Giáo trình Kinh tế phát triển (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) nhằm trang bị hệ thống kiến thức cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc tiếp cận, nghiên cứu phát triển kinh tế ngành. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: các nước đang phát triển và sự lựa chọn con đường phát triển; tổng quan về sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế; cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; các nguồn lực với phát triển kinh tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Sự phân chia các nước theo trình độ phát triển
1.1 Sự xuất hiện thế giới thứ ba
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làn sóng giải phóng thuộc địa bùng nổ mạnh mẽ ở châu Á, rồi lan sang các nước Châu Phi
- Việc giải phóng thuộc địa đã làm xuất hiện một nhân tố mới trên sân khấu chính trị quốc tế: “ thế giới thứ ba” “Thế giới thứ ba” đƣợc gọi để phân biệt với “ thế giới thứ nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển - đi theo con đường tư bản chủ nghĩa “ Thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế tương đối phát triển - đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
- Để tránh rơi vào khối này hoặc khối khác, nhiều quốc gia thuốc thế giới thứ ba đã tìm cách liên kết lại với nhau, phủ nhận việc phân chia thế giới thành Đông – Tây Các nước thuộc “ thế giới thứ ba” đã có chủ trương trung lập,
1.2 Phân chia các nước theo trình độ phát triển kinh tế
Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đang phát triển đã có sự phân hóa mạnh, nhờ có sự ưu đãi của thiên nhiên nên một số nước đã tạo được nguồn thu nhập lớn cho đất nước Xuất phát từ thực tế này, Ngân hàng thế giới (WB) đề nghị một sự sắp xếp các nước thế giới thành 4 nhóm
Nhóm 1: Các nước công nghiệp phát triển – DCs
Có khoảng 40 nước thuộc nhóm này có GNI/người trên 15.000 USD và tỷ trọng công nghiệp cao trong nền kinh tế Điển hình là các nước thuộc nhóm G7: Mỹ, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Ý và Canada Năm 1999, Nga được bổ sung vào nhóm, hình thành nhóm G8.
Các nước có nên công nghiệp phát triển: là các nước thuộc khu vực Tây Âu, Bắc Âu, Đông Âu, Oxtraylia, Niudilan…
Nhóm 2: Các nước công nghiệp mới – NICs
Thu nhập bình quân đầu người của các nước này đạt khoảng trên 6.000 USD/người và có khoảng 10 nước, vùng lãnh thổ đạt trình độ NICs như Hy Lạp,
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Braxin, Mexico, Hồng Kong, Đài Loan, Singapo, Hàn Quốc…
Nhóm 3 gồm các nước xuất khẩu dầu mỏ, những nước đã tận dụng nguồn dầu mỏ dồi dào để khai thác và xuất khẩu dầu mỏ Các nước này đã tập hợp lại thành Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Nhóm 4: Các nước đang phát triển – LDCs
Là những nước hầu hết đều thuộc thế giới thứ ba - các nước có nền công nghiệp lạc hậu, hoặc đang đi lên
- Nước có mức thu nhập bình quân/người: GNI/người >2.000USD/người
- Nước có mức thu nhập bình quân/người: GNI/người > 600USD/người
- Nước có mức thu nhập bình quân/người: GNI/người < 600USD/người
TỔNG QUAN VỀ SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
Bản chất của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu và là nền tảng để các các mục tiêu khác bắt rễ và vận động Điều này lại càng quan trọng với các nước đang phát triển (LDCs) trên con đường đuổi kịp và hội nhập với thế giới về kinh tế, văn hóa và xã hội
1.1.Khái niệm về tăng trưởng, phát triển kinh tế và phát triển bền vững a) Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Gần đây, khái niệm tăng trưởng được mở rộng theo hướng định nghĩa sau: tăng trưởng là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GDP) trong một thời kỳ nhất định, đồng thời là sự gia tăng các yếu tố sản xuất được sử dụng trong điều kiện kinh tế vĩ mô tương đối ổn định.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế bao hàm các câu hỏi cơ bản: tăng trưởng tạo ra cái gì, tăng trưởng dựa trên điều kiện cơ bản nào và tăng trưởng ở trạng thái ra sao Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên trên mọi mặt của nền kinh tế và là quá trình biến đổi liên tục về kinh tế, xã hội và cấu trúc theo hướng tiến bộ Như vậy, phát triển kinh tế bao gồm các nội dung cơ bản được hình thành từ tăng trưởng và các yếu tố xã hội, công nghệ và thể chế, nhằm đạt sự tiến bộ bền vững cho nền kinh tế.
+ Phát triển là một quá trình, bao gồm sự thay đổi số lƣợng và chất lƣợng kinh tế, xã hội và cấu trúc
+ Phát triển bao hàm quá trình tăng trưởng tương đối ổn định, dần đi vào hiệu quả
+ Nội hàm của phát triển là chuyển dịch mặt bằng kinh tế, xã hội và giai đoạn kinh tế c) Phát triển bền vững
Trong thập niên 1970–1980, khi nhiều nước đạt được quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất định, tình trạng suy kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng Các vấn đề này xuất hiện và có thể được giải quyết ở phạm vi quốc gia, liên quốc gia và toàn cầu Vấn đề phát triển bền vững nhanh chóng trở thành chương trình nghị sự của mỗi nước và của cả thế giới.
Năm 1987, Ngân hàng Thế giới lần đầu công bố khái niệm phát triển bền vững: đó là quá trình phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Định nghĩa này nhấn mạnh sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội, đồng thời làm nền tảng cho chiến lược phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu Theo đó, phát triển bền vững đòi hỏi quản lý nguồn lực có hiệu quả, giảm thiểu tác động tiêu cực đến thiên nhiên và đảm bảo nguồn lực lâu dài cho các thế hệ tiếp theo.
Quan niệm trên của WB (Ngân hàng Thế giới) cho đến nay chủ yếu tập trung vào sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống trong quá trình phát triển, đồng thời hướng tới phát triển bền vững và sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái.
Tăng trưởng cao, ổn định
Mục tiêu xã hội Mục tiêu môi trường
Bảo vệ, cải thiện TNTN,
- Cải thiện các điều kiện xã hội
Cải thiện môi trường, bảo vệ TNTN
Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesbug (Nam Phi) năm 2002 đã định nghĩa: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống…
1.2 Đánh giá sự phát triển kinh tế
1.2.1 Đánh giá tăng trưởng kinh tế
Trong mô hình kinh tế thị trường, thước đo tăng trưởng kinh tế được xác định dựa trên các chi tiêu và luồng giá trị của hệ thống tài sản quốc gia (SNA) Các chỉ tiêu chủ yếu bao gồm Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross Output): tổng giá trị bằng tiền của toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một kỳ, thường là một năm, phản ánh quy mô hoạt động và đóng góp của khu vực sản xuất vào nền kinh tế.
Về phương pháp tính chỉ tiêu GO, xét theo cấu trúc giá trị, GO bao gồm:
C: Chi phí về lao động quá khứ
V: Chi phí về lao động sống
Cách xác định chỉ tiêu giá trị sản xuất:
Cách 1: Căn cứ vào kết quả của quá trình tạo ra thành quả lao động, GO gồm có:
+ Giá trị thành phẩm đã sản xuất đƣợc trong kì
+ Giá trị bán thành phẩm đã tiêu thụ trong kì
+ Giá trị phụ, phế phẩm, thứ phẩm, phế liệu đã tận thu để sử dụng hoặc tiêu thụ trong kì
+ Chênh lệch giá trị sản xuất dở dang cuối kì so với đầu kì
+ Giá trị các công việc dịch vụ của ngành làm cho bên ngoài đƣợc tính theo qui định đặc biệt
+ Tiền thu được do cho thuê tài sản cố định kèm theo người điều khiển
Cách 2: căn cứ vào thông tin thu thập đƣợc từ biểu 02 báo cáo tài chính của doanh nghiệp về "kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp", GO bao gồm:
+ Doanh thu tiêu thụ sản phẩm sản xuất chính
+ Doanh thu tiêu thụ sản phẩm sản xuất phụ
+ Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm
+ Chênh lệch cuối kì so với đầu kì thành phẩm tồn kho
+ Chênh lệch cuối kì so với đầu kì sản phẩm sản xuất dở dang, công cụ mô hình tự chế
+ Chênh lệch cuối kì so với đầu kì giá trị hàng hoá gửi bán chƣa thu đƣợc tiền + Giá trị sản phẩm đƣợc tính theo qui định đặc biệt
+ Tiền thu được do cho thuê tài sản cố định kèm theo người điều khiển
Giá trị sản phẩm dịch vụ làm thuê cho bên ngoài đã hoàn thành trong kỳ Để tính chỉ tiêu GO, người ta phải đưa toàn bộ kết quả về đơn vị giá trị để có thể tổng hợp được Trong tính toán thực tế hiện nay, các doanh nghiệp thường sử dụng giá sử dụng cuối cùng với hai mục đích: một là ước tính chi phí và hiệu quả của hoạt động cho thuê ngoài, hai là định giá đầu ra để phục vụ cho báo cáo quản trị và tài chính.
+ Để phản ánh kết quả thực tế sản xuất, kinh doanh, xác định mức lỗ, lãi của doanh nghiệp, thống kê tính GO theo giá hiện hành của giá sử dụng cuối cùng + Để so sánh động thái về kết quả sản xuất, kinh doanh, loại trừ ảnh hưởng của yếu tố giá cả, thống kê tính GO theo giá so sánh của giá sử dụng cuối cùng Tuy nhiên, do mỗi ngành sản xuất đều có những đặc điểm riêng nên nội dung cụ thể tính chỉ tiêu GO trong từng ngành cũng có điểm khác nhau b Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định
- Theo cách tiếp cận từ sản xuất, GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn bộ nền kinh tế Nó đƣợc đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị sản xuất thường trú trong nền kinh tế
GDP theo cách tiếp cận từ chi tiêu là tổng chi cho hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong nền kinh tế Công thức tương ứng là GDP = C + G + I + (X - M), trong đó C là chi tiêu tiêu dùng của các hộ gia đình, G là chi tiêu của Chính phủ, I là đầu tư tích lũy tài sản và (X - M) là chi qua thương mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu Phương pháp này cho thấy vai trò của tiêu dùng, chi tiêu công, đầu tư và cán cân thương mại đối với quy mô và tăng trưởng của GDP, đồng thời giúp phân tích tác động của từng thành phần lên nền kinh tế.
Theo cách tiếp cận từ thu nhập, GDP được xác định dựa trên hình thành và phân phối thu nhập lần đầu Các thành phần cấu thành bao gồm thu nhập của người lao động (W), thu nhập từ cho thuê đất (R), thu nhập từ cho vay (In), thu nhập từ vốn (Pr), khấu hao vốn cố định (Dp) và thuế kinh doanh (Ti).
Nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
2.1 Các nhân tố kinh tế Đây là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra của nền kinh tế Xuất phát của nghiên cứu đƣợc bắt đầu bằng hàm sản xuất tổng quát:
Y = F(Xi) Trong đó: Y là giá trị đầu ra
Xi là giá trị các biến số đầu vào
2.1.1 Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung
Trong phân tích tăng trưởng kinh tế, các yếu tố tổng cung được quy về bốn nguồn lực chủ yếu: vốn (K), lao động (L), tài nguyên, đất đai (R) và công nghệ kỹ thuật (T) theo một hàm sản xuất Hàm sản xuất cho thấy cách các yếu tố này phối hợp để quyết định đầu ra và mức độ tăng trưởng dài hạn, nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức đầu tư vốn, mức sử dụng lao động, khai thác tài nguyên hợp lý và tiến bộ công nghệ Vốn và lao động cung cấp nguồn lực cơ bản cho quá trình sản xuất, trong khi tài nguyên và đất đai đảm bảo nguồn cung tài nguyên tự nhiên, và công nghệ nâng cao năng suất bằng cách cải thiện hiệu quả sản xuất Do đó, sự tăng trưởng kinh tế bền vững phụ thuộc vào sự gia tăng và tối ưu hóa đồng thời của bốn yếu tố nguồn lực này thông qua hàm sản xuất.
Vốn (K) được hiểu ở góc độ vốn vật chất, không phải dưới dạng tiền tệ hay giá trị trừu tượng Đây là toàn bộ tư liệu vật chất mà nền kinh tế đã tích lũy, bao gồm nhà máy, máy móc, thiết bị và nhà xưởng, được sử dụng làm các yếu tố đầu vào trong sản xuất.
+ Lao động (L): Gọi là vốn nhân lực, đó là các LĐ có kỹ năng sản xuất, có thể làm chủ đƣợc hoạt động SX
Đất đai và tài nguyên thiên nhiên (R) được coi là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất Đất đai đóng vai trò thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu trong việc bố trí các cơ sở kinh tế thuộc các ngành công nghiệp và dịch vụ.
+ Công nghệ kỹ thuật (T): đƣợc quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại
- Cơ chế tác động của các yếu tố tổng cung đến tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua mô tổng cung - tổng cầu (AS – AD) và đƣợc mô tả nhƣ sau:
Mô hình AD-AS với sự tác động của các yếu tố tổng cung
Theo mô hình trên, điểm cân bằng ban đầu của nền kinh tế là E 0 (Y0, PL0)
+ Vì lý do nào đó mà một trong các nhân tố của tổng cung thay đổi theo chiều hướng tăng thì tổng cung sẽ tăng lên
AS0 AS 1 Thu nhập tăng và mức giá cả chung giảm, điểm cân bằng mới của nền kinh tế là E 1 (Y1, PL1)
+ Ngƣợc lại: Nếu một trong các yếu tố của tổng cung thay đổi theo chiều hướng giảm, tổng cung sẽ giảm
AS0 AS 2 Thu nhập giảm và mức giá cả chung tăng điểm cân bằng mới của nền kinh tế là E 2 (Y2, PL2)
2.1.2 Các nhân tố tác động đến tổng cầu
Yếu tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế chính là khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán, tức là tổng cầu (AD) của nền kinh tế:
- Các yếu tố cấu thành tổng cầu:
+ Chi cho tiêu dùng cá nhân (C)
+ Chi tiêu của Chính Phủ (G)
+ Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX = X – M), NX là chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế
- Tác động của tổng cầu đến tăng trưởng kinh tế được phân tích qua mô hình sau:
Mô hình AD –AS với sự dịch chuyển của đường AD
- Điểm cân bằng ban đầu của nền kinh tế là E0 (Y0, PL0)
+ Vì lý do nào đó mà một trong các nhân tố của tổng cầu thay đổi theo chiều hướng tăng thì tổng cầu sẽ tăng lên
AD 0 AD 1 Thu nhập tăng và mức giá cả chung tăng
+ Ngƣợc lại: AD0 AD 2 Thu nhập giảm và mức giá cả chung giảm
2.2 Các nhân tố phi kinh tế
Có nhiều nhân tố phi kinh tế có tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Phạm vi bài giảng chỉ đề cập đến một số nhân tố sau đây:
2.2.1 Truyền thống, tập quán với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Truyền thống tập quán (trong sản xuất, tiêu dùng và các sinh hoạt xã hội) là kết quả lâu dài của lịch sử - tự nhiên và xã hội, đƣợc thể hiện qua kiểu cách sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, các hình thức sinh hoạt xã hội của các cộng đồng, các khu vực và vùng lãnh thổ
Quốc tế hóa và toàn cầu hóa mở rộng thị trường các yếu tố sản xuất, như lao động, vốn và công nghệ Ngược lại, truyền thống và tập quán ít chịu ảnh hưởng của quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa, từ đó trở thành lợi thế để các quốc gia duy trì tăng trưởng và chuyển hóa truyền thống thành hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa và thị trường nước ngoài.
Truyền thống và tập quán mang lại lợi thế nhất định, nhưng không phải yếu tố tuyệt đối hay vĩnh viễn Khoa học và nghệ thuật vận dụng truyền thống, tập quán đòi hỏi sự phối hợp với các yếu tố kinh tế và thời đại để biến chúng thành hàng hóa, dịch vụ được thị trường chấp nhận và cạnh tranh hiệu quả Do đó, các sản phẩm dựa trên nền tảng truyền thống cần duy trì tính cạnh tranh ở các thị trường trong nước và quốc tế.
2.2.2 Các thể chế có tính tự nguyện của các cộng đồng
Nhân tố này cũng là kết quả của quá trình lịch sử -tự nhiên và xã hội Nó đƣợc các cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện cùng xây dựng và thực hiện các quy ƣớc của các cộng đồng dân cƣ (hoặc dân tộc) về các hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội
Với các thể chế này, một hệ thống ràng buộc, hệ thống hành lang và luật chơi đƣợc vận hành Nó tác động tích cực và cả tiêu cực đến sự phát triển Sự tác động của hệ thống này thường vận động ngược chiều với đà phát triển kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện của thể chế quản lý của Chinh phủ Một khi đất nước đã đi vào phát triển hiện đại các thể chế này có thể lụi tàn, thay vào đó là hệ thống thể chế quản lý của Chính phủ
2.2.3 Các hình thái ý thức xã hội (các tôn giáo)
Mỗi hình thái ý thức xã hội, đặc biệt tôn giáo, nắm giữ một hệ thống giá trị mà tín đồ và toàn thể giáo hội luôn theo đuổi; theo các giá trị đó là hệ thống giáo luật và quy định được đặt ra cho tín đồ để duy trì trật tự và chuẩn mực hành xử Khi các hệ thống này được vận hành, chúng ghi dấu và tác động lên quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của xã hội, thể hiện mối liên hệ giữa tín ngưỡng và kinh tế.
Tín đồ đạo Hồi coi con heo là con vật dơ bẩn nên ngành nuôi và chế biến thịt heo không phát triển Trong khi đó nghĩa vụ đóng thuế đƣợc coi là giáo luật nên nguồn thu của ngân sách Chính phủ tương đối ổn định Phụ nữ không được khuyến khích đi làm nên một bộ phận tài nguyên bị lãng phí
Do vậy, chiến lƣợc và chính sách phát triển, đặc biệt những quốc gia đa tôn giáo cần phải đặc biệt coi trọng cân bằng lợi ích của các tôn giáo
2.2.4 Diễn biến của thời tiết
CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Khái niệm và các loại cơ cấu kinh tế
1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đánh giá, so sánh các giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Cơ cấu hay kết cấu hay “kết cấu” là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tƣợng đó, trong một thời gian nhất định 1.2 Các loại cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu ngành kinh tế
- Cơ cấu vùng kinh tế
- Cơ cấu thành phần kinh tế
- Cơ cấu khu vực thể chế
Trong đó, cơ cấu ngành là quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của LLSX.
CÁC NGUỒN LỰC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Nguồn lực lao động với phát triển kinh tế
1.1 Nguồn lực lao động và các nhân tố ảnh hưởng
1.1.1 Nguồn lao động và lực lượng lao động
Nguồn lao động và lực lƣợng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Theo Bộ Lao động, độ tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 tuổi và của nữ từ
Nguồn lao động luôn đƣợc xem xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lƣợng và chất lƣợng
Về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm:
- Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
- Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định)
Về mặt chất lượng, nguồn lao động cơ bản đƣợc đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), lực lượng lao động là bộ phận dân số ở độ tuổi lao động, bao gồm những người đang làm việc và những người đang thất nghiệp Ở Việt Nam, lực lượng lao động được định nghĩa là những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm hoặc đang tìm việc làm (thất nghiệp) Lực lượng lao động được xem như dân số hoạt động kinh tế và phản ánh khả năng cung ứng lao động cho nền kinh tế xã hội.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động
1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động (LLLĐ) a Dân số
- Biến động dân số tự nhiên: Biến động dân số tự nhiên do tác động của sinh đẻ và tử vong Tỷ lệ sinh và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ thành công của chính sách kiểm soát dân số
Dân số tăng nhanh trong khi kinh tế tăng trưởng chậm đã khiến mức sống của người dân ở các nước đang phát triển cải thiện chậm và tạo áp lực lớn đối với việc làm Vì vậy, kế hoạch hóa dân số song hành với phát triển kinh tế trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt ở các nước đang phát triển.
- Biến động dân số cơ học: là do tác động của di dân (di cƣ) Di dân tác động đến quy mô và cơ cấu lao động, đặc biệt cơ cấu lao động khu vực thành thị và nông thôn Vì vậy, dân số và lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị là biểu hiện chính của xu hướng di dân trong nước b Tỷ lệ tham gia LLLĐ
Tỷ lệ tham gia LLLĐ là tỷ số giữa số người đủ 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ trên dân số đủ 15 tuổi trở lên
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động a Giáo dục và cải thiện chất lƣợng lao động
- Giáo dục là cách thức để tăng tích lũy vốn con người đặc biệt là tri thức
- Giáo dục tạo ra một LLLĐ có trình độ, có kỹ năng làm việc với năng suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững
- Giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức khỏe, dinh dƣỡng b Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và cải thiện chất lƣợng lao động
Sức khỏe có tác động tới chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc
Sức khỏe của người lao động thông thường, được đánh giá ở thể lực (chiều cao, cân nặng) Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dƣỡng và chăm sóc sức khỏe c Tác phong công nghiệp, tính kỷ luật của người lao động và chất lượng lao động
1.2 Cơ cấu việc làm và thị trường lao động
1.2.1 Đặc trưng cơ bản của thị trường lao động ở các nước đang phát triển a Đại bộ phận việc làm là trong khu vực nông nghiệp
Việc làm trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển có xu hướng giảm theo thời gian nhƣng vẫn chiếm tỷ trọng lớn Mức độ phân bố lại LLLĐ giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của nền kinh tế b Số người tự làm việc còn chiếm đa số
Khi nói đến thị trường lao động thường nói đến “việc làm được trả công” và
Việc làm đƣợc trả công nảy sinh trong quá trình mua bán sức lao động và nó phụ thuộc vào 2 yếu tố cung và cầu lao động
Tự làm việc là người lao động tự bản thân họ khai thác sức lao động của mình mà không cần bất kỳ sự trao đổi nào Quy mô của “người tự làm việc” phụ thuộc phần lớn vào cung lao động
Một trong những đặc điểm chung của các nước đang phát triển là có sự hiện diện rất đông đảo „người tự làm việc” Đa số họ hoạt động trong khu vực nông nghiệp và có nhiều lao động nữ tham gia
47 c Thị trường lao động bị phân mảng Ở các nước phát triển, lao động được di chuyển khá linh hoạt giữa các ngành nghề và khu vực kinh tế khác nhau do sự chênh lệch về tiền lương giữa các khu vực có xu hướng giảm đi và thị trường lao động không bị chia cắt Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển có sự chênh lệch rất đáng kể về mức tiền lương và các điều kiện lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa khu vực chính thức và phi chính thức, hay nói cách khác, thị trường lao động bị phân mảng
1.2.2 Cơ cấu việc làm và thị trường lao động ở các nước đang phát triển a Thị trường lao động khu vực thành thị chính thức
Khu vực thành thị chính thức là khu vực bao gồm các tổ chức (đơn vị) kinh tế có quy mô tương đối lớn và hoạt động ở nhiều lĩnh vực như sản xuất (công nghiệp, xây dựng), dịch vụ (ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế, du lịch, …) và lĩnh vực quản lý
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường với phát triển kinh tế
2.1 Đặc điểm và phân loại tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
- Sự phân bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất, phụ thuộc vào cấu tạo địa chất, thời tiết, khí hậu của từng vùng
- Đại bộ phận Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao, đƣợc hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử
Các tài nguyên thiên nhiên có tính chất quý hiếm, nên trong quá trình khai thác và sử dụng cần có ý thức bảo tồn, tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả Việc quản lý nguồn lực một cách cân bằng giúp đảm bảo nguồn lực cho các thế hệ tương lai và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Để khai thác bền vững, cần ứng dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu hóa quy trình và thúc đẩy tiết kiệm năng lượng Sự tham gia của cộng đồng người tiêu dùng và doanh nghiệp vào bảo tồn tài nguyên là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, tái chế và tái sử dụng giúp giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực.
2.1.2 Phân loại Tài nguyên thiên nhiên a Phân loại theo công dụng:
=> Mục đích phân loại Tài nguyên thiên nhiên theo công dụng là: xác định vai trò của nguồn Tài nguyên thiên nhiên trong quá trình hoạt động kinh tế cũng như đời sống của con người b Phân loại theo khả năng tái sinh:
Tài nguyên hữu hạn là các loại nguồn lực có trữ lượng giới hạn và sẽ giảm dần theo quá trình khai thác và sử dụng của con người Nhận thức được đặc tính khan hiếm của chúng giúp định hướng các chiến lược quản lý và phát triển bền vững, giảm thiểu tác động đến môi trường Tài nguyên hữu hạn được phân thành hai loại chính, mỗi loại có đặc điểm và ảnh hưởng riêng đến kinh tế, xã hội và môi trường.
Tài nguyên không thể tái tạo nhƣ: khoáng sản kim loại, phi kim loại, than đá, dầu mỏ
Tài nguyên có thể tái tạo nhƣ: rừng,
Tài nguyên vô hạn: Là các loại tài nguyên có thể tự tái tạo liên tục, không cần đến sự tác động của con người Ví dụ như sự tuần hoàn tự nhiên của nước, không khí,…
Phân loại nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm xây dựng các chiến lược khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên một cách hợp lý và hiệu quả Nội dung này đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài với công cuộc bảo vệ môi trường, hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững và tối ưu hóa lợi ích cho cộng đồng.
2.2 Tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế
2.2.1 Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng
- Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong bối cảnh tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đảm bảo thành công; chúng sẽ trở thành sức mạnh kinh tế thật sự khi con người biết khai thác và sử dụng hiệu quả, nâng cao năng suất và tối ưu hóa giá trị từ nguồn tài nguyên để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Ví dụ: Các nước có nhiều Tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn là nước kém phát triển như Cô Oét, Arập Sêut Nhưng Nhật Bản là nước ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành nước công nghiệp phát triển
2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tích luỹ vốn và phát triển ổn định a Cơ sở tích luỹ vốn
- Tích luỹ vốn đòi hỏi quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài;
- Với những nước có nguồn Tài nguyên thiên nhiên lớn, đa dạng thì quá trình này đƣợc rút ngắn
Bằng cách: Khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo nguồn tích luỹ vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước b Phát triển ổn định
- Nguồn Tài nguyên thiên nhiên thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước
Việc sở hữu nguồn lực giàu có, đặc biệt về năng lượng, giúp một quốc gia giảm đáng kể sự phụ thuộc vào các nước khác và tăng cường an ninh tài nguyên Nhờ đó, nước đó có thể duy trì tăng trưởng ổn định và độc lập ngay cả khi thị trường tài nguyên thế giới rơi vào trạng thái bất ổn Trong bối cảnh thị trường năng lượng và khoáng sản toàn cầu thường xuyên biến động, sự tự chủ về tài nguyên đóng vai trò then chốt cho sự phát triển bền vững và khả năng chống chịu kinh tế.
- Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến năm 1975, Hà Lan đạt đƣợc thành công:
+ Lạm phát ít khi vƣợt qua 3%/năm
+ Tốc độ tăng GDP thường trên 5%
+ Nạn thất nghiệp giao động xung quanh tỷ lệ 1%
→ Bí quyết thành công là: Khu vực xuất khẩu truyền thống có sức cạnh tranh mạnh so với đối thủ trên toàn thế giới nhƣ sản phẩm nông nghiệp và hàng điện tử
Đầu thập niên 1970, Hà Lan phát hiện trữ lượng khí đốt tự nhiên đáng kể, mở đường cho xuất khẩu khí đốt ở quy mô lớn và ngay lập tức làm tăng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu lên khoảng 10% Sự gia tăng này đóng góp vào mức tăng GDP khoảng 4% và khiến tỷ giá hối đoái biến động, đồng thời Hà Lan mất gần 30% thị phần với các bạn hàng truyền thống trên thị trường quốc tế.
- Kết quả: Chi phí sản xuất trong nước tăng lên, đồng đô la trên thị trường trong nước bị sụt giá
→ Tỷ lệ lạm phát tăng từ 2% năm 1970 lên 10% năm 1975 và tốc độ tăng GDP giảm từ 5% xuống còn 1%
2.3 Khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái
2.3.1 Vai trò của nhà nước
- Hoạch định chính sách và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước có đủ năng lực để thực hiện đồng bộ chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái
- Khuyến khích phát triển các ngành khoa học về tài nguyên, môi trường
Ban hành chính sách thực hiện tiết kiệm trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và khuyến khích phát triển công nghệ tiên tiến có khả năng giảm thiểu và xử lý các loại phế thải, nhằm thúc đẩy sự bền vững và tăng trưởng xanh Chính sách hướng tới chuyển đổi nền kinh tế theo hướng vòng đời sản phẩm và công nghệ xanh, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu chất thải Việc ưu tiên tiết kiệm tài nguyên và xử lý chất thải hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Thời gian tới, cần tăng cường hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng để triển khai rộng rãi các sáng kiến công nghệ xanh và các biện pháp giảm thiểu phế thải.
Vốn với sự phát triển kinh tế
3.1 Vốn sản xuất và vốn đầu tƣ
Vốn sản xuất đƣợc bắt nguồn từ quan niệm về tài sản quốc gia Tài sản quốc gia đƣợc hiểu nhƣ sau:
Theo nghĩa rộng: Tài nguyên thiên nhiên của đất nước, các loại tài sản được sản xuất ra và nguồn vốn con người
Theo nghĩa hẹp: Là toàn bộ của cải vật chất do lao động sáng tạo của con người tích luỹ lại qua thời gian theo tiến trình lịch sử phát triển của đất nước
Nhƣ vậy, vốn sản xuất là giá trị của những tài sản đƣợc sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
Dựa vào chức năng tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế có thể phân biệt Vốn cố định và Vốn lưu động
3.1.2 Vốn đầu tư và các hình thức đầu tư
Vốn đầu tƣ, bao gồm:
+ Vốn đầu tƣ vào TSCĐ: Vốn đầu tƣ cơ bản và vốn đầu tƣ sửa chữa lớn + Vốn đầu tƣ vào TSLĐ
Nhƣ vậy, Hoạt động đầu tƣ cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tƣ để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói cách khác, đó là quá trình thực hiện tái sx các loại tài sản sản xuất
Có 3 lý do để tiến hành hoạt động đầu tƣ:
- Thứ nhất: Là do đặc điểm của việc sử dụng tài sản (TSCĐ và TSLĐ)
- Thứ hai: Là do nhu cầu quy mô sản xuất HH ngày càng mở rộng
- Thứ ba: Là do thời đại của tiến bộ khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ Hình thức đầu tƣ:
3.2 Vai trò của vốn sản xuất và vốn đầu tƣ với phát triển kinh tế
3.2.1 Phân tích mô hình của Harrod Domar
Vào cuối những năm 1930, theo học thuyết kinh tế của Keynes, nền kinh tế có thể đạt được và duy trì sự cân bằng ở mức dưới sản lượng tiềm năng Tuy nhiên, ông nhận thấy xu hướng phát triển là đẩy sản lượng thực tế tiến gần hơn mức sản lượng tiềm năng càng tốt Để thực hiện sự chuyển dịch này, vai trò của đầu tư là yếu tố quyết định Nói cách khác, kích thích đầu tư sẽ thúc đẩy sản lượng thực tế tăng lên và thu hẹp khoảng cách với sản lượng tiềm năng.
- Khi nghiên cứu mô hình kinh tế này, hai nhà khoa học là Roy Harrod (Anh) và Evsay Domar (Mỹ) đã đƣa ra mô hình mang tên Harrod Domar Mô hình cho rằng, đầu ra của đơn vị kinh tế, ngành hay toàn bộ nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng vốn đầu tƣ cho đơn vị đó
+ Tốc độ tăng trưởng đầu ra (g) g = Y/Y (1)
Vốn đầu tƣ Hoạt động đầu tƣ sx
Tài sản vật chất cụ thể
Y: Đầu ra + Tỷ lệ tích lũy trong GDP (s) s = S t /Y (2)
St: Mức tích lũy của nền kinh tế
Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tƣ, nên về mặt lý thuyết đầu tƣ luôn bằng tiết kiệm (S t = It) s = I t /Y (3)
Đầu tư nhằm mục đích tạo vốn sản xuất nên biến động vốn được biểu diễn bằng ΔK_t Nếu ICOR (hệ số ICOR) k là tỷ lệ tăng giữa vốn và sản lượng, ta có k = ΔK_t / ΔY_t hoặc k = I_t / ΔY_t Mặt khác, g = ΔY / Y là tăng trưởng sản lượng, và nếu I_t = sY_t với s là tỷ lệ tiết kiệm, ta có g = s / k Nói cách khác, mức tăng trưởng sản lượng phụ thuộc vào mức tiết kiệm và ICOR, tức là độ hiệu quả của vốn đầu tư trong việc sinh lời sản lượng.
Hệ số ICOR cho biết: vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhà máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoan tiết kiệm của dân cƣ, đơn vị là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tƣ
3.2.2 Tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế
Hình 1.1: Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Nếu như nền kinh tế, với đường tổng cầu AD 0 đang cân bằng tại điểm E0 thì dưới tác động của tăng đầu tư sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sảng phải, vào vị trí AD 1 , thiết lập điểm cần bằng mới E 1 Điều đó cũng đồng nghĩa với việc làm cho mức sản lƣợng tăng từ Y0 lên Y1 và mức giá tăng từ P0 lên P1
Hình 1.2: Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Nếu như nền kinh tế, với đường tổng cung AS0 đang cân bằng tại điểm E0 thì dưới tác động của tăng vốn sx sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải, vào vị trí AS 1 , thiết lập điểm cân bằng mới tại E 1 Điều đó cũng đồng nghĩa với việc làm cho mức sản lƣợng tăng từ Y 0 đến Y 1 và mức giá giảm từ P 0 xuống P 1 3.3 Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tƣ
Cầu đầu tư là dự định (kế hoạch) đầu tư của chủ đầu tư nhằm thay thế và tăng thêm giá trị cho tài sản cố định hoặc dự trữ tài sản lưu động, từ đó đảm bảo nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì và mở rộng quy mô và tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Đường tổng cầu (AD) là tổng chi tiêu dự định của các hộ gia đình và chi đầu tư của các doanh nghiệp Vì cầu đầu tư được xem là cố định, tiêu dùng tăng lên cùng với mức tăng của thu nhập Cộng thêm cầu đầu tư cố định vào hàm tiêu dùng C, ta xác định được hàm tổng cầu AD = C + I.
Hai yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư là: Lãi suất tiền vay, các yếu tố ngoài lãi suất tiền vay
Lợi nhuận do đầu tƣ có cao hơn mức lãi suất tiền vay không? Nên đầu tƣ khi nào?
Hình 1.4: Hàm cầu đầu tƣ
Chủ đầu tƣ chỉ nên đầu tƣ khi và chỉ khi lợi nhuận thực dự báo trong tương lai lớn hơn hoặc bằng mức lãi suất tiền vay phải trả
Khi lãi (tăng) => Thu nhập biên (giảm) => Nhu cầu đầu tƣ (giảm) và ngƣợc lại
Ở mỗi mức giá của tài sản đầu tư và mức lợi nhuận kỳ vọng được xác định, sự biến động của lãi suất vay sẽ tác động đến nhu cầu đầu tư Cụ thể, khi lãi suất vay tăng từ i0 lên i1, nhu cầu đầu tư sẽ giảm từ I0 xuống I1 Lãi suất vay là biến nội sinh của hàm cầu đầu tư, phản ánh mối quan hệ giữa chi phí vay và quyết định đầu tư của chủ thể Do đó, thay đổi lãi suất vay làm thay đổi lượng đầu tư mong đợi ở từng mức giá, tác động đến cân bằng thị trường và mức lợi nhuận kỳ vọng.
33.2 Các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay Đó là Chu kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh ở thời kỳ đi lên làm tăng nhu cầu đầu tư, đẩy đường cầu đầu từ D I sang phải, vào vị trí D I ' nói cách khác, với mức lãi suất tiền vay xác định i0 nhu cầu vốn đầu tƣ tăng từ I lên I' Trái lại khi chu kỳ kinh doanh đi xuống sẽ kéo đường cầu đầu tư D 1 sang trái, nhu cầu vốn đầu tƣ giảm i i1 i0
Hình 1.5: Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh đến đường cầu đầu tư
Ngoài ra còn có yếu tố thuế thu nhập của doanh nghiệp và môi trường đầu tƣ cũng tác động đến cầu vốn đầu tƣ
3.4 Những giải pháp chủ yếu huy động và sử dụng vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế a Tạo môi trường khuyến khích và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH KINH TẾ
Phát triển kinh tế dịch vụ
Kinh tế phát triển là một môn học tổng hợp của kinh tế học, tập trung nghiên cứu các nguyên lý phát triển kinh tế và khái quát sự vận động của nền kinh tế trong mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa kinh tế và xã hội Môn học xem xét cụ thể trường hợp của các nước đang phát triển và quá trình chuyển đổi của nền kinh tế từ trạng thái trì trệ, tăng trưởng thấp, tỷ lệ nghèo đói cao và mất cân bằng xã hội sang một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh và các chỉ tiêu xã hội ngày càng được cải thiện.
Thông qua sự kết hợp giữa quan điểm của các trường phái kinh tế và các mô hình lý thuyết cùng với kết quả thực nghiệm, môn học cung cấp cơ sở khoa học để xác định đường lối phát triển kinh tế phù hợp cho các nước đang phát triển Nội dung bài học phân tích sự khác biệt của điều kiện trong nước và điều kiện quốc tế, giúp định hình các chiến lược phát triển phù hợp với bối cảnh cụ thể và tăng khả năng áp dụng thực tế Nhờ đó, người học có thể tiếp cận bằng chứng và khung phân tích chuẩn hóa để đưa ra các quyết định phát triển kinh tế hiệu quả.
Việc xuất bản cuốn Giáo trình kinh tế phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của đông đảo các bạn học sinh, sinh viên đang theo học các chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh của các trường đại học, cao đẳng kinh tế nói chung trong cả nước Ƣu điểm của giáo trình là trình bày các vấn đề kinh tế học cơ bản của các nước phát triển một cách có hệ thống, ngắn gọn và dễ hiểu, các định nghĩa, học thuật tương đối chuẩn xác, có ví dụ minh họa phần lý thuyết và tập hợp nhiều số liệu thống kê về quá trình phát triển kinh tế Việt Nam và các nước khác
Giáo trình Kinh tế Phát triển được biên soạn dựa trên cơ sở kế thừa và tham khảo hơn hai mươi tác phẩm về kinh tế phát triển đang được sử dụng tại các trường đại học trong nước và nước ngoài, đồng thời lồng ghép nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến chủ đề phát triển để đảm bảo tính cập nhật và tính thực tiễn cho sinh viên.
Nội dung giáo trình gồm 6 chương do ThS Phạm Thị Hồng Duyên làm chủ biên và biên soạn
Chương 1: Các nước đang phát triển và sự lựa chọn con đường phát triển Chương 2: Tổng quan về sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
Chương 3: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chương 4: Các nguồn lực với phát triển kinh tế
Chương 5: Phát triển các ngành kinh tế