại lợi ích tối ưu nhất cho bản thân cũng như doanh nghiệp mà ta đứng ra đại diện
Trang 4I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
Khái niệm
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định rằng Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Dựa vào khái niệm trên có thể suy ra rằng tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng) giữa hai bên hợp tác với nhau về quyền, nghĩa vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại
1 PHƯƠNG THỨC THƯƠNG LƯỢNG
Đây là phương thức được các bên lựa chọn đầu tiên Và trong thực tế thì phần lớn các tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết bằng phương thức này Nhà nước
ta cũng khuyến khích các bên nên áp dụng phương thức thương lượng này trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên
Khái niệm phương thức thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tháo gỡ những bất đồng với nhau mà không cần đến sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba Đây là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức
tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên
Pháp luật về giải quyết tranh chấp không có quy định bắt buộc các bên phải tiến hành thương lượng Do đó, từ quy trình tổ chức, thực hiện, sự có mặt của các bên, quyền lợi
Trang 5cũng như nghĩa vụ của các chủ thể, kết quả thương lượng không hề có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật Tất cả đều phụ thuộc vào thiện chí tự giải quyết của các bên Trường hợp đạt được thỏa thuận trong cuộc họp thương lương, sau đó có một trong các bên không tuân thủ, các bên cũng không thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế Mặc dù vậy, phương thức thương lượng rất được các chủ thể ưu tiên lựa chọn ngay khi xảy ra tranh chấp, bởi phương thức này không chịu
sự điều chỉnh của pháp luật, không bị gò bó bởi các quy định chặt chẽ về quy trình tổ chức thương lượng, thành phần tham gia, thời gian thực hiện, cũng như không tốn kém tiền bạc Do sự tự giải quyết với nhau, nên tranh chấp không bị làm lớn, không ảnh hưởng đến uy tín của các bên Cũng bởi không có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật nên không có sự cưỡng chế thi hành đối với kết quả thương lượng
Đăc điểm của phương thức thương lượng
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế giải quyết
nội bộ (cơ chế tự giải quyết) thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết Điều kiện để thương lượng một tranh chấp
thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn: có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác
và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì
nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (Điều 14 luật đầu
tư năm 2020, luật đầu tư năm 2020, Điều 317 Luật Thương mại năm 2005) mà không
có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của
mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa hiệp với nhau theo trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không có sự tham gia hay can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước nào Việc thương lượng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián
Trang 6tiếp và kết hợp cả hai cách thức trên Mỗi một cách thức thương lượng có tính ưu việt
và hạn chế nhất định
Vì vậy, khi tiến hành thương lượng giải quyết những mâu thuẫn trong hanh chấp các bên cần có quan điểm, thái độ, ý chí, thiện chí và ý thức để giải quyết tốt những mâu thuẫn phát sinh tránh kéo dài hay bế tắc Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ
nỗ lực họp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, mục tiêu và kết quả thương lượng thường không đạt được Bên cạnh đó, kết quả thương lượng lại không được đảm bảo bằng các thiết chế mang tính quyền lực nhà nước do đó có thể dẫn tới sự lạm dụng trong quá trình giải quyết bằng thương lượng
Các hình thức thương lượng
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp
thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp
– Thương lượng trực tiếp là cách thức mà các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau bàn bạc, trao đổi và đề xuất ý kiến của mỗi bên nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp.Thông qua những cuộc đàm phán, tiếp xúc trực tiếp, các bên nhanh chóng hiểu biết được quan điểm, thái độ hợp tác và thiện chí của mỗi bên và có sự điều chỉnh thích ứng để ý chí của các bên sớm được gặp nhau nhằm tiến tới một giải pháp chung nhất có thể lựa chọn để giải quyết vụ tranh chấp
Khi quan điểm, thái độ và ý chí của các bên có sự cách biệt quá lớn, khó có thể đạt được sự thỏa thuận thì thông qua cách thức thương lượng trực tiếp, các bên tranh chấp
có thể nhanh chóng quyết định thay đổi phương thức giải quyết tranh chấp thích hợp nhằm hạn chế kéo dài vụ tranh chấp
– Thương lượng gián tiếp là cách thức các bên tranh chấp gửi cho nhau tài liệu giao dịch thể hiện quan điểm và yêu cầu của mình nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp
Khi sử dụng phương thức thương lượng gián tiếp, thông qua tài liệu, quan điểm, thái
độ và ý chí của mỗi bên thể hiện qua ngôn từ đã được trau chuốt, gọt rũa nên tính chặt chẽ, thuyết phục thường cao hơn và ít gây ức chế tâm lí cũng như thái độ thách thức của mỗi bên tranh chấp Tuy nhiên, khi các bên tranh chấp chưa có sự hiểu biết nhất định về nhau, quan điểm, thái độ và ý chí của các bên tranh chấp còn nhiều sự khác biệt sẽ dễ làm cho quá trình thương lượng bị kéo dài, thậm chí dễ dẫn đến bế tắc
Ưu điểm
Trang 7Từ những phân tích trên có thể thấy được phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng có những ưu điểm sau:
+ Xuất phát từ bản chất và đặc điểm của phương thức thương lượng có thể thấy rằng đây là phương thức rất thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên tham gia
+ Bởi phương thức này được thực hiện bằng cơ chế giải quyết nội bộ thông qua việc các bên tranh chấp bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng này nên it tốn kém về thời gian, về tiền bạc và đảm bảo bí mật kinh doanh cho các bên
+ Thêm vào đó, cách giải quyết này không rằng buộc bằng những thủ tục pháp lý phức tạp, do pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại việc ghi nhận đây là một phương thức giải quyết thương mại chứ chưa có quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết
và các bên trong quá trình giao kết hợp đồng có thêm sự hiểu biết lẫn nhau tăng cường mối quan hệ do đó Ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên Không gây tác động xấu trong kinh doanh, quan hệ hai bên vẫn cũng có khi thương lượng xong
Nhược điểm
Bên cạnh đó cũng có những nhược điểm như :
+ Phương thức thương lượng chỉ thích hợp đối với hai bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp Nếu có bên muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn
+ Phương thức giải quyết khép kín, không công khai có dễi nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật
+ Pháp luật chưa quy định cụ thể giai đoạn thương lượng Cuộc thương lượng có thành công hay không đều phụ thuộc vào thiện chí, thái độ của các bên tham gia và kết quả của cuộc thương lượng phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên có nghĩa vụ thi hành bởi lẽ phương thức này vẫn chỉ mang tính tùy nghi, không chính thức
Thực tiễn
Công ty A ký hợp đồng cung cấp cho Công ty B 100 máy tính với thời hạn giao hàng
là 30 ngày kể từ ngày Bên B hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Bên A, sau đó vì lý
do đối tác Công ty A không cung cấp được đủ hàng cho Công ty A dẫn đến Công ty A mới chỉ giao được cho Công ty B 20 máy tính dẫn đến Công ty B không thực hiện được công việc của mình, Công ty B có công vắn yêu cầu Công ty B bồi thường thiệt hại do việc cung cấp máy tính không đúng số lượng ghi trong hợp đồng với số tiền là
200 triệu đồng, nếu không sẽ khởi kiện Công ty B sẽ khởi kiện Công ty A ra tòa, sau
đó Công ty A có đề nghị gặp mặt công ty B để hai bên thương lượng giảm chi phí bồi thường thiệt hại
Trang 82.PHƯƠNG THỨC TOÀ ÁN
Khái niệm phương thức Toà án
Là một phương thức mang ý chí quyền lực nhà nước Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Quyết định của tòa án có hiệu lực khiến các bên bắt buộc phải thực thi; và có thể kèm theo các biện pháp cưỡng chế thi hành Bản chất đó được thể hiện thông qua các đặc điểm sau: + Tòa án nhân dân cho Nhà nước, thực thi và áp dụng pháp luật, xử lý mọi trường hợp
vi phạm theo luật định Vì vậy, Tòa án có tính cưỡng chế cao
+ Việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức cũng như các quy định về thẩm quyền, thủ tục, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của pháp luật tố tụng nhất là các quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
+ Tòa án giải quyết tranh chấp không áp dụng hình thức xử kín như hòa giải, trọng tài,…mà theo nguyên tắc xét xử công khai
+ Việc giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo thủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
+ Tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Đặc điểm phương thức Toà án
- Được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng, hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thoả thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài
- Đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng toà án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết
- Phạm vi và thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh được pháp luật các nước quy định khác nhau
-Thẩm quyền của các cơ quan tài phán nhà nước ở các quốc gia là khác nhau nhưng tập trung vào các lĩnh vực tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng thương mại ; Tranh chấp liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty; Tranh chấp liên quan đế việc bảo hộ nhãn hiệu thương mại; Tranh chấp thương mại hàng hải; Tranh chấp phát sinh trong quá trình bảo hộ cạnh tranh và chống cạnh tranh bất hợp pháp; Tranh chấp liên quan đến hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán
Trang 9Hình thức của phương thức Toà án
Là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế, hay nói khác đi, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giao cho Tòa án giải quyết theo trình tự gọi là Tố tụng Tòa án
Nhắc đến giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án, thì điều quan trọng nhất là xác định thẩm quyền của tòa án, trong đó, chỉ có những tranh chấp được quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án mới giải quyết, cụ thể:
1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
5 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh việc xác định về thẩm quyền theo vụ việc, phương thức này còn đòi hỏi phải xác định chính xác tòa án theo lãnh thổ và tòa án theo cấp
Thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Việt Nam
Tình huống : Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Sài Gòn
thương tín(chi nhánh Gò Vấp ) với công ty TNHH cơ khí Trường Giang
Ngày 23/2/2001 , chi nhánh Gò Vấp của ngân hàng Sài Gòn thương tín (bên A) kí hợp đồng tín dụng số 212100 với công ty TNHH cơ khí Trường Giang ( bên B ) Hợp đồng
do giám đốc chi nhánh Gò Vấp và giám đốc công ty cơ khí Trường Giang kí Nội dung : bên A cho bên B vay 200 triệu đồng , lãi suất 0.8%/tháng , thời hạn vay là 24 tháng
Để đảm bảo hợp đồng , các bên kí hợp đồng cầm cố , theo đó bên B đem chiếc xe sở hữu của mình , trị giá khoảng 330 triệu cầm cố cho A Hợp đồng có cam kết : Trường hợp đến hạn trả nợ mà bên B không trả được nợ , bên B đồng ý để bên A toàn quyền tổ
Trang 10chức đấu giá tài sản để thu hồi nợ ( vốn và lãi ) Hợp đồng cầm cố được công chứng nhà nước chứng nhận
Đáo hạn bên B không trả được nợ nên bên A khởi kiện tại toà
Với tư cách là người đại diện quyền lợi cho bên A , anh (chị ) hãy nêu những yêu cầu của bên A và lí giải căn cứ của những yêu cầu đó
Bên A sẽ yêu cầu được đứng ra bán đấu giá chiếc xe đó để thu lại số tiền đã cho bên B vay ( bao gồm tiền gốc và tiền lãi )
Căn cứ : theo điều khoản của hợp đồng vay , thì bên B có nghĩa vụ trả số tiền vay và lãi đúng hạn nhưng bên B đã không thực hiện nghĩa vụ đó đúng hạn Mặt khác, theo điều khoản của hợp đồng cầm cố , bên A có toàn quyền đứng ra bán đấu giá chiếc xe
đó Thêm vào đó , hợp đồng cầm cố đã được chứng nhận bởi công chứng nhà nước ,
do vậy được nhà nước bảo hộ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Theo sự bảo hộ đó thì bên B có nghĩa vụ giao chiếc xe để bên A đấu giá thu hồi nợ
Trong phiên toà , đại diện bên B đề nghị toà tuyên bố hợp đồng cầm cố không có hiệu lực pháp luật do người kí hợp đồng này phía bên B là ông Phan chỉ là thành viên của công ty thôi Ông Phan không có giấy uỷ quyền của giám đốc Theo anh ( chị ) hợp đồng cầm cố trên có hiệu lực không
Ông Phan không phải là đại diện của bên B , và cũng không được uỷ quyền kí kết hợp đồng cầm cố Do vậy , ông Phan không có thẩm quyền đại diện bên B kí kết hợp đồng Vậy hợp đồng cầm cố do ông Phan kí với bên A là vô hiệu (không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên B) Nhưng ông Phan có nghĩa vụ bồi thường cho bên A khi hợp đồng vô hiệu (theo điều 592, bộ luật dân sự 2005)
Giả sử bên A xuất trình cho toà án biên bản cuộc họp hội đồng thành viên của công ty
B , theo đó giám đốc công ty có biết việc ông Phan kí hợp đồng cầm cố đó , vậy hợp đồng có hiệu lực pháp luật không , dựa vào căn cứ pháp lí nào
Nếu giám đốc bên B đã biết ông Phan kí kết hợp đồng cầm cố mà giám đốc bên B không phản đối thì giám đốc bên B đã chấp nhận các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng đó Ở đây , bên A xuất trình chứng cứ trên để chứng tỏ bên B có lỗi khi giao kết hợp đống cầm cố Tuy nhiên cần phải xác định bên A có chứng cứ đó trước hay sau hợp đồng cầm cố
Nếu sau khi kí bên A mới biết chứng cứ trên thì bên B có trách nhiệm thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đối với bên A ( theo điều 145 , khoản 1, bộ luật dân sự 2005)
Nếu trước khi kí kết bên A đã biết chứng cứ trên thì bên A không có quyền đòi bồi thường ( theo điều 145 , khoản 2 , bộ luật dân sự 2005 )
Hợp đồng có hiệu lực pháp lí vì vấn đề đã được hội đồng thành viên của công ty bên B biết và đã được lập thành biên bản
Trang 11Toà án xừ lí theo hướng có lợi cho bên A , nhưng bên B không tự nguyện thi hành
Hãy nêu các biện pháp xử lí theo quy định của pháp luật
Nếu bên B không tự nguyện thi hành bản án thì bên A có quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án cưỡng chế tài sản của bên B, cụ thể là trích tài khoản của bên B ở ngân hàng ,
cưỡng chế tài sản của B để bán đấu giá
Ưu điểm
+ Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế
cao Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; và đảm bảo hiệu lực thi hành của phán quyết tại
Tòa Nếu các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan thi hành án Các bên
được bảo toàn quyền lợi và nghĩa vụ của mình bắt buộc phải thực hiện theo phán quyết
của Tòa
+ Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với những thương nhân kinh doanh
vi phạm pháp luật Đây cũng là một lợi thế; vì khi có những vụ xét xử công khai sẽ
nhận ra những doanh nghiệp mang tính lừa lọc; hay vi phạm để tránh những trường
hợp khác xảy ra
+ Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia; có điều kiện tốt hơn các trọng tài viên
trong việc tiến hành điều tra; có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa
+ Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp
lý
Nhược điểm
+ Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó;
+ Phán quyết của tòa án thường bị kháng cáo Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và
kéo dài; có thể phải qua nhiều cấp xét xử; ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh
doanh
+ Nguyên tắc xét xử công khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ; mang
tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh
doanh bị tiết lộ; và uy tín trên thương trường bị giảm sút
Đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài thì:
+ Phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế Phán quyết của
tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương
hoặc theo nguyên tắc rất nghiêm ngặt
+ Mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan; họ vẫn phải buộc sử dụng ngôn ngữ
và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên