1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình kinh tế phát triển phần 2

139 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nguồn Lực Phát Triển Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 14,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ quan điểm chính sách, chúng ta có thể tổng kết phân tích nói trên rằng sự tăng trường về các nguồn đầu tư quốc gia phụ thuộc vào khả năng của đất nước trong việc phân bổ các yếu tố sả

Trang 1

Chu ưng 3

CÁC NGUÒN L ự c PHÁT TRIỂN KINH TẾ

3.1 Nguồn vốn vói phát triển kinh tế

3.1.1 Vốn sản xuất và vốn đầu tư

Vốn là một bộ phận tài sản (của cải) được sử dụng trong quá ứình sản xuất kinh doanh, v ố n gồm hai hình thức là: v ố n tài chính (tiền, chúng khoán); vố n vật chất (các yếu tố vật chất trong quá trình sàn xuất như máy móc, nhà xưởng )

- Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải

- Tồn kho của tất cả các hàng hoá

- Cơ sở hạ tầng

- Tài nguyên đã khai thác

- Các công trình công cộng

- Các công trình kiến trúc quốc gia

- Nhà ở của dân cư

Trang 2

- Các căn cứ quân sự

Xét theo chức năng sản xuất thì tổng số tài sản quốc gia được chia làm 2 nhóm: là tổng số tài sản sản xuất (còn gọi là vốn sàn xuất: K) và tổng số tài sản phi sản xuất (V) Như vậy, quy mô vốn sản xuất là một bộ phận của tài sản quốc gia tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và được tích luỹ từ những tu liệu sản xuất Vốn sàn xuất chỉ bao gồm những loại tài sản từ 1 - 6.Nếu gọi w là tổng số tài sản quốc gia, ta có:

Công thức: w = K + V

Tổng số tài sản quốc gia được tích luỹ bằng hoạt động đầu tư, hay quy mô vốn sản xuất cũng được hình thành từ hoạt động đầu tư, thông qua việc tích luỹ tư liệu sản xuất Nguyên nhân thiểu vốn sản xuất ở các nước DPT, tức quy mô vốn sản xuất nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu và do thiếu khả năng để sản xuất ra các tư liệu sán xuất và thiếu

cơ hội để đổi lấy các phương tiện sản xuất trên thị trường thế giới.Khả năng sản xuất ra các tư liệu sản xuất lại liên quan trực tiếp đến khả năng đầu tư và tích luỹ Như vậy, khả năng đầu tư lại phụ thuộc vào khả năng sản xuất ra các tư liệu sản xuất, tức phụ thuộc vào các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất sẽ ưở thành các sản phẩm đầu tư trong nước Từ quan điểm chính sách, chúng ta có thể tổng kết phân tích nói trên rằng sự tăng trường về các nguồn đầu tư quốc gia phụ thuộc vào khả năng của đất nước trong việc phân bổ các yếu tố sản xuất cùa đất nước như các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, lao động vào các ngành có khả năng sản xuất ra các tư liệu sản xuất Như vậy, khó khăn nằm ngay trong sự bất lực của các nước DPT là thiếu khả năng sản xuất ra các tư liệu sản xuất Do đó, các nước DPT phải tìm kiếm các nguồn tư liệu sản xuất trên thị trường thế giới

Trang 3

Với nền kinh tế mở, luôn tạo khả năng để chuyển đổi các sản phẩm được tiết kiệm trong nước thành các tư liệu sản xuất trên thị trường quốc tế, tức là thông qua biện pháp nhập khẩu tư liệu sàn xuất từ nước ngoài, hoặc thu hút các tư liệu sản xuất từ các nguồn

đi thuê mướn tư liệu sàn xuất của nước ngoài hay thông qua chuyển giao tư liệu sản xuất thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Từ những phân tích ứên, nhân tố làm tăng tích luỹ vốn sản xuất phụ thuộc vào 3 nguồn chủ yếu:

- Khả năng gia tăng sản xuất các tư liệu sản xuất trong nước

- Khả nàng nhập khẩu các tư liệu sàn xuất trên thị trường quốc tế

- Khả năng thuê mướn tư liệu sản xuất nước ngoài hay khả năng được chuyền giao tư liệu sản xuất từ chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Trong quá trình phát triển kinh tế các nước DPT nên cố gắng xây dựng các ngành sản xuất các tư liệu sản xuất ngay khi đạt đuợc mức độ công nghệ đủ đề sản xuất các tư liệu sản xuất, khi chưa đạt được trình độ phát triển công nghệ cần tăng nhập khẩu các tư liệu sản xuất và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng Tăng cường thuê mưởn tư liệu sản xuất hoặc tranh thu để được chuyển giao tư liệu sản xuất từ nước ngoài Như vậy, sự hoạt động của ngànli ngoại thương có liên quan đến các biện pháp làm tăng các nguồn vốn đầu

tư, nguồn tích luỹ vốn sản xuất

* Von đầu lư và các hình thức đầu tư

Quá trình sừ dụng tài sản quốc gia sẽ bị hao mòn qua thời gian, cho nên cần phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp nâng cấp sửa chữa hao mòn tài sản và do nhu cầu phải ngày càng tăng thêm khối lượng tài sản mới nên phải thường xuyên bổ sung thêm tài sản mới Quá trình này được tiến hành bằng hoạt động đầu tư

Trang 4

Hoạt động đầu tư phụ thuộc vào khả năng cung ứng nguồn đầu tư

Vì hoạt động đầu tư được thực hiện trên cơ sờ phải có vốn, vốn dùng trong các hoạt động đầu tu gọi là vốn đầu tư Vậy vốn đầu tu được hiểu nhu là phần thêm vào cho sự tích tụ tài sản để làm tăng quy mô sản xuất và tài sàn phi sản xuất

Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức,

đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Neu như đầu tư trực tiếp

là hình thức đầu tư người bỏ vốn và người sử dụng vốn cùng là một chù thể, thì hình thức đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư người bỏ vốn và người sử dụng vốn không cùng một chủ thể

Hiện nay trong lĩnh vực xây dựng cơ sờ hạ tầng ở Việt Nam còn có 3 hỉnh thức đầu tư mới:

BOT: Xây dựng - hoạt động - chuyển giao

BT: Xây dựng - chuyển giao

BTO: Xây dựng - chuyển giao - hoạt động

3.1.2 Vai trò của vốn đầu tư đoi với tăng trưỏng và phát

triển kỉnh tế

Qua 11 IÔ hình tăng trưởng kinh té Ilarrod-Domar đã cho thấy

rằng, một quốc gia muốn duy tri tăng trưởng kinh tế vững chắc,

ổn định thì đòi hỏi phải bổ sung vốn đầu tư để đạt được những mục tiêu tăng truởng mong muốn Như vậy, sự thiếu vốn đầu tư

sẽ là một cản trở lớn đối với việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong trirờng hợp này cần phải thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để bổ sung vào khoản thiếu hụt Nhưng lượng vốn sản xuất tích luỹ được mới là chìa khoá của sự phát triển, vì việc

bổ sung vốn đầu tư chỉ là phần vốn bỏ thêm vào để làm gia tăng quy mô sàn xuất Quốc gia nào có khả năng sản xuất ra tư liệu sản xuất thì sẽ làm tăng khả năng tích luỹ vốn sản xuất Khi quy

Trang 5

mô vốn sản xuất tăng, có nghĩa là các tài sàn sản xuất gia tăng làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia, do đó làm tăng sản lượng quốc gia.

Để có tốc độ phát triền cao, nền kinh tế phải có đủ vốn đầu tư

và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong nước và vốn vay nước ngoài Nguồn vốn vay nước ngoài là cần thiết và không thể thiếu, nhưng đã vay thì phải trả cả vốn lẫn lãi, nợ càng lâu thì số tiền lãi phải trả càng nhiều, gánh nặng nợ càng lớn vố n trong nước bao gồm các nguồn tiết kiệm của Chính phủ, các doanh nghiệp và của các tầng lóp dân cư do hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính huy động, tập trung lại để đầu tư cho các ngành kinh tế quốc dân.Vốn là một trong bốn nguồn lực cơ bàn để tăng trưởng kinh

tế Vốn quan ttọng đối với mọi quốc gia Với các nước đang phát triển, vốn rất quan trọng vì lý do sau:

- Vốn là nhân tố quan trọng ứong phát triển kiiih tế Đối với các nước đang phát triển thì đây là điều kiện quan trọng nhất vì lao động, đất đai, tài nguyên thường có sẵn

- Đối với các nước đang phát triển thi vai ữò của vốn gia tăng với tăng trường kinh tế lớn hơn ở các nước phát triển vì quy luật

hiệu suất biên giảm dàn.

- Vốn có thể khắc phục sự thiếu hụt các nguồn lực khác bời ứong cơ chế thị trường tất cả các nguồn lực đều là hàng hoá

- Các nước đang phát triển có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn

các nuớc phát triển Đây là cơ sở để các nước phát triển đầu tư

vào các nước đang phát triển (di chuyển vốn quốc tế hay xuất khẩu tư bản)

3.1.3 Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tư

Cầu đầu tư là dự định (kế hoạch) đầu tư của chủ đầu tư nhằm thay thế và tăng thêm giá ứị tài sản cố định hay dự trữ tài sản lưu

Trang 6

động Giá trị những tài sản này là để đáp ứng yêu cầu của sản xuất hoặc tiêu thụ trong tương lai.

Cầu đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào nhịp độ tăng nhu cầu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Nhìn chung không có mối liên hệ chặt giữa khối lượng sản xuất hiện thời với sự biến đổi nhu cầu và sản xuất sản phẩm được dự báo trong tương lai Nhiều khi khối lượng sản xuất lớn làm tăng nhu cầu sản phẩm, và ngược lại cũng có khi khối lượng sản xuất lớn làm giảm nhu cầu sản phẩm cùa doanh nghiệp Giải thích điều này xuất phát từ việc phân tích đường tổng cầu khi tính tới đầu tư cho thấy, tại mỗi thời điểm xác định nhu cầu đầu tư là một lượng cố định, không phụ thuộc vào khối lượng sản xuất hay thu nhập Chúng ta có thể xem mô hình đơn giản về tổng cầu mô tả trong hình sau

Toàn bộ khối lượng cầu vốn đầu tư gồm vốn đầu tư tăng tài sản cố định và vốn đầu tư tăng tài sản lưu động Vậy những yếu tố nào xác định độ lớn của cầu vốn đầu tư? Có hai loại nhân tố ảnh hường đến cầu vốn đầu tư, đó là nhân tố lãi suất tiền vay (giá cả của vốn đầu tư) và các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay Có thể mô tả tác động của các nhân tố này như sau:

Đồ thị 3.1 fìồ thị hàm tổng cầu

Trang 7

Đường tổng cầu mô tá tổng chi tiêu dự định cua các hộ gia đình và chi tiêu cho đầu tư cùa các doanh nghiệp Bởi vì cầu đầu lư

là cố định, còn tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên cùng với mức tăng thu nhập, cộng thêm cầu đầu tư cổ định vào hàm tiêu dùng c

la sẽ xác định hàm lổng cầu AD = c + I

a Lãi suất tiền vay

Lãi suất là nhân tố chi phí của đầu tu, lượng vốn đầu tư tăng, giảm phụ thuộc vào lãi suất Yêu cầu của sản xuất đòi hỏi cần tăng thêm máy móc, thiết bị, phương tiện nhằm mở rộng năng lực sán xuất, cho phép hạ thấp chi phí sàn xuất Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, cần phải có sự so sánh giữa lợi ích mang lại do sử dụng máy móc, phương tiện mới, thể hiện qua phần lợi nhuận tăng thêm, với khoản chi phí cho đầu tư v ấn đề là ở chỗ, lợi ích chi thực sự có được trong tương lai, trong khi vốn đầu tu lại phải bỏ ra ngay tại thời điểm hiện tại Do đó phải ữả lời được câu hỏi liệu lợi nhuận do đầu tư đem lại có cao hơn so với mức lãi suất phải trả khi chủ đầu

tư vay vốn đầu tư hay không? Chủ đầu tư chỉ đầu tư khi và chi khi lợi nhuận thực dự báo trong tương lai cao hơn hoặc ít nhất bằng với mức lãi suất tiền vay phải trả Đương nhiên, khi lãi suất tiền vay càng tăng thì thu nhập cận biên của đầu tư sẽ càng giảm, nhu cầu đầu tư giảm và ngược lại

Vào cùng một thời điểm, có thể có rất nhiều dự án đầu tư số lượng dự án đầu tư phụ thuộc vào mức lãi suất tiền vay Khi mức lãi suất tiền vay càng cao thì số dự án thoả mãn được yêu cầu trên càng

ít và ngược lại, khi mức lãi suất tiền vay thấp, sẽ có nhiều dự án đầu

tư hơn làm cầu về vốn đầu tư tăng

Trang 8

Đồ thị 3.2 chỉ rõ đường cầu vốn đầu tư Di thể hiện mối quan hệ phụ thuộc giữa lãi suất tiền vay và nhu cầu vốn đầu tư ở mỗi mức lãi suất cụ thể Neu mức lãi suất tăng từ io lên i] cầu đầu

tu giảm, nói cách khác lượng vốn đầu tư giảm từ lo xuống Ij (A I= Io-I,)

Đồ thị 3.2 Hàm cầu đầu tư

Tại mỗi mức giá, tài sàn đầu tư và mức lợi nhuận kỳ vọng xác định, thì sự thay đổi của mức lãi suất tiền vay sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư Neu lãi suất tiền vay tăng lừ i0 lên ij thì nhu cầu đầu tư sẽ giám từ ¡0 xuống 1¡ Lãi suất tiền vay lù btén nột Sính cùa hàm cầu đầu tư.

b Các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay

* Chu kỳ kinh doanh

Một sự đầu tư sẽ đem lại thu nhập nếu đầu tư dẫn đến tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn hay tạo ra chi phí sản xuất thấp hơn Do đó yếu tố quan trọng quyết định đầu tư là mức sản lượng sản xuất ra (đầu ra) Nhiều nhà kinh tế cho rằng, mức sản lượng

Trang 9

này chịu ảnh hưởng bởi chu kỷ kinh doanh, chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức cầu đầu tư tại các thời điểm khác nhau.

Chu kỳ kinh doanh vận động theo hình sin, ở thời kỳ đi lên làm tăng nhu cầu đầu tư, đẩy đường cầu đầu tư DI sang phái, vào vị

ứí DI' nói cách khác, với mức lãi suất tiền vay xác định i0 nhu cầu vốn đầu tư giảm Thuế thu nhập doanh nghiệp và môi trường đầu tư cũng có tác động tương tự

Khi chu kỳ kinh doanh ờ vào thời kỳ đi lên, quy mô sản xuất của nền kinh tế mờ rộng, đầu tư gia tăng, thể hiện ở việc dịch chuyển đường cầu đầu tư sang phải, từ DI sang DI' (đồ thị 3.3) Ngược lại, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi xuống, quy mô sàn xuất của nền kinh tế bị thu hẹp lại, sẽ kéo đường cầu đầu tư DI dịch chuyển sang trái, tương ứng với mỗi mức lãi suất tiền vay cụ thể

Đồ thị 3.3 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh đến đường cầu đầu tir

* Thuế thu nhập doanh nghiệp

Cùng với lãi suất, các quy định về thuế của Chính phù cũng ảnh hưởng đến nhu cầu của đầu tư, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp Nếu Chính phủ đánh thuế thu nhập cao sẽ làm tăng chi phí

Trang 10

đầu tư và làm cho thu nhập của các doanh nghiệp giảm, làm nản lòng các nhà đầu tư, lượng vốn đầu tư sẽ giảm.

Ngược lại, Chính phủ cũng có thể kích thích đầu tư bằng hình thức miễn giảm thuế đối với các khoản lợi nhuận dùng để tái đầu

tư Qua đồ thị 3.3, có thể mô tả tác động của thuế thu nhập đến cầu đầu tư giống như tác động cùa chu kỳ kinh doanh Khi mức thuế cùa Chính phủ giảm sẽ làm cho đường cầu đầu tư dịch chuyển sang phải, do lợi nhuận tăng, các nhà đầu tư sẽ tích cực đầu tư nhiều hơn

đề kiếm lời

* M ôi Inrờng đầu tư

Đầu tư thường được ví như một canh bạc Các nhà đầu tư đặt cược một số tiền lớn trong điều kiện hiện tại và hy vọng thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Do vậy, đầu tư luôn đòi hỏi một môi trường thích hợp, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, với xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố trực tiếp hay gián tiếp tác động đến hiệu quả của các dự án đầu tu Chẳng hạn như vị trí địa lý, địa hình, thực trạng của cơ sở hạ tầng; những quy định về luật đầu tư, nhất là những quy định có liên quan đến lợi ích tài chính (thuế, giá nhân

công )) uhc độ đất đai (quy chế lliuc mướn, chuyển nhượng, thẻ

chấp, giá cả ); các loại thủ tục hành chính, tình hình chính t r ị - x ã hội Nếu những yếu tố trên thuận lợi sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư và thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư

Trong việc tạo lập môi trường đầu tư, Chính phủ giữ một vai trò quan trọng, Chính phủ thường quan tâm đến việc đưa ra các chính sách nhằm tăng được lòng tin trong đầu tư và kinh doanh Cách thức tác động của môi trường đầu tư đến cầu đầu tư có thể được mô tả như trường hợp tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tác động của chu kỳ kinh doanh (đồ thị 3.3)

Trang 11

3.1.4 Nguồn hình thành vốn đầu tư

Khi doanh nghiệp quyết định đầu tư mua sắm, lắp đặt tài sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất tức là doanh nghiệp đã tham gia vào thị trường hàng hoá và dịch vụ Nhưng thị trường vốn đầu tư sẽ diễn ra ở đâu và cái gì là đối tượng lưu thông ữên thị trường này?Vấn đề đơn giản là ở chỗ, khi doanh nghiệp quyết định đầu tư hay mua sắm tư liệu sản xuất, rất ít khi doanh nghiệp sừ dụng tiền mặt để trang trải cho các khoản đầu tư, mà doanh nghiệp sẽ thông qua các tổ chức tài chính, như ngân hàng, để mượn khoản chi phí đầu tư và tất nhiên doanh nghiệp phải trả cho tổ chức tài chính khoản lãi suất tiền vay Như vậy, lúc này doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn đầu tư Nguồn vốn này chính là lượng tiền mặt mà ngân hàng đã huy động tiết kiệm từ các nguồn khác nhau Ngân hàng hay

tổ chức tài chính là nhưng tổ chức trung gian thực hiện nhiệm vụ chuyển số tiền tiết kiệm ứong các hộ gia đình sang cho các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư và hường phần chênh lệch giữa mức lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay Khối lượng tiết kiệm của các

hộ gia đình phụ thuộc vào mức thu nhập và mức lãi suất tiền gửi

Xu hướng chung là khi nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ tiết kiệm

càng tăng Hay nói cách khác là các hộ gia đình sẵn sàng gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất thay vì mua các hàng hóa, tài sản để cất trữ.Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp thì quy mô và tỷ lệ tiết kiệm đều thấp trong khi yêu cầu về phát triển kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn Điều đó đặt ra sự cần thiết phải có nguồn hỗ trợ từ nước ngoài Mặt khác, trong sự giao lưu quốc tế hiện nay, ngay đối với các nước công nghiệp phát triển vẫn cần có sự kết hợp nguồn vổn đầu

Trang 12

tư trong nước và ngoài nước phục vụ cho sự phát triền kinh tế Như vậy, đối với một quốc gia tiết kiệm có được là tổng số của tiết kiệm trong nước và tiết kiệm ngoài nước.

s = s d + SfTrong đó, s là tổng số tiết kiệm của một quốc gia, Sd là tiết kiệm trong nước, Sf là tiết kiệm ngoài nước

a Nguồn tiết kiệm trong nước

Nguồn vốn tiết kiệm trong nước được hình thành từ 3 nguồn: Tiết kiệm từ ngân sách Nhà nước, tiết kiệm từ các doanh nghiệp và tiết kiệm từ các hộ gia đinh

* Tiết kiệm từ ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở lấy tổng thu NSNN trừ đi tổng chi NSNN

* Tiết kiệm từ các doanh nghiệp được xác định trên cơ sở lấy thu nhập sau thuế cộng với quỳ khấu hao Riêng đối với các doanh nghiệp cổ phần, tiết kiệm của doanh nghiệp sẽ bằng phần lợi nhuận không chia cộng với quỳ khấu hao

* Tiết kiệm từ các hộ gia đình xác định bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi tống chi tiêu

b Nguồn tiết kiệm ngoài mrởc

Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực hiện qua nhiều hình thức:

- Tài ượ phát triển chính thức (ODF- Official Development Finance): Là nguồn tài trợ chính thức cùa chính phũ cho mục tiêu phát triển Nguồn vốn này bao gồm ODA và các hỉnh thức ODF khác; ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong ODF

Trang 13

- Tín dụng thương mại từ các ngân hàng (Com m ercial Credit by Bank) là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập k h ẩu

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Dừect Investment) là loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tự thiết lập cơ sờ sản xuất kinh doanh cho riêng mình, tự đứng

ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê người quản lý cơ sở này (đầu tư 100% vốn), hoặc góp vốn cùng với một hay nhiều xí nghiệp của nước sở tại thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, rồi cùng các đối tác của minh cùng làm chủ sở hữu và cùng quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này (xí nghiệp liên doanh)

- Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phù (NGO- Nongovemmental Organisation)

- Tín dụng tư nhân: Loại vốn này có ưu điểm là hầu như không gắn với các ràng buộc chính trị - xã hội, song các điều kiện cho vay khắt khe (thời hạn hoàn trà vốn ngắn và lãi suất cao), vốn được sử dụng chủ yếu để đáp ứng các yêu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn v ố n này cũng được dùng để đầu tư phát triển

và mang tính dài hạn Tỷ ứọng vốn dài hạn trong tổng số có thể tăng lên đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan

* Viện trợ phát triển chỉnh thức (ODA)

ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hay một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội

Trang 14

ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện frợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức phi chinh phủ, các tổ chức thuộc hệ thống LHQ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển

ODA là nguồn vốn cực kỳ quan trọng cho công cuộc phát ữiền kinh tế cùa các nước đang phát triển Thông qua các dự án ODA, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của nước tiếp nhận được nâng lên một bước Nếu sử dụng nguồn vốn này có hiệu quả, vốn ODA

sẽ là nhân tố tích cực giúp các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tế

Thông qua các dự án ODA về giáo dục, đào tạo, y tế sẽ giúp cho trỉnh độ dân trí, chất luợng lao động được nâng lên

* Đầu lư trực tiếp nước ngoài (FDI)

FDI là loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ đầu

tư nuớc ngoài (tư nhân) dành toàn bộ hoặc phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm dành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước sở tại để thu lợi nhuận

FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thúc chủ

yếu là hợp đồng họp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đối với các nước tiếp nhận đầu tư (chủ yếu là đối với các nước đang phát triền), nguồn vốn FDI có những tác dụng như: Giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích lũy nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuật ừong điều kiện khoa học, kỹ thuật thế giới phát triển mạnh Các nước NICs trong gần 30 năm qua, nhờ nhận được trên 50 tỷ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách kinh tế năng động, hiệu quả đã trở thành những

Trang 15

con rồng châu Á Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc từ nước khác cho nước tiếp nhận đầu tư, do đó các nước tiếp nhận đầu

tư có thể nhận được những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại (trên thực tế có một số công nghệ không thể mua được bằng quan

hệ thương mại đon thuần), những kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt Bên cạnh đó, FDI còn làm cho các hoạt động đầu tư ừong nước phát triển, thúc đẩy tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Một điều quan trọng là nguồn FDI có khả năng giúp các nước đang phát triển giảm được gánh nặng nợ nước ngoài Thông qua hợp tác với các công ty nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giói Như vậy các nước có khả năng tốt hơn trong việc huy động tài chính cho các dự án plĩát triển

Tuy nhiên khi thu hút nguồn vốn FDI còn có một số hạn chế như: (1) Sự xuất hiện của các FDI là nguy cơ đối với các doanh nghiệp ưong nước bời sự cạnh tranh và cơ hội phát triển; (2) FDI sẽ

đem đến nước chủ nhà một lối sống và một cách tiẽu dùng mới, làm

giảm khả năng tiết kiệm của quốc gia; (3) Các nước đang phát triển

dễ bị biến thành thị trường tiêu thụ công nghệ lạc hậu; (4) FDI sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ ngược - xuôi ứong nền kinh tế (đầu vào - đầu ra); Các FDI thường không tái đầu tư phần lợi nhuận tạo

ra mà chủ yếu chuyển thành thu nhập gửi về nước, làm ảnh hường đến quá trình tái sản xuất mở rộng

* Nguồn vốn cùa các lổ chức phi chỉnh phủ (NGO)

NGO thường là nguồn viện ừợ không hoàn lại, chủ yếu mang tính chất nhân đạo, quy mô của nguồn vốn nhỏ được hình thành tiên

Trang 16

cơ sở quyên góp hoặc sự tài trợ của Chính phủ NGO có một số đặc điểm như: Phương thức viện ữợ đa dạng (tiền hoặc hiện vật); hình thức viện trợ đơn giản, nhanh, đáp ứng kịp thòi những yêu cầu khẩn cấp (thiên tai, bệnh dịch, chiến tranh) Hạn chế của nguồn NGO ở chỗ: Nguồn cung cấp viện trợ không ổn định; Ngoài mục đích nhân đạo, trong một số trường hợp còn mang màu sắc tôn giáo, chính trị.

* Nguồn vốn tin dụng thương mại

Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thời gian phái hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay Các mrớc cho vay thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay Nguồn vốn này có một số đặc điểm như: Đối tượng đi vay thường là các doanh nghiệp Độ rủi ro cao đối với các chủ đầu tư khi các doanh nghiệp vay vốn hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ, phá sản; Vốn vay dirới dạng tiền tệ và các doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng vốn; chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận thông qua lãi suất ngân hàng cố định theo khế ước vay, độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay ưong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán Các ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng trước khi nguồn vốn được giải ngân thi họ đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu về bảo lãnh thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, các nước tiếp nhận vốn không phải chịu bất cứ một ràng buộc nào về chính trị, xã hội, có toàn quyền sử dụng vốn Tuy nhiên, do đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất thương mại nên nếu các nước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì nguy cơ dẫn đến tình trang mất khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ

Trang 17

3.2 Tài nguyên thiên nhiên vói phát triển kinh tế

3.2.1 Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực quan trọng

Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất Xét ừên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên thì sẽ không có sản xuất, cũng không có sự tồn tại của loài người Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chi là điều kiện cần chứ chưa đủ Trên thực tế, nếu công nghệ là cố định thì lưu lượng cùa tài nguyên thiên nhiên

sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sàn xuất vật chất trong những ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như thép, nhôm Tài nguyên thiên nhiên chi trờ thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả Thực

tế đã cho thấy, nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyên phong phú, đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng vẫn là nước nghèo và kém phát triển như Cô Oét, Arập Xêut, Vênêzuêla, Chilê Ngược lại, nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italia

Có thẻ nói, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sán xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn đầu phát triền, các nước đang phát triển thường quan tâm nhiều đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là

cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh, sành sứ

Trang 18

3.2.2 Tài nguyên thiên nhiên là cơ sờ tạo tích luỹ vốn và phát triển ổn định

Đối với hầu hết các mrớc, việc tích luỹ vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn ĐTNN Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút ngắn quá trinh tích luỹ vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế, tạo nguồn tích luỹ vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp đất nước

Nguồn tài nguyên thường là cơ sở đề phát fríen một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong nước Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trường một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới rơi vào ừạng thái bất ổn

3.2.3 “Căn bệnh Hà L a n ” - M ộ t bà i học trong khai thác tà i nguyên

Váo nhưng nám 60 cùa thế ký trước, thường có quan diẻm cho rằng tài nguyên là yếu tố cơ bản để đạt được tăng trưởng kinh

tế cao Nhưng thực tế cho thấy rằng, vào thời gian 1973 - 1982, khi giá dầu mỏ tăng lên, tất cả những khoản tiền khổng lồ thu được nhờ vào những khoản thu nhập về thuế đều làm cho các nước xuất khẩu tài nguyên có tốc độ tăng trường kinh tế cao Thu nhập từ dầu mỏ đã làm tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người, tạo thêm cơ hội việc làm và tăng các phuơng án lựa chọn chính sách Nhưng nó cũng làm thay đổi những động lực kinh tế, bóp

Trang 19

méo và làm mất ổn định sản lượng đầu ra của một số ngành không phải là dầu mò, thường là trong sản lượng nông nghiệp.

Điển hình là trường hợp của Hà Lan, thường được gọi là "căn bệnh Hà Lan" Trong suốt tliời gian từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1975, Hà Lan đạt được sự thành công đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực, lạm phát ít khi vượt quá 3%/năm Tốc độ tăng GNP thường trên 5% và nạn thấp nghiệp dao động xung quanh tỷ lệ 1% Bí quyết của những thành công này là ờ chỗ khu vực xuất khấu truyền thống của nước này có sức cạnh tranh mạnh so với những đối thủ của mình ứên toàn thế giới, như sản phẩm nông nghiệp và hàng điện tà Vào đầu những năm 70, Hà Lan tìm thấy một số lượng dự trữ đáng kể khí đốt tự nhiên Từ năm 1973 - 1978 Hà Lan xuất khẩu một lượng khí đốt lớn làm tăng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và tăng 4% GNP Đồng thời tỷ giá hối đoái cũng tăng lên và để mất đi gần 30% bạn hàng truyền thống Kết quả là các cơ sờ xuất khẩu truyền thống đã phải đương đầu với tai hoạ: chi phí sản xuất trong nước tăng lên, đồng đôla trên thị trường trong nước bị sụt giá Những điều này làm cho tỷ lệ lạm phát tăng từ 2% năm 1970 lên 10% năm 1975 và tốc độ tăng GNP giảm từ 5% xuống còn 1%

3.2.4 Khai thác tài nguyên với phát triển bền vững

* Những hạn chế trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

- Đối với môi trường

Sau Chiến tranh thế giói lần thứ hai, "tăng trưởng" được coi là đầu tầu để thúc đẩy nền kinh tế của các nước đang phát triển Tiếp đó

Trang 20

quan điểm "phát triển" đã khuyến cáo các nước về vai ứò của con người trong hoạt động kinh tế Mặc dù dưới những giác ngộ khác nhau, những xu hướng này đều có điểm chung là nhấn mạnh lợi ích kinh tế và bò qua lợi ích của giới tự nhiên Do đó, việc khai thác các nguồn tài nguyên để phục vụ lợi ích kinh tế của con người đã dẫn đến tình trạng báo động về môi trường sống trên toàn thế giới.

Thiếu sự kiểm soát môi trường, cùng với mức tăng trưởng kinh

tế là mức tăng hàm lượng các chất gây ô nhiễm môi trường như C 0 2,

CO, S 0 2, N 0 2 do đốt cháy nhiên liệu hoá thạch, ô nhiễm nhiệt, chất thải của phản ứng hạt nhân và nhũng chất thải tan được trong công nghiệp, nông nghiệp và tốc độ đô thị hoá, đã đe doạ nghiêm trọng bầu khí quyển và nguồn nước có hạn của chúng ta

Có thề nói rằng, đi đôi với tăng trưởng và phát triển kinh tế là tình trạng môi trường sinh thái bị huỷ hoại nghiêm ừọng Nhìn lại

100 năm cùa thế kỷ XX cho thấy, 50% diện tích rừng bị cháy, diện tích đất canh tác bị thu hẹp tới 75%, quá trình độ thị hoá tăng tốc: nếu như năm 1950 dân thành thị mới chiếm 29% dân số thế giới thì năm 1995 đã lên 45%, tức là khoảng 2,3 tỷ người, làm nảy sinh biết bao vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường cực kỳ nan giải Các hiện tượng "hiệu ứng nhà kính", Trái đất nóng lên 0,5 độ ưong vòng 1 thế kỷ, quá trìnli "sa mạc hoá", thiên tai như lũ lụt, hạn hán xảy ra liên tiếp cướp đi sinh mạng cùa khoảng 10 triệu người cùng với những thiệt hại về vật chất, để lại nhiều hậu quả nghiêm ưọng và lâu dài

- Entropy và quá trình kinh tế

Entropy là số đo về năng lượng không có sẵn trong nhiệt động học Năng lượng có thề là năng lượng tự do mà chúng ta có thể chi phối và sử dụng hoàn toàn, hoặc cũng có thể là năng lượng chúng ta

Trang 21

không có khả năng sử dụng Ví dụ, năng lượng hoá học cùa một hòn than là năng lượng tụ do bời vì chúng ta có thề chuyển hoá nó thành nhiệt hoặc động cơ học Nhưng khi năng lượng tự do ban đầu của than bị phân tán dưới dạng nhiệt, khói và fro bụi thì chúng ta không thể sử dụng, nó đã bị giảm giá trị thành năng lượng phân tán không ữật tự, hay còn gọi là trạng thái enứopy cao về khía cạnh khoa học, có thể nói việc áp dụng định luật vật lý về enứopy vào sản xuất đã chỉ ra những hạn chế khi khai thác và sử dụng các tài nguyên Những tài nguyên khi tham gia vào quá trình kinh tế là những tài nguyên có giá trị, nhưng qua quá trình khai thác hay sử dụng chúng sẽ chuyển hoá thành chất thải trờ thành gánh nặng cho cuộc sống của con nguời.

Định luật thứ hai của nhiệt động học là entropy cùa hệ thống đóng sẽ tăng liên tục hoặc trật tự của hệ thống như vậy sẽ liên tục

ườ thành vô ứật tự Việc khai thác liên tục tài nguyên thiên nhiên sẽ làm tăng entropy, ô nhiễm và chất thải chứng tỏ bản chất entropy của quá trình kinh tế Điều đó có nghĩa là năng lượng dưới dạng vật chất tham gia vào quá trình kiến tạo ở trạng thái entropy thấp và đi

ra ở trang thái entropy cao, Mức độ phát triển kinh tế càng cao thì mức độ suy giảm của khoáng sản càng lớn và như vậy kỳ vọng cuộc sống của loài người càng nhỏ Sự dư thừa về mặt kinh tế, sự thịnh vượng của xã hội hiện tại sẽ chống lại quyền lợi của loài người trong tương lai

* Phát triển bền vững

Không thể bò qua những thực tế nêu trên, con người đang đòi hỏi phải từ bỏ quan niệm cũ đối lập con người với tự nhiên và tìm kiếm một phương thức hoạt động mới, phương thức phát triển bền vững

Trang 22

Xuất phát từ góc độ bảo vệ môi trường, cũng là bảo vệ sự sống, vấn đề phát triển bền vừng được đề cập lần đầu tiên vào năm

1987 trong báo cáo của Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới (WCED) Theo uỷ ban này, phát triền bền vững là sự phát triển để đáp ứng những nhu cầu của ngày hôm nay mà không làm tổn hại đến khá năng đáp ứng những nhu cầu cùa các thế hệ tương lai.Như vậy, trong quá trình phát triển phải luôn luôn đặt ra các câu hỏi như: Quy mô và tốc độ khai thác các tài nguyên như hiện nay có đám bảo cho các tài nguyên này có khả năng tái tạo, đủ cung cấp cho các thế hệ tương lai hay không? các tài nguyên thay thế có tương xứng với các tài nguyên bị cạn kiệt và không có khả năng tái tạo hay không?

Phát triển bền vững ngày càng được cộng đồng thế giới quan tâm Đã có nhiều hội nghị quốc tế nhằm trao đổi quan điểm tập họp nỗ lực chung của các quốc gia để thực hiện những giải pháp duy trì sự phát triển bền vừng trên phạm vi toàn cầu Ví dụ: Hội nghị Riode Janiro (1992), Hội nghị Giohannesburg (2000) với hai văn kiện quan trọng là Tuyên bo chung và Ke hoạch hành động về phát triển bền vững

Tại Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: "Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững

ồn định chính trị - xã hội, đảm bào quốc phòng, an ninh"

Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển ưong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện 4 nhóm mục tiêu lớn: mục tiêu kinh tế,

Trang 23

mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường và mục tiêu an ninh, quốc phòng Ngoài mục tiêu an ninh, quốc phòng, mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu lớn của phát triển bền vững có thề được mô

tả như sau:

Sơ đồ 3.1 Các nhóm mục tiêu phát triển bển vững

Phát triền bền \irng là quớ trình phát triển nhằm thực hiện 4 nhóm mục tiêu lớn: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường và mục tiêu an ninh quốc gia Giữa các nhóm mục tiêu này luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không tính đến nhóm mục tiêu an ninh quốc gia, sơ đồ trên biễu diễn mối Hên hệ chặt chẽ giữa 3 nhóm mục tiêu còn lại.

Trang 24

Ben vừng về kinh tế đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP

và GDP bình quân đầu người cao; cơ cấu kinh tế phài hợp lý, đàm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí phấn đấu tăng trường

Bần vững về xã hội lý giải một điều ràng, liệu một xã hội có thể được coi là phát triển binh thường, nếu dân số giảm sút? Neu đảo chính, chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, cướp

đi sinh mạng và mọi thành quả của lao động? Để tránh được các tai biến xã hội nói ưên, phát triển phải mang tính nhân văn Quá ứình

đó bao gồm: Mở rộng các cơ hội lựa chọn cho mọi người; nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người; mọi người cùng tham gia vào quá trinh phát triền và mọi người cùng được hường lợi từ quá trình phát triển này

Ben vững về môi trường, đối với từng cá nhân cũng như cả loài người, môi trường có 3 chức năng: Là không gian sinh tồn của con nguời (cả số lượng và chất lượng); là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; Là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người Vì thế, môi trường bền vững là môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đàm báo thực hiện cá 3 chức nâng nói trẽn, xa hội phát triển bền vững là

xã hội mà con người có cuộc sống chất lượng cao ứên nền tàng sinh thái bền vững

3.3 Lao động vói ph át triển kinh tế

3.3.1 Nguồn lao động

* Nguồn nhân lực và nguồn lao động

Nguồn nhân lực: là bộ phận dân số, trong độ tuổi nhất định, theo quy định của pháp luật có khả năng lao động

Trang 25

Nguồn lao động (lực lượng lao động): Là một bộ phận của dân số, ứong độ tuổi nhất định thực tế đang có việc làm và những người không có việc nhưng đang tích cực tìm việc.

Nguồn nhân lực và nguồn lao động được thể hiện dưới hai hình thức là số lượng và chất lượng, v ề mặt số lượng là tồng số những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động Chất lượng gồm có năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng và sức khỏe cùa người lao động

Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước Điều đó tuỳ thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 hoặc 64 tuổi ) Trị số tối

đa về tuổi lao động là trùng với tuồi về hưu Ví dụ, ở Australia không quy định tuổi về hưu và cũng không có giói hạn tuồi tối đa Nước ta theo quy định của Bộ luật Lao động (2002), độ tuổi lao động tối đa đối với nam từ 15 tuổi - 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi - 55 tuổi Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng gồm:

- Dân số đủ 15 tuổi trờ lên có việc làm

- Dân số trong độ tuổi có khả năng lao động nhirng đang

thất nghiệp

Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, được đánh giá ở trình

độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) và đạo đức lối sống (tâm lực) của người lao động

Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - International Labour Organization) là bộ phận dân

số trong độ tuổi lao động Theo quy định thực tế đang có việc làm

và những người thất nghiệp

Nước ta hiện nay thường sừ dụng khái niệm sau: lực lượng lao

động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những

Trang 26

người thất nghiệp Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dàn số hoạt động kinh tế (tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.

Cần chú ý là trong lực lượng lao động, chi có bộ phận những người đang làm việc mới là những người trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội

3.3.2 Vai trò cùa lao động đối với táng trường và phát triển kinh tế

* Đặc điểm cua lao động ở các nước đang phát triển

- Phần lớn lực lurmg lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất về lao động ở các nước đang phát triển là đa số lao động làm việc ừong lĩnh vực nông nghiệp Tại các nước nghèo thì loại hình công việc này mang tính phổ biến Tuỳ thuộc trình độ phát triển kinh tế lao động nông nghiệp có xu hướng giảm nhanh hay chậm

- Năng suất lao động thấp

Tại các nước đang phát triển hầu hết người lao động có năng suất lao động thấp bởi nhiều lý do như lực lượng lao động đông ữonjí khi diện tích đất trồng trọt thiếu, phương tiện ừang thiết bị kém, trình độ thấp, ít kinh nghiệm

- Mức chênh lệch thu nhập giữa lao động có trình độ tay nghề

và lao động phô thông lớn

ờ các nước đang phát triển, thu nhập của lao động có trình độ tay nghề chênh lệch nhiều hơn lao động không có tay nghề so với nước phát triển Đối VỚI các nước phát triển mức chênh lệch này là

20 - 40%, ở châu Á là 40 - 80% Điều đó cho thấy, những quốc gia càng nghèo mức độ chênh lệch thu nhập của lao động càng lớn

Trang 27

- T ỳ lệ thất nghiệp cao

Một số lượng lớn lao động chưa đuợc sử dụng hết, thường tồn tại dưới dạng thất nghiệp vô hình, hay bán thất nghiệp Có nghĩa là lao động có việc làm, nhưng làm việc với năng suất thấp, sử dụng không hết thời gian lao động

- Cơ cấu thị tnrờng lao động chưa hoàn hảo

Nói đến thị trường lao động thì phải coi dịch vụ lao động như

là những hàng hoá và dịch vụ khác đuợc mua bán trên thị truờng Các nhà kinh tế cho rằng thị trường hoàn hảo là một thị trường mà

ờ đó các hàng hoá được phân phối một cách có hiệu quả thông qua giá cả Nhưng thị trường lao động ở các nước đang phát triển là chưa hoàn hảo, vì vậy tiền lương, tức giá cả lao động không phải hoàn toàn là do các lực lượng cạnh tranh quyết định

Thị trường lao động ờ các nước đang phát triển có thể phân chia thành 3 khu vực: khu vực thành thị chính thức, khu vực thành thị không chính thức và khu vực nông thôn Phân chia cơ cấu thị trường lao động có thể giúp cho việc giải thích vấn đề tiền lương và giải quyết việc làm ờ các nước đang phát triển

Hình 1 Hình 2 Hình 3

Đồ thị3.4 Cứ cấu việc làm và thị trường lao động ở các nước đang phát triển

Trang 28

- Thị trường lao động khu vực thành thị chính thức (hình 1)

Khu vực thành thị chính thức là khu vực gồm các tổ chức (đơn vị) kinh tế có quy mô tương đối lớn và hoạt động nhiều lĩnh vực như sản xuất (công nghiệp, xây dựng); dịch vụ (ngân hàng, bào hiểm, giáo dục, y tế, du lịch ) và lĩnh vực quản lý

Các tổ chức (đơn vị) này trong quá trình hoạt động có đặc điểm:+ Hoạt động theo luật lệ và quy định cùa Nhà nước, chẳng hạn nhu quy định về lương tối thiểu, an toàn lao động, đền bù cho người lao động

+ Được Nhà nước hỗ trợ và đảm bào tạo điều kiện để hoạt động.+ Dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực (vốn, công nghệ, lao động có trình độ)

+ Có cơ cấu tổ chức tương đối hoàn chỉnh (ban lãnh đạo, các phòng - ban chức năng, phân xưởng sàn xuất)

+ Phải làm nghĩa vụ thuế với Nhà nước (thuế thu nhập DN và thu nhập cá nhân)

Khu vực thành thị chính thức là nơi hầu hết mọi người đều thích làm việc nếu như có khả năng Người lao động luôn chờ cơ hội để được làm việc ờ khu vực này Vì đây là khu vực trà lương cao nhất và cung cấp việc làm ổn định nhất, nhưng thị trường này tuyển dụng lao động có trình độ, mức tiền lương được giữ ở mức cao hơn mức tiền luơng cân bằng của thị trường lao động

- Thị trường lao động ớ khu vực thành thị không chính thức (hình 2)

Khu vục thành thị không chính thức thường được sừ dụng gắn với các cụm từ như "kinh tế ngầm", "kinh tế không chính thức"

Trang 29

Khu vực thành thị không chính thức bao gồm các tổ chức (đơn vị) có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ, hoạt động rất đa dạng Hoạt động kinh tế của khu vực không chính thức có một số đặc điểm sau:+ Là khu vực kinh tế có tính dễ thâm nhập.

+ Hoạt động không theo luật và phần lớn không có đăng ký.+ Không chịu sự quản lý, điều tiết trực tiếp của Nhà nước cũng như không chịu sự điều tiết của các chính sách thị trường lao động

So với các doanh nghiệp ứong khu vực thị trường chính thức, các doanh nghiệp ữong khu vực không chính thức có đặc điểm:

+ Quy mô hoạt động nhỏ bé, có thể chỉ bao gồm một người chủ

và vài công nhân hoặc các thành viên hộ gia đình không trả lương.+ Hạ tầng cơ sờ cho sản xuất yếu kém, đặc biệt là địa điểm kinh doanh (chật hẹp, hay di chuyển); nguồn lực tài chính hạn hẹp; khó tiếp cận với công nghệ mới Việc làm ờ khu vực phi chính thức không nhất thiết đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn, kỳ năng, tay nghề cao mà chủ yếu là cần có kinh nghiệm trong công việc

Tuy là những cơ sờ cung cấp hàng hoá và dịch vụ nhỏ nhưng

có ưu điểm là khu vực phi chính thức được chỗ trống của các cơ sở lớn Khu vực này có thể tạo được việc làm cho những người di cư

từ nông thôn ra Tuy nhiên đa số những người làm việc ứong khu vực thành thị không chính thúc là người dân ở thành thị không có vốn để sản xuất kinh doanh và trình độ chuyên môn của họ thấp hay không có Thâm nhập vào khu vực thành thị không chính thức

là điều dễ dàng, chỉ với một số vốn nhỏ người ta có thể bán hàng rong ngoài phố, đạp xích lô hoặc làm một loạt các công việc khác

Trang 30

Đối với những nguời không có vốn cần thiết để tự tạo việc làm thì vẫn có cơ hội làm việc cho những người khác Do đó khu vực thành thị không chính thức có khá năng cung cấp và có khuynh hướng ở trạng thái cân bằng.

Tuy tiền công ờ khu vực này là thấp nhưng thục tế cho thấy,

đa số dân thành thị, kể cả những người di cư từ nông thôn ra đều có mức thu nhập trung bình cao hơn khu vực nông thôn

- Thị tnrờng lao động khu vực nông thôn (hình 3)

Khu vực nông thôn là khu vực mà việc làm chủ yếu trong nông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp (công nghiệp chế biến, dịch vụ ) chiếm tỷ lệ nhỏ Xu hướng chung là, khi kinh tế phát triển, khu vực nông thôn phát triển, việc làm phi nông nghiệp tăng ở khu vực nông thôn, thị trường lao động khu vục nông thôn sẽ phát triển sôi động hơn

Thị trường lao động khu vực nông thôn có những đặc điểm sau:+ Người lao động chủ yếu làm việc trong kinh tế hộ gia đình, lao động tự làm là chính Mục đích làm việc là góp phần cùng các thành viên khác trong gia đình tăng sán lượng (hoặc thu nhập) Quan hệ làm công ăn lương chua phát triển

+ Cung lao động khu vực nông thôn co dãn nhiều vì khu vực này có tỳ lệ tăng dân số nhanh so với khu vực thành thị c ầ u lao động lại ít co giãn vì cơ cấu sản xuất nông thôn chậm thay đổi, các nguồn lực cho sản xuất bị hạn chế

Tiền công ở thị trường này được xác định ở điểm cân bằng Điều này cũng phản ánh người lao động luôn tỉm được việc làm

Trang 31

Họ chấp nhận việc làm giản đơn, nặng nhọc và tiền công thấp (W3)

và thấp hơn mức tiền công ở khu vực thành thị không chính thức.Thị trường lao động ở khu vực nông thôn ở nước ta có những nét đặc trưng sau:

+ Là thị trường phôi thai, quan hệ mướn lao động, quan hệ làm công ăn lương chưa phát triển Sự thoả thuận trong quan hệ thuê mướn lỏng lẻo, thường không có hợp đồng lao động, hình thức đổi công làm thuê theo công nhật, vụ việc là chính

+ Quan hệ cung cầu lao động ở nông thôn thể hiện sự dư thừa lao động tiềm tàng cũng có nghĩa là ở tình trạng thiếu việc làm nghiêm ứọng

+ Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ờ trình

độ thấp: tiền công (trả cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp; tính cạnh tranh không cao; tính linh hoạt

và thích ứng của lao động rất hạn chế

Vói những đặc trưng cơ bản về nguồn lao động ở các nước đang phát triển khó có thể đưa ra được một nhận xét chung cho tất

cả các nước, bời vì giữa các nước có những thay đổi kh&c nhau Do

vậy, việc đánh giá và sử dụng nguồn lao động chính là đánh giá khả năng nguồn lao động sẵn có đối với nền kinh tế và cách thức để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động

Tại các nước phát triển nguồn lao động được đánh giá qua khái niệm lực lượng lao động Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm hay đang tim việc làm, thường được xác định chủ yếu qua tổng dân số, tỷ lệ dân số theo các nhóm tuổi, giới tính

và sự tự nguyện làm việc ngoài xã hội của phụ nữ Cho nên nguồn lao động thường có sự biến động ngắn hạn Chẳng hạn như nguồn

Trang 32

lao động thường có sự biến động có thể tăng nếu như ngoài xã hội

có nhiều việc làm

Trong điều kiện các nước đang phát triển, nhìn chung lực lượng lao động sẵn có không phải là một động lực cho sự phát triển Số người tim việc đông, trong khi những người đang làm việc cũng chưa được sử dụng hết năng lực Lao động phụ nữ thuờng gan

VỚI công việc nội trợ cùa gia đình Thực tế đã cho thấy rằng cùng với quá trình phát triển đi lên, số việc làm ngoài xã hội tăng mạnh

sẽ thu hút được nhiều lao động phụ nữ thoát khỏi lao động nội ượ Cho nên lao động phụ nữ ở các nước nước đang phát triển thường được coi là lao động dự trữ

Đe đánh giá việc chưa sừ dụng hết nguồn lao động ở các nước phát triển thường được xét qua số lượng người thất nghiệp hay tỳ lệ thất nghiệp Người thất nghiệp là người chua có việc làm và đang tích cực tỉm việc Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ thất nghiệp là một chi báo kết quà kinh tế được theo dõi chặt chẽ

Các nước đang phát triển thường không phản ảnh đúng sự thật

về việc chưa sù dụng hết nguồn lao động Vì số người đang làm

việc chưa đúng nghĩa "có việc làm chăc chăn" Tình trạng chưa svr

dụng hết lao động biểu hiện duới nhiều dạng, nên việc đánh giá nguồn lao động ở các nước đang phát triển là một vấn đề phức tạp Người ta cho rằng thất nghiệp vô hình hay bán thất nghiệp vô hình

là biểu hiện chính của tình ưạng chưa sử dụng hết nguồn lao động ở các nước đang phát triển

* Vai trò cua lao động với tăng tnrờng và phớt triển kinh tể

Lao động có vai trò đặc biệt hơn các nguồn lực khác vì lao động có tính 2 mặt

Trang 33

Trước hết, lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế Với vai trò này, lao động luôn được xem xét ở cả 2 khía cạnh, đó là chi phí và lợi ích Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng các yểu tố sản xuất khác Vì vậy, về lý thuyết ứong hoạt động kinh tế, cầu lao động hay người sử dụng lao động luôn dựa ưên nguyên lý: DL = MPL = MC Lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm nghèo thông qua chính sách (tạo việc làm, tổ chức lao động có hiệu quả, áp dụng công nghệ phù họp ).

Vai trò của lao động cũng còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai, đó

là lao động - một bộ phận của dân số, là người được hường thụ lợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu "phát triển vì con người và coi đó là động lực cùa sự phát triển" Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hầu hết các nước đều đặt ứọng tâm vào chiến lược phát triển con người

Việc nâng cao năng lực cơ bản của cá nhân, của người lao động sẽ giúp họ có nhiều cơ hội làm việc hơn Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ có điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao hrm chất lượng cuộc sống Kết quả là tăng nhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điều kiện năng suất lao động tăng.Những phân tích trên đã khẳng định lao động có vai ừò là động lực quan trọng trong tăng trường và phát ữiển kinh tế

* Đánh giá vai trò cùa lao động ở các nước đang phát triền

Một trong những lợi thế của các nước đang phát triển là lao động nhiều, giá lao động rẻ Tuy nhiên ở hầu hết các nước này, lao động lại chưa phải là động lực mạnh cho tăng trưởng và phát triển

Trang 34

kinh tế, nhất là các nước mà lao động nông nghiệp - nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao trong tồng số lực lượng lao động.

Bởi vì, lao động nhiều nhưng lại có biểu hiện của sự "dư thừa" hay tình trạng thiếu việc làm Lao động với năng suất thấp, phần đóng góp cùa lao động trong tổng thu nhập còn hạn che Nguyên nhân chù yếu là do kinh tế chậm phát triển, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và tăng trướng việc làm chậm được cài thiện, bồ sung thậm chí còn suy giảm (như quỹ đất đai trong nông nghiệp) Mặt khác, quan hệ lao động và thị trường lao động, nhất là ở nông thôn chậm phát triển cũng là nhân tố làm hạn chế vai trò của lao động

3.4 Khoa học và công nghệ vói ph át triển kinh tế

3.4.1 Vai trò cùa khoa học và công nghệ đổi với tăng

trưỏtíg và phát triển kinh tế

Khoa học công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá trinh phát triển kinh tế - xã hội Có thể khái quát vai trò của khoa học và công nghệ nhu sau:

a M ờ rộng khá năng sản xuất, thúc đây tăng trường và phát triển kinh tế

c Mác đã dự đoán rằng: Đến giai đoạn công nghiệp, việc sản

sinh ra sự giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và

sự tiến bộ của kỳ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất Như vậy, khoa học và công nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mới, mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới

về kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động

Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng: Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa

Trang 35

vào sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh; Làm biến đổi chất lượng nguồn lao động

Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giàn đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật, có ứí tuệ, nhờ đó nâng cao năng suất lao động; Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quà Khả năng đó được thể hiện thông qua quá trình hiện đại hoá các tổ chức trung gian tài chính, các hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tả i Khoa học và công nghệ tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Phát triển kinh tể theo chiều rộng là sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào của sản xuất như vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên Việc khai thác nhanh các yếu tố nguồn lực nói trên tất yếu sẽ dẫn tới cạn kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường sinh thái Vói sự ra đời của các công nghệ mới như sử dụng vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ điện tử, tin học, viễn thông

đã làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, nghĩa là thực hiện tăng trưởng kinh tế dựa ữên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sàn xuất Với vai trò này, khoa học và công nghệ là phương tiện đế chuyến nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức, ứong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động ứí tuệ là đặc điểm nổi bật

Trước đây trong suốt một thời gian dài, quan điểm sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tài nguyên, vốn sản xuất, lao động Nhumg các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã chứng minh ngoài các yếu tố ứên còn có các yếu tố khác ngày càng giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, đó là đổi mới công nghệ, đổi mới tổ chức quản lý , đặc biệt khi đứng trước những vấn

Trang 36

đề về môi trường, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thì yếu tố khoa học

và công nghệ càng ưở nên quan ừọng Đặc điểm của yếu tố này là khó xác định được sự đóng góp trực tiếp, nhung nó được thể hiện qua việc sừ dụng có hiệu quả các yếu tố khác như tăng năng suất lao động, tăng hiệu quà sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máy móc, thiết bị Không còn nghi ngờ gì khi xác định vai trò cùa công nghệ là một yếu tố đầu của quá trình sản xuất và thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo chiều sâu

b Thúc đẩy quá trình hình hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triền cùa các ngành, mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng ườ nên sâu sắc và đưa đến phân chia các ngành hàiih nhiều phân ngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, thể hiện:

- Tỷ ừọng trong GDP cùa ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng dần, còn cùa ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm

- Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao Lao động tri thức ngày càng chiếm

tỷ ứọng lớn, mức độ đô thị hoá cũng ngày càng tăng nhanh Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển khoa học và công nghệ

c Tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường

Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Muốn vậy các doanh nghiệp phải sàn xuất những mặt hàng

có nhu cầu lớn, tối thiều hoá chi phí các yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức hàng hoá cho

Trang 37

phù hợp Những yêu cầu đó chỉ được thực hiện khi áp dụng ttiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất, kinh doanh.

Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh không chi tạo ra lợi thế cạnh tranh, mà còn tạo ra nhiều sản phẩm mới, tăng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp', nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã có những tác động sau đây:

- Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại và đồng bộ

- Quy mô sàn xuất mờ rộng, thúc đẩy ra đời và phát triển các loại hình doanh nghiệp mới

- Tạo ra nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu chuyển sang hướng ngoại, hướng vào xuất khấu, từ thị trường ứong nước hướng ra thị trường thế giới, tàng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tể

Ngày nay, các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chi

có ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường thế giới, mà còn có ư u thế

về xuất khẩu tư bản, chuyển giao khoa học và công nghệ sang các nước khác

3.4.2 Chính sách phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển có thể lựa chọn những hướng để phát triển công nghệ mói, công nghệ cũ từ các nước phát triển, hay tự nguyên nghiên cứu chế tạo ra công nghệ cho phù hợp với nước mình

Một số nước có nguồn lao động dồi dào thì điều cần thiết là nên chọn lựa công nghệ thích hợp Bởi vì công nghệ ứng dụng từ

Trang 38

một số nước phát triển lại không thích hợp với nước nghèo Tại các nước phát triển rất chú trọng tới vấn đề tiết kiệm lao động thông qua cả; tiến kỹ thuật Nếu quá trình sản xuất được ứng dụng cơ giới hoá, tụ động hoá cao sẽ cần ít lao động thường tỏ ra phù hợp với những nước ít lao động Có một số công nghệ đòi hỏi kỹ thuật sử dụng cao thì các nước nghèo bị hạn chế, phải nhờ vào sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài.

Các nước nghèo trong điều kiện nghiên cứu phát minh còn hạn chế thì việc sử dụng công nghệ từ các nước phát triền là cần thiết Tuy nhiên phải thấy rằng việc thúc đẩy công tác nghiên cứu trong rước có tầm quan trọng

TÓM TẢT CHƯƠNG 3Xuất phát từ nghiên cứu nguồn gốc tăng trưởng và phát triển kinh té cho thấy có 4 nhân tố ảnh hường trực tiếp tới tăng trường và phát tiiển kinh tế là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa học ccng nghệ Đây là các nguồn lực quan trọng mà mỗi quốc gia nếu biết sử dụng hợp lý thì nền kinh tế sẽ đạt được hiệu quả kinh tế tối iru

] Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của luật pháp, thục tế có tham gia làm việc và những người không có việc nhưng đang tích cực tìm việc Neu như số lượng lao động phụ thuộc vào biến động dân số, độ tuổi lao động quy đ nh thì chất lượng nguồn lao động phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, tay nghề

2 Đặc trưng cơ bản của lao động ở các nước đang phát triển

là đại bộ phận lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, số

Trang 39

lượng lao động tăng nhanh, thu nhập lao động thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao và cơ cấu thị trường lao động chưa hoàn hảo.

3 Vốn sản xuất và toàn bộ các tài sản sản xuất được sử dụng làm phương tiện phục vụ trực tiếp vào sản xuất, v ố n đầu tư là toàn

bộ các khoản chi phí đang ứong quá trình chuyển hóa thành vốn sản xuất, lượng vốn đầu tư bổ sung hàng năm sẽ làm tăng thêm vốn sản xuất Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cà nền kinh tế mà

nó góp phần giải quyết công ăn việc làm là điều kiện để nâng cao ứình độ khoa học công nghệ

4 Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người khai thác, chuyển biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất

Tài nguyên thiên nhiên có thể được phân loại theo công dụng, theo khả năng tái sinh

Hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên là có trừ lượng là hữu hạn Nếu tài nguyên thiên nhiên khả năng tái tạo cũng phải mất một khoảng thời gian dài Từ đó, đòi hỏi con người trong quá trình kliai tliác, sử đụng tài nguycii thiên nliiên phải đảm bào gán kết chạt chẽ giữa lợi ích trước mắt, lâu dài với bảo vệ môi trường sinh thái tức là luôn phải coi trọng đến các yêu cầu của phát triển bền vững

5 Khoa học là một hệ thống tri thức của con người về thế giới quan, là tổng hợp nhận thức của con người về bản chất và quy luật của thực tiễn khách quan đó Khoa học được thể hiện bằng những phát minh duới dạng lý thuyết, định luật, định lý, nguyên tắc

Công nghệ là tập hợp những hiểu biết, sáng tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống nhằm biến đổi đầu vào và cho đưa ra các sản phẩm và dịch vụ trong nước

Trang 40

Giữa khoa học và công nghệ có mối quan hệ biện chứng: khoa học được nghiên cứu để áp dụng cho thực hiện sản xuất phục

vụ cho công nghệ ngày càng phát ứiển Ngược lại trong quá trình phát triển những vuớng mắc cùa công nghệ là đề tài cho khoa học giúp hoàn thiện công nghệ

Khoa học công nghệ có vai ưò thúc đẩy phát ưiền kinh tế rất lớn thể hiện qua: thúc đầy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng khái niệm sản xuất cùa nền kinh tế, thúc đẩy tăng trường và phát triển kinh tế Đẻ phát ứiển khoa học công nghệ các nước đang phát triển cần phát huy lợi the của nước đi sau, cần

có chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ mới, kết hợp việc đổi mới công nghệ và phát triển công nghệ hiện đại nhằm phát triển kinh tế

CÂU H ỎI VÀ BÀI TẬP

I Câu hỏi

1 Thực trạng nguồn lao động cùa Việt Nam từ năm 2010 đến nay?

2 H ãy cho biết mối quan hệ giữa ODA, FDI và NGO trong

q u á trìn h p h á t triển kinh tế Việt N am ?

II Bài tập

Năm 2014, GDP của Việt Nam đạt 184 tỷ USD, tỷ lệ tích lũy chiếm 34% trong GDP Giá sử 3/4 tỷ lệ tích lũy được dành cho đầu tư, và 1/2 lượng vốn đầu tư được giải ngân hết Hỏi đề có thể đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,6% vào năm 2015, với hệ số ICOR bằng 5, Việt Nam phải huy động thêm lượng vốn đầu tư nước ngoài là bao nhiêu?

Ngày đăng: 23/03/2023, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN