Giáo trình Kinh tế phát triển (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) nhằm trang bị hệ thống kiến thức cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc tiếp cận, nghiên cứu phát triển kinh tế ngành. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: phát triển các ngành kinh tế; đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của kinh tế Nó
bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Mục tiêu của chương :
- Trình bày được những phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
- Xác định được vai trò và tầm quan trọng của ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội
Nội dung chính:
1 Phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1 Vai trò của nông nghiệp và nông thôn trong phát triển kinh tế
Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội do đó việc thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, phát triển kinh tế
Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển các ngành công nghiệp nhẹ như chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến hoa quả, công nghiệp giấy, đường, bánh kẹo…
Công nghiệp hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để công nghiệp hoá thành công, đất nước phải giải quyết rất nhiều vấn đề và phải có vốn Là nước nông nghiệp, thông qua việc xuất khẩu nông sản phẩm, nông nghiệp, nông thôn có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Trang 268
Nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Với những nước lạc hậu, nông nghiệp, nông thôn tập trung phần lớn lao động và dân cư, do đó, đây là thị trường quan trọng của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp, nông thôn càng phát triển thì nhu cầu về hàng hoá tư liệu sản xuất như: thiết bị nông nghiệp, điện năng, phân bón, thuốc trừ sâu… càng tăng, đồng thời các nhu cầu về dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp như: vốn, thông tin, giao thông vận tải, thương mại… cũng ngày càng tăng Mặt khác, sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn làm cho mức sống, mức thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên và nhu cầu của họ về các loại sản phẩm công nghiệp như ti vi, tủ lạnh, xe máy, vải vóc… và nhu cầu về dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, du lịch, thể thao… cũng ngày càng tăng
Nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của khu vực kinh tế rộng lớn là nông nghiệp, nông thôn góp phần đáng kể mở rộng thị trường của công nghiệp và dịch vụ Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước Phát triển kinh tế nông thôn, một mặt bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội; nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ; là thị trường của công nghiệp và dịch vụ… Do đó, phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân Mặt khác, phát triển nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân nông thôn Do đó, phát triển nông thôn là cơ
sở ổn định chính trị, xã hội Hơn thế nữa, cư dân nông thôn chủ yếu là nông dân, người bạn đồng minh, là chỗ dựa đáng tin cậy của giai cấp công nhân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Phát triển nông nghiệp, nông thôn góp phần củng cố liên minh công nông, tăng cường sức mạnh của chuyên chính vô sản
1.2 Phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp
Đại hội IX của đảng đã xác định chiến lượng phát triển KTXH 10 năm 2001-2010 là chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN Thực hiện tư tưởng chỉ đạo đó NN-NT nước ta phải phát triển theo các định hướng sau:
Thứ nhất, Đẩy mạnh CNH-HĐH NN và NT theo hướng hình thành nền
nông nghiệp hàng hoá lớn hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu KHCN tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Để thực hiện định hướng này cần thực hiện đồng thời các nhiệm vụ sau:
Trang 369
Một là: Phải đưa năng suất và chất lượng sản phẩm NN lên một mức cao,
tăng thu nhập cho người nông dân Điều này đòi hỏi phải áp dụng rộng rãi các biện pháp kỹ thuật (điện khí hoá,, cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá); các biện pháp tổ chức sản xuất, dịch vụ phải được phối hợp trong các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Hai là: Phát triển mạnh công nghiệp trên địa bàn nông thôn
Ba là: Tiếp tục củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, trước hết
cần mở rộng mạng lưới đường sá, nối các vùng nông thôn với các đô thị lớn và hải cảng để tạo điều kiện cung ứng hàng hoá về nông thôn và tiêu thụ nông sản
Thứ hai, xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp.Tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP sẽ giảm xuống còn khoảng 16 – 17% năm 2010 Cơ cấu nội
bộ ngành NN sẽ chuyển biến theo hướng tăng tỷ trọng ngành có giá trị hàng hoá
và giá trị xuât khẩu cao
Thứ ba, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong NN, nhất là
công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin
Thứ tư, tiếp tục phát triển và hoàn thiện cơ bản hệ thống thuỷ lợi
* Phương hướng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Phát triển sản xuất NN và NT
- Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
- Phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn
- xây dựng đời sống văn hoá- xã hội và phát triển nguồn nhân lực
1.3 Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp
Các giải pháp thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Phát triển khoa học – công nghệ
- Các chính sách vĩ mô (về đất đai, về tài chính tín dụng, về lao động và
việc làm)
2 Phát triển kinh tế công nghiệp
2.1 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế
Vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế
- CN là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế
- Công nghiêp thúc đẩy phát triển sản xuất NN
Trang 470
- Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân
- Công nghiệp thu hút lao động NN, góp phần giải quyết việc làm cho XH
- Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
+ Do đặc điểm của sản xuất, CN luôn có một đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “công nghiệp”
+ Cúng do đặc điểm của sản xuất, lao động trong CN ngày càng có trình
độ chuyên môn hoá cao tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng của sản phẩm
+ Trong hoạt động sản xuất CN, còn có điều kiện tăng nhanh trình độ công nghệ của sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học ngày càng cao vào sản xuất
Vai trò của công nghiệp hoá trong phát triển kinh tế
Khái niệm: CNH là quá trình tác động của công nghiệp với công nghệ
ngày càng hiện đại vào hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế, đưa nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu tới công nghiệp hiện đại
Vai trò của CNH trong phát triển kinh tế
+ Công nghiệp hoá với quá trình đô thị hoá: Thông qua việc quy hoạch phát triển sản xuất CN, CNH thúc đẩy quá trình phân bố lại dân cư ở các vùng, tạo điều kiện đô thị hoá đất nước
+ CNH thúc đẩy các mối liên kết trong kinh tế
+ CNH là con đường cơ bản nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế 2.2 Phương hướng phát triển công nghiệp
Phương hướng CNH –HĐH của VN đến năm 2010
- Đẩy nhanh CNH-HĐH Nông nghiệp và nông thôn
+ Ứng dụng tiến bộ KHCN, đặc biệt là CN sinh học vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá ở nông thôn
+ Phát triển mạnh công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
+ Đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích
+ Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn
Trang 571
+ Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động nông thôn theo hướng chuyển dịch lao động NN sang khu vực CN và DV, tạo nhiều việc làm mới nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống dân cư nông thôn
- Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh Chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu như chế biến nông - lâm - thuỷ sản, may mặc, da giày, điện tử-tin học, một số sản phẩm
cơ khí và hàng tiêu dùng
- Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp hàng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng: dầu khí, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng
- Phát triển mạnh các ngành công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, tự động hoá Chú trọng sản xuất phầm mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
- Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: Thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, du lịch, tài chính, ngân hàng
- Chú trọng phát triển các DN Việt Nam, xây dựng một số DN lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hoá
2.3 Những giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp
Một số giải pháp phát triển công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn
2035
Để thực hiện quan điểm, mục tiêu nêu trên, Ban Kinh tế Trung ương đã nghiên cứu một số định hướng chính sách lớn về phát triển công nghiệp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến năm 2035 Ban Kinh tế Trung ương đề xuất một
số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, cần phát huy, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về tài nguyên, lợi thế
so sánh và con người để nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đẩy mạnh tích lũy nguồn lực cho phát triển công nghiệp quốc gia Nâng cao năng lực tiếp cận, phát triển các yếu tố nguồn lực và thị trường, trong đó tập trung vào phát triển tiếp cận vốn và thị trường tài chính; lao động
và thị trường lao động; khoa học công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, cơ sở hạ tầng; tăng cường liên kết, hợp tác và kết nối thị trường giữa các ngành kinh tế, chủ thể kinh tế, không gian kinh tế, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế Phân bổ nguồn lực hợp lý giữa phát triển công nghiệp với đô thị hóa gắn liền với phát triển bền vững, bảo vệ môi trường Hình thành một số tập đoàn công nghiệp
Trang 672
mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh Thúc đẩy phát triển mạnh
mẽ các loại hình doanh nghiệp và khởi sự doanh nghiệp
Hai là, tăng cường ổn định bền vững kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất lao động
quốc gia và đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp trong mô hình tăng trưởng theo hướng thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo Tăng cường kết nối khu vực và coi trọng các giải pháp phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc
Ba là, tiến hành phân loại các nhóm chính sách công nghiệp quốc gia để hoàn
thiện, bổ sung cho phù hợp và đồng bộ, nhất là nhóm chính sách cho các ngành công nghiệp nền tảng, nhóm chính sách cho các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, các ngành công nghiệp vật liệu, vật liệu mới, công nghiệp số và công nghiệp phần mềm
Bốn là, đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học công nghệ, gắn nghiên cứu, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật với sản xuất kinh doanh, với nhu cầu của thị trường Chú trọng đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học công nghệ, thành lập các Quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực khoa học công nghệ
Năm là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa Đẩy mạnh thực hiện đổi mới phương thức giáo dục và đào tạo; chú trọng đào tạo kỹ năng, văn hóa và tác phong công nghiệp
3 Phát triển kinh tế dịch vụ
3.1 Đặc điểm và vai trò của kinh tế dịch vụ trong phát triển kinh tế
Đặc điểm
- Tính không mất đi: Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng Người
ca sĩ không hề mất đi giọng hát sau một buổi trình diễn thành công, sau một ca phẫu thuật thành công, bác sĩ không hề mất đi khả năng kỹ thuật của mình
- Tính vô hình hay phi vật chất: Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng Bệnh nhân không thể biết trước kết quả khám bệnh trước khi
đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận
Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch
vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính Quá trình sản xuất và tiêu thụ gằn với các hoạt động dịch vụ này có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những
Trang 7- Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng: Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch
vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng phục vụ)
- Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể lưu giữ được Không thể mua vé xem bóng đá trận này để xem trận khác được Tính không lưu giữ được của dịch
vụ không phải là vấn đề quá lớn nếu như cầu cầu là ổn định và có thể dự đoán truớc Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn định, luôn dao động thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật
- Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn: Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người, thể hiện qua quá trình sử dụng chất xám và các kỹ năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắp hay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ
Ðối với những ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay du lịch thì tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng rất đáng kể, tuy thế, vai trò của tri thức vẫn là chủ yếu và không thể thiếu được
Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ Ðây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là
sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới Thể hiện rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật anolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế hệ thứ hai là kỹ thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế
kỷ 21 người ta đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập
internet hết sức dễ dàng, mọi lúc mọi nơi
Vai trò
- Thúc đẩy mối quan hệ hợp tác,giao lưu quốc tế
- Thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất phát triển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh
tế
Trang 874
- Sử dụng tốt nguồn lao động, tạo việc làm
- Khai thác tốt các tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử và các thành tựu của khoa học kĩ thuật hiện đại phục vụ con người
3.2 Phương hướng phát triển kinh tế dịch vụ
Trong thời gian tới, Việt Nam chủ trương đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy nghiên cứu và triển khai (R&D), nhập khẩu công nghệ mới; thực hiện phương thức quản lý, quản trị hiện đại; phát huy tiềm năng con người và khuyến khích tinh thần sản xuất kinh doanh của mọi người để chủ động khai thác triệt để lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và giá trị quốc gia, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu Trong bối cảnh đó, phát triển dịch vụ có vai trò quan trọng, không chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển, mà còn tạo lập và củng cố sự liên kết, bảo đảm đầu ra cho các ngành công-nông nghiệp và tác động lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế
Vì vậy, cần phát triển dịch vụ vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu, theo hướng hiện đại, với tốc độ bình quân 7-7,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng các khu vực sản xuất và GDP; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa loại hình dịch vụ gắn với việc phát triển của khoa học công nghệ và vai trò của kinh tế tri thức; phát triển dịch vụ trung gian nhằm tăng cường sự kết nối bổ trợ giữa các ngành kinh
tế, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nền kinh tế Đạt tỷ trọng dịch vụ 45% GDP vào năm 2020
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển mạnh các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, thể thao , chất lượng cao về đào tạo nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe; Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình
độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới
Phát triển dịch vụ cảng biển và cửa khẩu, dịch vụ vận tải với cơ cấu hợp
lý, hiệu quả, nhất là khai thác dầu khí, vận tải biển, cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, du lịch biển, nuôi trồng thuỷ sản; phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và đẩy mạnh khai thác xa bờ Tăng thị phần vận tải đường sắt, đường biển và đường thuỷ nội địa Nâng cao chất lượng vận tải đường bộ và đường hàng không Tăng cường kết nối giữa các phương thức vận tải, khuyến khích phát triển vận tải đa phương thức và logistics Gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Trang 975
Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ cao và dịch vụ kinh tế đối ngoại, như hàng không, cảng biển quốc tế, xuất khẩu lao động, xúc tiến thương mại quốc tế; viễn thông, công nghệ thông tin; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán; thương mại điện tử, cùng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh khác; dịch vụ giáo dục - đào tạo, y
tế chất lượng cao, dịch vụ khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm; Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sản phẩm đa dạng và tính chuyên nghiệp cao Tạo mọi thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh, đi lại và bảo đảm an toàn, an ninh Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam Khai thác hiệu quả, bền vững các di sản văn hoá, thiên nhiên, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và gìn giữ vệ sinh môi trường Phát triển các khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn và chất lượng cao Hình thành một số trung tâm dịch
vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế, ưu tiên phát triển du lịch biển, đảo, du lịch văn hóa, làng nghề và sinh thái…
Phát triển mạnh dịch vụ thông tin truyền thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh Thực hiện cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công
Phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ Chú trọng phát triển thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, phân phối, các hiệp hội và cơ quan quản lý
để phát triển mạnh thị trường trong và ngoài nước
Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu Phát triển các dịch vụ tài chính quốc tế phù hợp cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, cung cấp và lưu chuyển thông tin tài chính, các dịch vụ chứng khoán phụ trợ; tăng cường minh bạch hoá và bảo hộ đầu tư, giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả; Hoàn thiện thể chế để tận dụng cơ hội và phòng ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế
Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên Internet để định hướng tư
Trang 1076
tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên Bên cạnh
đó, cần phát triển và nâng cấp một số lĩnh vực dịch vụ thành ngành công nghiệp, như: công nghiệp văn hóa và giải trí, báo chí, phim ảnh…
Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" 3.3 Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế dịch vụ
Mỗi dạng và loại hình dịch vụ cần có những giải pháp đặc thù thích ứng
để phát triển phù hợp Song, về tổng thể, để đẩy mạnh phát triển dịch vụ trong bối cảnh tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng thời gian tới, cần chú ý thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ bàn tay nhà nước với bàn tay thị trường, coi trọng tính đồng bộ, hài hòa của các mục tiêu, loại công cụ chính sách và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng hữu quan, và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho kinh tế tư nhân phát triển
Quốc hội, Chính phủ, các địa phuơng và tổ chức hiệp hội kinh doanh cần có nhiều hoạt động toàn diện mạnh hơn nữa để kiểm soát tốt hơn độc quyền cả nhà nước và độc quyền tư nhân; trừng trị nghiêm khắc, kịp thời hơn những hành vi tham nhũng, cản trở hoạt động kinh doanh lành mạnh; triển khai mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2014
và năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Thúc đẩy Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020 và tăng cường phối hợp giữa các Bộ, cơ quan liên quan trong toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện và đánh giá các cơ chế, chính sách, giải pháp; đảm bảo các biện pháp quản lý, điều hành kinh tế vĩ
mô mang tính đại diện cao hơn cho các lợi ích xã hội, tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường
Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, xác định đúng và khai thác tốt các lợi thế và định huớng chuyển dịch cơ cấu kinh doanh, sản phẩm, cải thiện năng lực đổi mới và công nghệ, nâng cao liên kết và sức cạnh tranh kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ
Trang 1177
Các biến động chính sách phải tường minh và có thể dự báo được trong xu hướng ổn định, nhất quán, phù hợp các nguyên tắc kinh tế thị trường và yêu cầu cam kết hội nhập, các thông lệ thế giới, cũng như các tín hiệu thị trường khách quan
Đồng thời, cần khắc phục tính ôm đồm, đa mục tiêu trong hoạch định kế hoạch
và chính sách phát triển; nâng cao chất lượng và sự đồng bộ văn bản luật; đẩy mạnh thực chất hơn các hoạt động kiểm soát sự nhũng nhiễu của các cơ quan và
bộ phận, cá nhân trung gian thi hành luật; tuân thủ đầy đủ hơn các nguyên tắc quản lý kinh tế và cạnh tranh thị trường; giảm thiểu các lạm dụng công cụ quản
lý hành chính, mệnh lệnh và hiện tượng “vận động hành lang”, “chạy chính sách”, quan liêu, hình thức, ngăn chặn kịp thời “sự liên kết lợi ích nhóm” giữa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước với các ngân hàng thương mại nhà nước và các quan chức có liên quan trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư chéo, đầu tư
đa ngành hàng ngàn tỷ đồng mang nặng tính đầu cơ, trục lợi cá nhân hoặc phe nhóm, lũng đoạn thị trường và lãng phí các nguồn lực quốc gia
Đặc biệt, cần tôn trong quy trình và yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường
và cam kết hội nhập quốc tế, tăng cường kiểm toán độc lập, xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống chỉ tiêu hiệu quả và hệ số tín nhiệm; giảm điều hành nền kinh tế bằng các giải pháp hành chính kéo dài, thị trường nửa vời, hoặc ngược với quy trình thị trường; nâng cao chất lượng văn bản luật và các văn bản dưới luật, hướng dẫn thực hiện luật; đảm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp; phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực, tiềm lực khoa học công nghệ và tạo môi trường an toàn, thuận lợi, kiểm soát tốt độc quyền kinh doanh, tăng cường quản lý thị trường, giá cả và phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại; ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, thao túng, gây hậu quả nghiêm trọng, giữ vững ổn định vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống
Thứ hai, nâng cao tiêu chuẩn hóa chất lượng và chất lượng công tác thông tin,
dự báo, phản biện và chủ động các phương án và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng
Xây dựng và thực thi hiệu quả các hệ thống chuẩn quốc gia về chất lượng hàng hóa và dịch vụ; nâng cao chất lượng các dự báo thị trường; coi trọng đúng mức
và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu chính sách và
ý chí chủ quan Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế; coi trọng dự báo tác động hai mặt của chính sách theo yêu cầu quản lý kinh tế thị trường Việc dự báo, đánh giá tác động hai mặt tích cực và tiêu cực cả về xu hướng định tính, lẫn
về định lượng của việc áp dụng các chính sách và định mức cụ thể trong quá
Trang 12số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ công tác dự báo và quản lý kinh tế; khắc phục tình trạng phân tán, chia cắt, rời rạc, đóng băng và thiếu chuẩn hóa thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý thông tin; bổ sung các chỉ tiêu cần thiết phục vụ dự báo kinh tế vào hệ thống số liệu thống kê kinh
tế chính thức hàng năm của ngành thống kê
Trên cơ sở các kết quả dự báo và phản biện đó và các yếu tố cần thiết khác, cần chủ động có các phương án, đối sách phòng ngừa hiệu quả cho mọi tình huống với giả định mức xấu nhất có thể xảy ra; phát triển hệ thống dự báo và thông tin thị trường, các chính sách và các cam kết, yêu cầu hội nhập cần thiết cho doanh nghiệp, nhằm tăng năng lực phản ứng chính sách và thị trường trong quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, coi trọng đào tạo, thu hút sử dụng và tôn vinh nhân tài, các doanh nhân, nguồn nhân lực trình độ cao và nâng cao chất lượng công tác cán bộ
Cần có nhiều bứt phá về cơ chế phát hiện, tuyển dụng và bảo vệ nhân tài; tiêu chuẩn hóa, công khai hóa và bình đẳng hóa các yêu cầu thi tuyển công chức, giám đốc, lãnh đạo các doanh nghiệp và đơn vị, sao cho để những người xứng đáng nhất cả về tài và đức được lựa chọn vào những vị trí quan trọng nhất, để từ
đó cải thiện năng lực, hiệu quả bộ máy công quyền và hoạt động quản trị doanh nghiệp
Cơ chế đào tạo, tập hợp và trọng dụng nhân tài đó trong tương lai phải bao hàm những khía cạnh: Tạo sự di chuyển chất xám tự do trong thị trường lao động theo “quy luật tối ưu” của tự nhiên, thoả mãn các điều kiện nuôi dưỡng tốt nhất cho nhân tài (lương, điều kiện học tập, lao động, khả năng tiếp cận các thông tin
và công nghệ mới, sự tôn trọng về tinh thần và thăng tiến cá nhân ) Bảo đảm nguyên tắc “người nào-việc nấy”, khắc phục tình trạng người biết làm việc thì không có việc làm, người được làm việc lại không biết cách hoặc làm việc kém hiệu quả Các quan chức hành chính không thể đứng thay vào vị trí của các nhà
Trang 1379
khoa học và các doanh nhân thực thụ Loại hình lao động quản lý làm thuê cần được coi trọng phát triển để đáp ứng nhu cầu về giám đốc cho các công ty cổ phần (kể cả cho các DNNN) tương lai trong nền kinh tế nước ta
Các thang bậc giá trị xã hội phải có sự thay đổi theo hướng tôn trọng và được đối xử như nhau tương xứng với tài năng và đóng góp có ích cho xã hội của cá nhân; coi trọng việc phát hiện, lựa chọn và sử dụng đúng những nhân tài đầu đàn; tái lựa chọn liên tục, lấy hiệu quả công việc làm cơ sở đánh giá và lựa chọn chứ không phải bằng cấp, học vị, chức tước;
Hơn nữa, cần xây dựng và tạo sự đồng thuận sâu sắc về hệ thống chuẩn giá trị quốc gia nhằm tạo sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, tạo thước đo tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, cũng như không ngừng hoàn thiện cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và đột phá trong cơ chế phân cấp, kiểm soát quyền lực, công tác cán bộ, xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ, phát huy hiệu quả các nguồn lực và sức mạnh của quốc gia, của các địa phương và doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh nền kinh tế trong hội nhập quốc tế, cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài
Trang 1480
THỰC HÀNH
Bài tập thảo luận nhóm:
Trình bày những giải pháp chủ yếu phát triển các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) ở Việt Nam
Trang 15Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới, một thời gian tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn Đại hội VI của Đảng (1986) kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thừa nhận sự tồn lại khách quan của sản xuất hàng hoá và vai trò của thị trường Đến Đại hội VII (1991), Đảng tiếp tục bổ sung tư duy khoa học về kinh tế hàng hoá: “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Đại hội VIII của Đảng (1996) đưa ra quan niệm mới, rất quan trọng về kinh tế hàng hóa và chủ nghĩa xã hội: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền vàn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng" Nhưng vào thời điểm Đại hội VIII vẫn chưa gọi là kinh tế thị trường Như vậy, từ Đại hội VI (1986) đến hết nhiệm kỳ Đại hội VIII (2001) là thời kỳ đổi mới toàn diện, cả về cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế với nội dung chính là nhận thức đúng hơn về kế hoạch hoá, phát triển kinh tế hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của chương:
- Nhận thức được đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội
- Nhận thức được chiến lược và kế hoạch phát triển của Việt Nam qua từng thời kỳ
Nội dung chính:
1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam qua các giai đoạn
1.1 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1976-1985
1.1.1 Thời kỳ 1976 – 1980
- Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12/1976) đã quyết định đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN Việt Nam thời kỳ mới và kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976 – 1980) Mục đích của kế hoạch này là hướng vào giải quyết những hậu
Trang 1682
quả nặng nề của 20 năm chiến tranh và triển khai bước đầu CNH, xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật của CNXH Kế hoạch này vẫn xây dựng trên nền tảng của
cơ chế cũ là kế hoạch tập trung, bao cấp, đề cao vai trò kinh tế quốc doanh và tập thể, xây dựng cơ cấu công – nông nghiệp hoàn chỉnh, theo hướng “ưu tiên phát triển công nghiệp một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ”
- Kết quả là kế hoạch 5 năm lần thứ II không thành công, tốc độ tăng GDP bình quân là 0,6%, lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân không được bảo đảm, lạm phát gia tăng
1.1.2 Thời kỳ 1981 – 1985
- Do yêu cầu cấp bách phải gia tăng lương thực và hàng tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân Cải cách kinh tế được bắt đầu trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, với hai văn bản của Đảng và Chính phủ vào tháng 1/1981:
+ Chỉ thị 100/BCH.TW với nội dung cơ bản là “khoán sản phẩm trong nông nghiệp”
+ Quyết định 25/CP đã đưa ra một chủ trương, biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động SXKD và quyền tự chủ về tài chính của xí nghiệp quốc doanh, trong đó nổi bật là vấn đề “ba kế hoạch trong SX công nghiệp”
- Đại hội Đảng lần thứ V (3/1982) đã thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981 – 1986) Điểm nổi bật của kế hoạch này là đã chuyển hướng trọng tâm phát triển kinh tế và làm rõ hơn tư tưởng cải cách kinh tế
1.2 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2000
1.2.1 Thời kỳ 1986 – 1990
- Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) được coi là mốc quan trọng cho sự cải cách kinh tế Việt Nam Đại hội đánh giá “cơ chế quản lý tập trung dựa trên bao cấp đã không tạo được động lực phát triển lại còn làm suy yếu nền kinh tế, kìm hãm SX, giảm sút năng suất, chất SP và hiệu quả kinh tế, làm nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội” Và Đại hội đã quyết định “xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN”
- Đại hội cũng đã thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ IV (1986 – 1990) với các mục tiêu cơ bản: Xây dựng và hoàn thiện một bước QHSX phù hợp với LLSX, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xây dựng cơ cấu kinh tế
Trang 17- Bước vào thời kỳ này nền kinh tế VN gặp 1 số khó khăn lớn: trong khi nền kinh tế chưa ra khỏi khủng hoảng và lạm phát, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận và bao vây kinh tế thì Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng Do đó các khoản viện trợ quốc tế và thị trường xuất nhập khẩu bị thu hẹp đáng kể
- Tuy nhiên thời kỳ này VN cũng có những thuận lợi: đường lối đổi mới bước đầu phát huy tác dụng tích cực, quá trình mở cửa và hội nhập thu được kết quả bước đầu, xuất khẩu dầu thô và gạo gia tăng, nguồn vốn ODA cho VN bắt đầu được thực hiện, các nhà tài trợ đã cam kết giành cho VN số vốn là 6 tỷ USD, cuối năm 1995 vốn FDI được cấp giấy phép đăng ký là 16,5 tỷ USD Bình quân tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991-1995 đạt 8,2%, riêng năm 1995 đạt 9,5%
1.2.3 Thời kỳ 1996-2000
- Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII (7/1996) và kế hoạch 5 năm
1996-2000 đã chỉ rõ cần phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ; tập trung phát triển NN và NT, tạo thuận lợi cho các DN phát triển
- Để tiếp tục đổi mới, nhiều chính sách liên quan đến môi trường đầu tư trong và ngoài nước được ban hành
+ Hai luật thuế mới: thuế GTGT (VAT) và thuế TNDN (1/1999)
+ Luật DN mới (7/1999), đồng thời với quyết định bãi bỏ 145 giấy phép các loại
Việc ra đời Luật DN được coi là bước đột phá có ý nghĩa quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính, làm sôi động hơn hoạt động đầu tư và kinh doanh trong cả nước
- Thời kỳ này VN đối đầu với nhiều khó khăn, thách thức: Thiên tai liên tiếp, gây những thiệt hại nặng nề; những tác động bất lợi từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực ( tốc độ tăng trưởng kinh tế sau khi đạt 9,5% năm 1995,
đã bắt đầu giảm dần, đến năm 1999 chỉ đạt 4,8%, năm 2000 đạt 6,8%)
Trang 181993 là 5,2%)
(2) Kinh tế tăng trưởng liên tục, cơ cấu có sự chuyển dịch tích cực
a Tốc độ tăng trưởng kinh tế
b Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
c Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
(3) Các cân đối lớn của nền kinh tế đã được điều chỉnh thích hợp
- Cân đối ngân sách
- Huy động và sử dụng vốn đầu tư
- Cán cân thương mại
(4) Mức sống của nhân dân được cải thiện
2 Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
2.1 Chiến lược phát triển và các quan điểm chiến lược
2.1.1 Chiến lược phát triển
Chiến lược phát triển KTXH được hiểu là một bản luận cứ có cơ sở khoa học xác định đường hướng phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian dài Chiến lược xác định tầm nhìn của 1 quá trình phát triển mong muốn và
sự nhất quán về con đường cũng như các giải pháp cơ bản để thực hiện
2.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội VN thời kỳ 2001-2010
a Căn cứ xác định các mục tiêu chiến lược
- Đánh giá thực trạng thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm thời kỳ 1991-2000
- Nhận định về những cơ hội và thách thức
b Những quan điểm chiến lược