Tăng truởng kinh tế và vấn đề đáp ứng phúc lợi Từ những năm 1970 trờ lại đây, hầu hết các nước đang phát triển đã có sự chuyển hướng ưu tiên trong quá trinh phát triển từ việc quan tâm t
Trang 1Chmmg 4
PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TÉ
4.1 Tăng trương kinh tế và mức độ đáp ứng phúc lọi cho con ngưòi
4.1.1 Tăng truởng kinh tế và vấn đề đáp ứng phúc lợi
Từ những năm 1970 trờ lại đây, hầu hết các nước đang phát triển đã
có sự chuyển hướng ưu tiên trong quá trinh phát triển từ việc quan tâm tới tăng trưởng kinh tế sang các mục tiêu kinh tế - xã hội rộng lớn hơn như xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch về thu nhập và phân tầng xã hội Điều này xuất phát từ thực tế là vào những năm 1960, các nước đang phát triển có tỉ
lệ tăng trưởng cao nhưng sự tăng trường đó mang lại rất ít lợi ích cho người nghèo, dẫn tới tiềm ẩn nhiều rủi ro và bất ổn xã hội Nguyên nhân cùa tình hình nói trên được phân tích ở nhiều góc độ, chẳng hạn do chính phù có những mục tiêu ưu tiên khác nhau trong quá trình phát triển
Ở một số trường hợp, Chính phủ muốn tăng thêm sức mạnh quân sự, hoặc danh tiếng cùa đất nước, cùa các tập đoàn lớn, và do đó họ tập trung các khoản đầu tư vào hệ thống quân sự, các dự án lớn mà những khoản đẩu tư này đưa lại rất ít lợi ích trực tiếp cho người dân Trong một số trường hợp khác, để thúc đẩy
tăng trưởng kinh to ở giai đoạn ticp thoo, C hính phủ đã d ùng m ột phần lán thu
nhập cho tái đầu tư Nấu quá trình này tiếp diễn thòi gian dài thì không những không nâng cao đời sống người dân, trẩu lại, còn giảm sút tiêu dùng, mặc dù vẫn duy trì tốc độ tăng trưòng kinh tế ở mức khá
v ề mặt lí thuyết cũng như quan sát thực tế, các nhà kinh tế đều cho rằng nguyên nhân chính cùa tăng trường nhanh không đi đôi với cải thiện đời sống, nâng cao phúc lợi của đa số dân chúng - trước hết là cho người nghèo -
là xuất phát từ phân phối thu nhập Chẳng hạn, hai nước có cùng mức thu nhập (GNP) và thu nhập bình quân đẩu người, nghĩa là hai nước có cùng một đường giới hạn khả năng sản xuất có thể có cơ cấu sản xuất và tiêu dùng 82
Trang 2hoàn toàn khac nhau (hoạt động tại những điểm khác nhau trên đường giới hạn khá năng sản xuât)
Neu mức thu nhập binh quân thâp, phân phôi thu nhập không công bằng dẫn đến hậu quả là tổng cẩu cùa nền kinh tế sẽ bị hạn chế bời thói quen tiêu dùng của người giầu Sức mua có tính chi phối cùa họ (người giầu) có thể hướng sản xuât vào những hàng hoá xa xỉ Trong trường hợp này, đường cầu của thị trương không phải cho tất cả người tiêu dung mà chi cho thiểu số người giẩu Người giâu thòng trị thị trường, sẽ quyêt định sản xuât cái gì Ngược lại, nếu thu nhập được phân phòi công băng hơn, đường câu sẽ hướng nhiều hơn vào sản xuất hàng hoá thiết yếu đế tạo khả năng tăng mức sống cho đại bộ phận dân cư và giảm nghèo đói ờ nông thôn, xã hội trờ nên ổn định hơn Như vậy, tăng trưởng GDP là điều kiện cẩn nhưng chưa đù để làm cho phúc lợi
quốc gia không chì đòi hỏi gia tăng tôc độ tăng trường kinh tế mà còn phải quan tâm đến cải thiện đời sống vật chất người dân, cũng tức là quan tâm đến
“phân phoi thu nhập"
4.1.2 Các phư<mg thức ph â n phối
Hình 4.1 Phăn phối thu nhập theo chức năng và theo hộ gia đình
Trang 3Đe phục vụ mục đích phân tích ảnh hưởng cùa tăng trường kinh tế đến cải thiện đời sống cho dân cư, các nhà kinh tế thường quan tâm đến phân
(Hình 4.1)
Phân phối thu nhập theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhập theo các yếu tố sản xuất khác nhau như lao động (theo trình độ khác nhau), máy móc thiết bị (vốn sản xuất, đất đai, tài nguyên)
yếu tố sản xuất và vai trò của từng yếu tố trong quá trình sản xuất Do vậy, phân phối theo chức năng có vai trò quan trọng vi nó được coi là nguyên nhân dẫn đến phúc lợi (mức thu nhập) khác nhau giữa các nhóm dân cư Điều này thể hiện ờ hình 4.1- Phân phối thu nhập theo chức năng và thu nhập cá nhân (hộ gia đình)
Trong hỉnh trên, hộ gia đỉnh có sức lao động (hộ gia đình 3) sẽ chỉ nhận được thu nhập bằng tiền lương; còn hộ gia đình có cổ phần trong doanh nghiệp, có đất và tài sản cho thuê và lại có sức lao động (hộ gia đinh 2) sẽ nhận được thu nhập từ tất cả các yếu tố
Như vậy, nếu tăng trường nhằm mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống thỉ có thể điều chỉnh thu nhập cá nhân thông qua phân phối lại tài sản (cùa cải) như cải cách ruộng đất trong nông nghiệp và chính sách phân phối lại thu nhập
Phương thức phân phối lại thu nhập đirợc thực hiện qua đánh thuế thu nhập cá nhân, các chương trình trợ cấp và chi tiêu công cộng của Chính phu nhăm giảm bớt mức thu nhập cùa người giâu và nâng cao thu nhập của người nghèo Đương nhiên, đây không phải là hình thức cơ bản và chủ yếu đe nâng cao thu nhập của đại bộ phận dân cư
84
Trang 44.2 Phát triển con ngưòi và phát triển kinh tế
4.2.1 Quan điểm về p h á t triển con người
Tài sản thực sự của một quốc gia là con người và mục đích cùa phát triển
là tạo môi trường cho người dân được hưỏng thụ cuộc sống trường thọ, mạnh khoẻ và sáng tạo
Theo quan điếm cùa Liên hợp quốc, sự phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng, v ề nguyên tắc, những
sự lựa chọn này là vô hạn và thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, ờ cấp độ phát triển con người cần có ba khả năng cơ bản: có cuộc sống trường thọ mạnh khoè; có học vấn; và có được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt Song, phát triển con ngưòi không dừng lại ờ đó Sự lựa chọn cùa dân chúng được đánh giá cao gồm tự do kinh tế, xã hội, chính trị để con người có được cơ hội trờ thanh người lao động sáng tạo, có năng suất, được tòn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người
Như vậy, phát triển con người gồm 2 mặt: một mặt, là sự hình thành các năng lực của con người, mặt khác là việc sử dụng các năng lực con người đã được tích luỹ cho các hoạt động kinh tế, giải trí, các hoạt động văn hoá, xã hội, chính trị Và như vậy, thu nhập không phải là tất cả của cuộc sống con ngưòi Mục đích cùa phát triển là mở rộng mọi sự lựa chọn cùa con người chứ không chỉ là thu nhập
4.2.2 Chỉ số ph át triển con người
Chỉ số phát triển con ngưòi HDI (Human Development Index) được Cơ quan phát triển con người cùa Liên hợp quốc đưa ra nhằm đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người HDI là thước đo thành tựu trung bình của một quốc gia trên 3 phương diện, còn gọi là 3 biến số được chọn tà đại diện, đó là:
- Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh
- Thu nhập bình quân đẩu ngươi theo sức mua tương đương (GDP/người theo PPP)
Trang 5Như vậy HDI là thước đo tổng hợp so với các chi tiêu khác Thu nhập
và thu nhập bình quân chỉ là phương tiện để có được sự phát triển con người, còn các chỉ tiêu phản ánh nhu câu cơ bản cùa con người chỉ phản ánh từng mặt cụ thể nhu cầu cùa con người Do vậy từ năm 1990, Báo cáo phát triển con người đã sử dụng chỉ tiêu này để xếp thứ hạng các nước theo tình trạng phát triển con người
HDI được tính theo công thức chung sau:
HDI = (IA + IE + Ita) / 3
IE: chỉ số đo tri thức giáo dục (kiến thức đo bằng chỉ số tổng hợp giữa ti
lệ biết chữ cùa người lớn (với trọng số = 2/3) và tỉ lệ nhập học các cấp (với trọng số = 1/3)
Iin: chỉ số đo mức sông
Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục được tính toán theo công thức sau:
Chỉ số = rGiá tri thưc tế - Giá trị tối thiểul
[Giá trị tối đa - Giá trị tối thiểu]
Giá trị tối đa, tối thiểu (giá trị biên) được đặt ra với từng loại chi số (bảng 4.1.)
Bảng 4.1 Giá trị tối đa và tối thiểu các chỉ số thành phần HDỈ
Chỉ số thu nhập đưa vào HDI với vai trò là biến đại diện cho mức sống thoả đáng Cách tiếp cận này được chi phối bởi thực tế là việc đạt được mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới khoản thu nhập vô hạn và cũng không chỉ đòi hỏi mức thu nhập cao Đẻ đạt được mục tiêu nay,86
Trang 6thu nhập thường được điều chỉnh trong tính toán HDI Phương pháp được sừ dụng rộng rãi hiện nay là dùng hàm logarit của thu nhập:
[log (thu nhập thực tế) - log (thu nhập tối thiểu)]
Iịn=
-[log (thu nhập tối đa) - log (thu nhập tối thiểu)]
HDI nhận các giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Trong thực tế giá trị HDI của một nước chỉ ra khoảng cách giữa mức độ tiến bộ trong phát triển con người
đã đạt được với giá trị cao nhất có thể ( = 1) Thách thức đặt ra với mỗi nước là phải tim ra những giải pháp để rút ngắn khoảng cách đó
Xu hướng trong phát triển con người từ 1975 đến nay cho thấy, hầu hết các nước đều đạt sự tiến bộ trong phát triển con người Tuy nhiên, sự phát triển này là không đồng đều Các nước có thể bắt đầu với mức độ phát triển con ngưòi như nhau, nhưng tiến bộ với tốc độ khác nhau hoặc các nước có thể bắt đầu với mức độ khác nhau nhưng cuối cùng đều đạt được trạng thái tương tự Điều này phụ thuộc ờ mỗi nước và ở mức độ nhất định việc sử dụng các biện pháp, chính sách nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân
Thứ hạng các nước theo HDI có thể khác so với thứ hạng theo GDP thực
tê bình quân người / năm
4.3 Bất bình đẳng và phát triển kinh tế
4.3.1 Bất bình đẳng trong phân ph ối thu nhập
• Đường Lorenz
N ă m 1 9 0 5 , C onrad L o ren z, n h à th ố n g k c n gư ờ i M ĩ đã xây d ự n g b iẻ u đ ồ
(Hình 4.2)
Trang 7số dân nhận được Trong hỉnh, điểm I phản ánh 20% nghèo nhất trong số dân chỉ nhận được 10% trong thu nhập
Kẻ đường 45° trong hình cho thấy ờ bất ki điểm nào trên đường phân giác này đều phản ảnh số người có thu nhập Ví dụ: điểm giữa cùa đường chéo cho thấy 50% thu nhập được phân phối cho đúng 50% dân số Ở điểm 3/4 của đường chéo, 75% thu nhập sẽ được phân phối cho 75% dân số Nói cách khác đường chéo là đại diện cùa sự phân phối thu nhập “hoàn toàn công bằng”
Đường Lorenz cho thấy mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỉ lệ phần trăm cùa dân số có thu nhập và tỉ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong khoảng thời gian nhất định chẳng hạn là một năm
Khoảng cách giữa đường chéo (đường 45°) và đường Lorenz là dấu hiệu cho biết mức độ bất bình đẳng Đường Lorenz càng cách đường chéo 45° thì88
Trang 8mức độ bất bình đẳng càng lớn Điều đó có nghĩa là phần trăm thu nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi
• Hệ số GINI
Đường Lorenz được sử dụng để đo lường mức độ bình đẳng, nhưng hạn chế của nó là không lượng hoá được mức độ bất bình đẳng và trong trường hợp so sánh 2 phân phối thu nhập, nếu đương Lorenz tương ứng với 2 phân phối đó cất nhau (không có đường chéo nào hoàn toàn nằm bên phải cùa đường kia) thi không thể xếp hạng sự bất bình đẳng Vỉ vậy phải cần tới việc
sử dụng thước đo biểu thị bằng số
Hệ so GINI (G) là thước đo được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thực nghiệm Dựa vào đường Lorenz có thể tính toán hệ số GINI Hệ số GINI chính
là tỉ số gữa diện tích được giới hạn bời đường Lorenz và đưòng chéo 45° với diện tích tam giác nằm bên dưới đường 45° Theo kí hiệu ờ hình 4.2 ta có công thức sau:
Hệ số GINI = Diện tích (A) / Diện tích (A+B)
v ề lí thuyết, hệ so GINI nhận giá trị biên thiên từ 0 đến 1 Trên thực tế, GINI nhận giá trị trong khoảng lớn hơn 0 và nhỏ hon 1 (0 < G < 1)
Dựa vào số liệu thu thập được, WB cho rằng trong thực tế giá trị của GINI thay đổi trong phạm vi hẹp, biến động trong khoảng 0,3 - 0,5; thu nhập cao 0,2 đến 0,4 Tuy hệ số GINI đã được lượng hoá mức độ bình đẳng trong phân phôi thu nhập nhưng các nhà kinh tế nhận thây hệ số GIN1 cũng mới chì phản ánh được mặt tổng quát cùa sự phân phối, trong một số trường hợp chưa đánh giá được những vấn đề cụ thể
4.3.2 Các mô hình bất bình đắng về thu nhập và tăng trưởng kinh tế
4.3.2.1 M ô hình chữ ư ngược cùa Simon Kuznets
Năm 1955 Simon Kuznets, nhà kinh tể học M ĩ đưa ra một mô hình nghiên cứu mang tính thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu nhập
Trang 9và bất binh đắng trong phân phôi thu nhập Do hạn chế vê số liệu, Kuznets dùng tỉ số giữa tỉ trọng thu nhập cùa nhóm 20% giầu nhất trong tổng số giữa tỉ trọng thu nhập của nhóm 60% nghèo nhất làm thước đo sự bình đẳng (tỉ số Kuznets)
Nghiên cứu so sánh này được tiến hành với một nhóm nhỏ các nước đang phát triển như Án Độ, Srilanka và nhóm nhỏ các nước phát triển như Mĩ, Anh Kết quả tỉ số này là 1.95 (Ân Độ); 1 67 (Srilanka), 1.29 (Mĩ) và 1.25 (Anh) Thực tế cũng cho thấy đây là dấu hiệu chứng tỏ các nước đang phát triến có xu hướng diễn ra tỉnh trạng bất bình đẳng ở mức độ cao hơn các nước phát triển
Qua số liệu quan sát từ 18 nước, các nghiên cứu cùa S.Kuznets (1993) cũng cho kết quả tương tự Vi vậy, s Kuznets đưa ra giả thiết rằng bất binh đẳng sẽ tăng ờ giai đoạn đầu và giảm ờ giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được lan toả rộng rãi hom Nếu biểu diễn mối quan hệ đó trên đồ thị sẽ có
dạng chữ u ngược Do đó mô hinh Kuznets còn được gọi là mô hình chữ ư
ngược Đến nay, mô hỉnh này vẫn gây nhiều ý kiến trái chiểu (Hình 4.3 ).
Đe kiểm định giả thiết này đã có một số nghiên cứu dựa vào các số liệu chéo về sự biến thiên trong tinh trạng bất bình đẳng giữa các nước ờ các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển Ket quả nghiên cứu thống kê thực nghiệm trên cơ sờ giả thiết U-Kuznets cho thấy sự bất còng về thu nhập sẽ tăng lên từ nước có thu nhập thấp tới nước có thu nhập vừa; và giảm từ nước
có thu nhập vừa tới các nước có thu nhập cao số liệu nghiên cứu cũng cho thấy hầu hết các nước Mĩ Latinh với thu nhập trung binh có mức độ bất bình đẳng cao (1988, GINI - 1988 = 0.49) Những nước này giẩu hơn Án Độ, Srilanka nhưng lại nghèo hơn Hàn Quốc, Đài Loan với mức độ bất binh đắng thấp hơn các nước Mĩ Latinh (GINI - 1988 = 0.32)
90
Trang 10Hình 4.3 Mô hình chữ Kuznets - V ngược
Người ta cũng dễ nhận thấy hạn chế của mô hình Kuznets là không giải thích được 2 vấn đề quan trọng: (i) Những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi bất binh đẳng trong quá trình phát triển; (ii) Sự khác biệt giữa các nước về xu thế thay đổi này trong điều kiện hp sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trường và bất bình đẳng như thế nào ?
Hai vấn đề nói trên dẫn đến điều mà các nước đang phát triển băn khoăn không được giải đáp cụ thể Đó là có phải các nước có thu nhập thấp tất yếu phải chấp nhận sự gia tăng bất bình đẳng trong tăng trưởng kinh tế, và sau đó
có thể kì vong / mâc nhiên bất bình đẳng sẽ giảm bớt khi sự phát triển đạt mức
độ cao hom trong hay không ?
4.3.2.2 Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau củaA Lewis
VỚI luận điểm Tăng trưởng trước, bình đảng sau, A Lewis - tác giả mô
hình này cho rằng bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đạt được mức phát triển nhất định Hiện tượng này được A Lewis giải thích với lập luận rằng sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì cùng với việc
mở rộng qui mô sản xuất công nghiệp, số lượng Hao động được thu hút vào làm việc ờ khu vực này tăng lên nhưng tiền công cửa công nhân nói chung vẫn ờ
Trang 11mức tối thiểu Như vậy, trong khi mức tiền công không thay đổi thi thu nhập
cùa công nhân Ở giai đoạn sau sự bất bỉnh đẳng giảm bớt khi lao động dư thừa được thu hút hêt vào khu vực thành thị (sản xuất công nghiệp và dich vụ) thi lao động trờ thành yếu tố khan hiếm trong sản xuất Nhu cầu lao động ngày càng tăng lên đòi hỏi phải tăng tiền lương, như vậy sẽ dẫn tới giảm thiểu sự bất binh đẳng
Trong mô hình của A.Lewis sự bất bình đẳng không chỉ là kết quả cùa tăng trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trường Sự bất binh đẳng ờ đây cũng có nghĩa là các nhà tư bản và nhóm người có thu nhập cao sẽ nhận được nhiều hơn Và họ là những người sừ dụng phần tiết kiệm cùa minh tạo ra nguồn tích luỹ mở rộng sản xuất A.Lewis cho rằng vấn đề trung tâm trong lí thuyết phát triển kinh tế là việc xã hội tăng tỉ lệ tiết kiệm để đẩu tư từ 4
- 5% lên 12 - 15% trong thu nhập quốc dân (hoặc lớn hơn) Việc tăng tỉ lệ tiết kiệm này thực hiện là do 10% dân số đã nhận được 40% (hoặc lớn hơn) trong thu nhập quôc dân ở những nước thừa lao động
Không chỉ có sự bât binh đẳng đóng góp vào tăng trường mà trong mô hình này các nhà kinh tế còn cho rằng các cố gang để phân phối lại thu nhập
“một cách hâp tấp, VỘI vã” cũng dẫn đen nguy cơ bóp nghẹt tăng trướng kinh
tế Họ thống nhất với quan điểm của Ricardo rằng việc tăng lương cho công nhân sẽ giảm bớt lợi nhuận và giảm nguồn đầu tư cho tăng trường
Những phần tích trên cũng cho thấy có sự tương tác bất bình đăng, tiết
kiệm và thu nhập Theo quan niêm cùa A.Lewis, bất bình đắng là điều kiện cần
để người giầu tăng tích luỹ, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, cũng có quan điểm đối lập cho rằng với một mức độ phân phối lại hợp lí thực sự có thể tăng cường tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này được lí giải trên hành vi tiết kiệm cá nhân khi thu nhập thay đổi Giả sử, khi thu nhập tăng, ti lệ tiết kiệm tăng, trong trường hợp này bất binh đẳng tăng
sẽ dẫn đến tiết kiệm tăng Ngược lại, bất binh đẳng giảm sẽ kìm hâm tiết kiệm, hoặc giả sử khi thu nhập tăng, tỉ lệ tiết kiệm cận biên giảm, bất bình đẳng sẽ kìm hâm tiết kiệm Các nước chậm phát triển có xu hướng khi người giầu tăng 92
Trang 12thu nhập, nhu cầu tiêu dùng cùa họ cũng tăng cao (hướng vào phân khúc hàng
bình cùa họ cũng thấp Như vậy, với các nước đang phát triển, việc giảm bất bình đẳng sẽ thúc đẩy tăng trường kinh tế Thông qua tiết kiệm và đầu tư, có thể kết hợp tăng trường với bất bình đẳng xã hội Có nghĩa là, theo A Lewis,
có thế kết hợp giữa công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế
4.3.2.3 M ô hình tăng trưởng đi đôi với bình đăng xã hội cua H.Oshima
Ý tưởng cơ bản của tăng trưởng đi đôi với bỉnh đẳng xã hội dựa vào cách đặt vấn đề rằng: có thể hạn chế sự bất binh đẳng ngay từ giai đoạn đẩu tăng trường Một trong những hướng giải quyết vân đề này là dựa vào mô hình cùa Harry Oshima Xuất phát từ đặc điểm sản xuất lúa nước khu vực Châu Á gió mùa H.Oshima cho rằng quá trình tăng trường cẩn bắt đầu từ khu vực nông nghiệp Theo H.Oshima, trước hết khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị sẽ được cải thiện ngay từ giai đoạn đầu do tập trung phát triển khu vực nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, tăng cường nguồn trợ giúp của chính phù về giống cây trồng, vật nuôi đồng thời mở rộng ngành nghề làm cho thu nhập cùa nông dân khu vục này được tăng dẩn Tiếp đó là quá trình cải thiện dần khoảng cách thu nhập giữa các xí nghiệp có qui mô lớn và nông trại qui mô nhỏ cùa nông dân Quá trình này chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu, khoảng cách thu nhập tăng lên do các cơ sở sản xuất lớn biết tận dụng lợi thé về qui mỏ vá có diều kiện àp dụng kĩ thuật mới Sau đỏ do lợi ích của cơ sở hạ tầng và khả năng áp dụng kĩ thuật mới tăng lên ở các cơ sờ nhỏ làm cho khoảng cách về thu nhập giảm dẩn.Theo H.Oshima, tiết kiệm sẽ tăng lên ờ các nhóm dân cư, kể cả nhóm có thu nhập thấp nhất, vi thu nhập đã được cải thiện ở họ dần dần thoả mãn các khoản chi và khi đó họ bắt đầu tiết kiệm
để trả nợ các khoản vay trước đó và tiếp tục đẩu tư sản xuất cũng như đầu tư vào việc học hành cho con em họ
Trang 134.3.2.4 Mô hình phân phối lại cùng với / đồng thời với tăng trương kinh
tế cùa WB
Quan điểm của WB về cơ bản cũng giống quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế đi đôi với bình đẳng hay tăng trường kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn
đề phúc lợi, tuy nhiên có sự khác biệt trong cách tiếp cận mục tiêu
trường là cách thức phân phối lại của tăng trường sao cho cùng với thời gian phân phối thu nhập dần được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi trong quá trinh tăng trưởng vẫn tiếp tục Điều này tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự lựa chọn các giải pháp chính sách phân phối lại là quan trọng, bao gồm chính sách phân phối lại tài sản (của cải) và chính sách phân phối lại từ tăng trưởng
Cần phải có chính sách phân phối lại tài sản là vi, theo phân tích cùa
WB, nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất công trong phân phối thu nhập ờ hầu hết các nước đang phát triển là do bất công trong vấn đề sở hữu tài sàn Thực tế là gần 20% dân số nhận được hơn 50% các nguồn lực sản xuất là vì 20% này có thể sờ hữu và kiểm soát 70% các nguồn lực sản xuất, đặc biệt là vốn vật chất, đất đai, thậm chí cả vốn nhân lực dưới hình thức học vấn cao Chính sách đã được áp dụng phổ biến ờ các nước đang phát triển để phân phối lại tài sản là chính sách cải cách ruộng đất, chinh sách tăng cường cơ hội giáo dục, tiếp cận y tế cho nhiều người
Tuy nhiên, trong thực tế, các chính sách nói trên như chính sách cải cách ruộng đất chỉ thực sự trờ thành công cụ tác động đối với phân phối lại thu nhập khi có sự kết hợp với các chính sách tín dụng nông nhiệp, nông thôn, chính sách tiêu thụ nông sản, chính sách công nghệ
Nghiên cứu mô hình phát triển cùa Hàn Quốc và Đài Loan vào những năm 1960, các nhà kinh tế rút ra kết luận, cải cách ruộng đất đã giúp các nước này giảm thiểu bất binh đẳng kinh tế một cách có hiệu quả cao Nhờ đó, GINI94
Trang 14về phàn phối đất đai ờ Hàn Quốc là 0,34, Đài Loan: 0,31 (1960), trong khi đó
Àn Độ, Philippn là 0,5; Brazin 0,7 Mặc dủ những năm 70 ở Hàn Quốc sự bất bình đẳng có tăng, nhưng mức độ bất binh đăng vẫn thấp hơn các nước khác
Do vậy có thể coi Hàn Quốc là một băng chứng thực tế về tăng trưởng đi đôi
V Ớ I b ì n h đ ắ n g k i n h t ế
4.3.3 Bình đắng giới
Giới là thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kì vọng liên quan đến quyền và tự do của nam và nữ Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trò quyết định đến cơ hội cuộc sống cùa con người, xác định vai trò cùa họ trong xã hội và trong nền kinh tế Bât bình đẳng giới được diễn giải theo góc độ và đo bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau
Tại Báo cáo Phát triển con người cua UNDP đã đưa ra hai chỉ số:
- Chi số phát triển giới (GDI - Gender related development Index) Chỉ
số này phản ánh những thành tựu trong các khía cạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều chỉnh các kết quả đó theo sự bất binh đẳng về giới Mỗi nước, nếu giá trị và thứ hạng GDI càng gần với HD1 thì sự khác biệt giới tính càng ít Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HD1 thi đó là biểu hiện sự phân phối không bình đẳng về phát triển con người giữa nam và nữ Ngược lại, nếu thứ hạng GDI cao hơn, thỉ đó là biểu hiện sự phân phối bình đẳng hơn về phát triển con người giữa nam và nữ
- Thước du VỊ th ẻ c ù a g lớ t (GEM)
Thước đo này biểu thị cơ hội của phụ nữ chứ không phải là khả năng / năng lực của họ GEM chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên 3 khía cạnh: (1) Tham ghia hoạt động chính trị và có quyền quyết định - đo bằng tỉ lệ có ghế trong quốc hội của nữ và nam, (2) Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định - đo băng tỉ lệ các vị trí lãnh đạo, quản ií do phụ nữ và nam giới đảm nhận
và tỉ lệ các vị trí trong ngành kĩ thuật, chuyên g ia do phụ nữ và nam giói đảm
Trang 15trách; (3) Quyền đối với các nguồn lực kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính cùa phụ nữ và nam giới (PPP- $US).
binh đằng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát riển; Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết đem lại cơ hội cho phụ nữ; Trong những thập niên vừa qua, tuy đã
có những tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn còn khá phổ biến trong mọi mặt cuộc sống và ở nhiều nước trên thế giới
Vì vậy, bình đẳng giới được COI là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêu, đồng thời cũng là yếu tố để nâng cao khả năng và cơ hội tăng trường của quốc gia và công cuộc xoả đói giảm nghèo
Bằng chứng cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển cùa các nước đang phát triển mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình đẳng trong dài hạn Tuy nhiên, chi có sự tăng trường sẽ không đem lại kết quả mong muốn
mà còn cần có môi trường thể chế đảm bảo quyền và cơ hội binh đẳng cho phụ
nữ và nam giới; cần có những giải pháp chính sách liên quan đến giới trong tăng trưởng kinh tế các nước đang phát triển
4.4 Đói nghèo ở các nước đang phát triển
4.4.1 Quan niệm về đói nghèo
Với phương châm “coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mênh, là trong
tâm ”, WB đã hoàn thành “Ráo cáo về tình hình phát triền thế giới - Tấn công
nghèo đói, năm 2000 Bản báo cáo này ra đời là một đóng góp thiết thực vào cuộc tranh luận về giầu nghèo trong xã hội Điểm đáng ghi nhận là báo cáo này
đã mở rộng quan niệm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương,
dễ gặp rủi ro của người nghèo
Báo cáo diễn giải nội hàm cùa khái niệm nghèo có nghĩa là "Không có
nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến
96
Trang 16trường", "người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát cùa họ Họ thường bị các thế chế cùa nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra ria và không có tiếng nói quyền lực trong các thế chế đó".
Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Ngheo tuyệt đôi và nghèo tương đỏi
Tố chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa nghèo tuyệt đối (hay nghèo theo thu nhập) như sau: "Một người là nghèo khổ khi thu nhập hàng năm ít hon một nửa thu nhập binh quân đâu người hàng năm của quôc gia" Họ còn nhận định, nghèo thu nhập "là sự đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương
2100 - 2300 Kcal/người/năm"
Với cách nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, Robert Mc Namara - khi còn
là giám đốc của WB đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ờ ranh giới ngoài cùng cùa tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ
và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tường tượng của giới tri thức chúng ta"
Mức nghèo tận cùng của một bộ phận dân cư khi điều kiện sống của họ chỉ đảm bảo cho sự tồn tại, ngoài việc sử dụng thu nhập hay tiêu dùng để xác dịnli và đo lưùng mức độ đ6i nghèo thì có nhiều yéu tố khác quyét định đến tình trạng sống của con người m à tinh trạng này được gọi là nghèo tương đối (hay nghèo về con người) Theo đó, nghèo tương đối có thể xem như là mức
độ sống thấp hơn của một số tầng lớp xã hội trong mối tương quan so sánh với
sự sung túc của xã hội đó Ranh giới nghèo tuyệt đối có thể được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi nó không
có tiêu chuẩn chung nào áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tình độ phát triển
Trang 17kinh tế - chính trị - xã hội cùa từng quốc gia và mức độ quan tâm, điêu chỉnh của Chính phù quốc gia đó.
Những tiêu chí đánh giá nghèo đói, dù xuất phát từ tổ chức nào và ờ thời điểm nào thì về cơ bản, cũng đều có sự thống nhất về ba khía cạnh của người nghèo: không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ỡ muc tối thiểu, có múc sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn trong quá trình phát triến
4.4.2 Phương pháp tiếp cận và các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo
• Phương pháp tiếp cận
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống cùa dân cư để phân biệt trong xã hội
ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo, từ đó có những chính sách
trợ giúp cho người n ghèo tiế p cận VỚI n h ữ n g thành q u ả c ủ a sự phát triển kinh
tế và đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư Thực tiễn đã chỉ ra răng: "Hậu quả của thiên tai, lũ lụt và khùng hoảng kinh tê, ngươi nghèo là người chịu trước, còn thành quả của pháp triển kinh tế - xã hội người nghèo là người hường sau"
Hiện lưu hành ba phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo: (1) Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiết; (2) Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế; (3) Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân Trong ba phương pháp đó thì hai phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến Phương pháp cuối lại được hầu hết các tồ chức phi chính phú (NGOs) sư dụng trong việc xác định hộ nghèo trong các dự án giảm nghèo và phát triển cộng đồng (Participatory Poverty Assessment - PPA)
• Chì tiêu đánh giá đỏi nghèo
• Chỉ tiêu thu nhập
Hiện nay, WB sử dựng hai phương pháp tính toán chù yếu: Phương pháp Atlas (phương pháp theo tỉ giá hối đoái) và phương pháp tính bình quân thu nhập ở mỗi nước theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP) 98
Trang 18Sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cẩu WBđã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo
$ u s - PPP):
- Đối với các nước thu nhập thấp: <1 USD/người/ngày
- Đối với nước thu nhập trung bình thấp: < 2 USD/người/ngày
Ngoài ra, còn có một số chuấn nghèo được khuyến nghị cho các quốc gia
- Đối với các nước chậm phát triển: 0,5 USD/người/ngày
- Đối với các nước đang phát triển: lUSD/người/ngày
- Đối với các nước Châu Mỹ và nước đang phát triển ở mức khá: 2 USD/người/ngày
- Đối với các nước Châu Âu: 4USD/người/ngày
- Đối với các nước còng nghiệp: 14USD/người/ngày
* Chì tiêu dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng là một trong những nhu cầu cơ bản và tối thiểu cùa con ngươi để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động Trong nhiều năm, các nhà dinh dưỡng của WHO, FAO, các cơ quan quốc gia và quốc tế đã đưa ra mức dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết cho mỗi cơ thề theo thể trạng con người là 2100 Kcalo mà WHO đưa ra đã dựa trên nhiều lần đánh giá và kiểm nghiệm
WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực cùa con người Cụ thể như sau:
- Ngưỡng nghèo Ihứ nhái: lá số tiền cẩn thiết để mua một số lương thực
Lượng luơng thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 Kcal cho mỗi con người mỗi ngày (gồm khoảng 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực
- Ngưỡng nghèo thứ hai Bao gồm chi tiêui cho sản phẩm lương thực và
phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung
Trang 19Nghèo đói chiu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Vì vậy chưa thể coi 3 phương pháp trên là căn cứ tuyệt đối
để đánh giá mức độ giẩu nghèo cúa một quốc gia
Xuất phát từ lí lẽ đó, LHQ đã sử dụng chi số đói nghèo HPI (Human Poverty Index) Cách tính HPI dành cho các nước đang phát triến HPI-1 dưa vào chỉ số phát triển con người HDI
Chỉ số HPI được tính theo công thức
4.4.3 Quan niệm và chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ờ Việt Nam
• Quan niệm về đói nghèo
Các tài liệu và các công trình nghiên cứu của hầu hết các tác giả Việt Nam đều thống nhất với định nghĩa chung về nghèo do ủ y ban kinh tế - xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP) đưa ra tại hội nghị Bangkok - Thái Lan vào tháng 9/1993
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hường và thoả mãn
cá c nhu cầu c a hàn của con ngirài mà n h ũ n g nhu call này đã đ ư ợ c xã hội thừa
nhận tuỳ theo trinh độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán cúa địa phương
Định nghĩa trên hiện được nhiều quốc gia sứ dụng trong đó có Vièt Nam.Ngoài định nghĩa chung về đói nghèo, Việt Nam còn sử dụng rộng rãi hai định nghĩa mà về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ WB:
nghèo về thu nhập cùa WB): Được xác định bang số tiền chi phí cho nhu cẩu
100
Trang 20thiết yếu để duy trì sự sống với mục tiêu dùng năng lượng 2100 Kcalo/nguời/ ngày.
người): Được xác định bằng số tiền chi phí để mua đú một lượng hàng hóa lương thực, thực phẩm tương đương với mức tiêu dùng năng lượng 2100 Kcalo/người/ngày và một số mặt hàng phi lương thực, thực phẩm
Tuy có sự thống nhất cao về khái niệm nhưng Việt Nam cũng có điểm khác với nhiều nước trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá nghèo khổ Bên cạnh khái niệm nghèo của ESCAP, Việt Nam còn sử dụng thêm khái niệm đói nghèo để chỉ mức độ thấp của nghèo của một bộ phận dân cư Đó là bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu (nhu cầu cơ bản) không đủ điều kiện vật chất duy trì cuộc sống Đây là bộ phận thiếu ăn ít nhất một tháng trong
năm, phải đi vay nợ nhưng không có khả năng chi trả Nói cách khác, đói là
nấc í hang thấp nhất cùa nghèo.
Hiện nay, tình trạng đói đã không được nhăc tới trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước ta từ năm 2001 Mặc dù vậy, cụm từ "xóa đói giảm nghèo" vẫn được sử dụng, chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để giảm nghèo, tiến tới xóa nghèo
• Chi tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Nhóm nghiên cứu liên Bộ: Bộ Lao động và thuơng binh xã hội, Tổng Cục thống kê đã đưa ra chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo là: thu nhập, giáo dục, sức khỏe, nhà ờ Trong đó chỉ tiêu thu nhập đưiợc coi là chỉ tiêu hàng đầu, đồng thời cũng là chỉ tiêu đang được sử dụng đ(ể xác định số lượng người nghèo và hoạch định chính sách xóa đói giảm ngheio
Ở nước ta, trong điều kiện giá cả không ổn địinh và có sự chênh lệch giữa các vùng miền, bên cạnh việc thu nhập được tính toán bằng tiền, còn tồn tại cách tính toán truyền thống của người nông dân - tức qui ra gạo
Tùy vào từng thời kì và từng vùng phát triền của đất nước mà các cơ quan liên bộ ngành và các cơ quan thương trực trong việc tổ chức thực hiện xóa đói giảm nghèo đã đưa ra những mức xác định khác nhau về nghèo
Trang 21Bộ Lao động và thương binh xã hội đưa ra chuẩn nghèo đói nghèo chù yếu dựa vào các số liệu về thu nhập cùa hộ gia đinh Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Cụ thể như sau:
Giai đoạn 1995 - 2000: (Giá năm 1997)
- Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đâu người quy gạo dưới 13 kg (tương đương 45.000 đ)
- Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập phân theo các vùng như sau:
+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo: < 15kg gạo/ người/tháng (tương đương 45.000 đ)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: < 20 kg gạo / nguời/ tháng (tương đương 70.000 đ)
+ Vùng thành thị: < 25kg gạo / người/ tháng (tương đương 90.000 đ)Giai đoạn 2001 - 2005:
+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo: 80.000 đ/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đ/người/tháng
Trang 22Giai đoạn 2011 - 2015 (Chỉ thị 1752/CT-TTg tháng 9/2010 cùa Chínhphủ)
* Các tiêu chuẩn nghèo khác:
Theo cách đánh giá của Bộ LĐ&TBXH, phạm vi đói nghèo có các cấp với những đặc điểm khác nhau về mức độ nghèo
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo Trong số hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Đây là các hộ gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp hom chuẩn nghèo Các hộ này tồn tại "phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên hái lượm", chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng giá trị tài sản binh quân đầu người dưới 1 triệu đồng
- Xã nghèo: Là xã có tỉ lệ hộ nghèo cao (>25%): chưa đủ từ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm
x ã h o ặ c ô tô k h ô n g đi lại được c ả năm ; sô phòng h ọ c ch ỉ đáp ứ n g dưới 70°/o
nhu cầu cùa học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh tre, nứa lá; chưa có trạm
y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm; dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50%
số hộ sử dụng điện sinh hoạt ) Trong các xã nghèo, có các xã đặc biệt khó khăn - Đây là các xã được công nhận theo Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg cùa Thú tướng Chính phủ (gọi chung là xã 135)
- Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng lớn, có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư, nằm ở những khu vực khó khăn; giao thông
Trang 23không thuận tiện, cơ sở hạ tẩng thiếu thốn; không có điều kiện phát triền sán xuất và đảm bảo cuộc sống; là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao
b Chuẩn nghèo cùa Tổng cục thống kê
v ề cơ bản, chuẩn nghèo cùa Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của WB, gồm hai mục: Mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung
- Mức nghèo lương thực, thực phẩm: Đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân theo người / tháng
- Mức nghèo chung: Dựa trên mức chỉ tiêu binh quân đầu người/ tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo
4.4.4 Định hướng giảm nghèo bền vững của Việt Nam thời kì đến năm 2020
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn cùa Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết
Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện đề người nghèo tiếp cận tốt hom các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng cùa các huyện,104
Trang 24xã nghèo được tăng cường; đời sống nguời nghèo được cải thiện rõ rệt, tỉ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22,0% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010.Thành tựu giảm nghèo của nước ta thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bển vững,
số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo, diện cận nghèo còn lớn, tỉ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi và vùng dân tộc thiều số
Tình hình trên trước hết do điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nên mặc dù Nhà nước luôn dành nguồn lực lớn cho giảm nghèo nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cẩu; bên cạnh đó, một số chương trinh, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngăn hạn, thiêu sự găn kết chặt chẽ, cơ chế quản lí, chì đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lí, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ờ một số nơi chưa sâu sát Ngoài ra, một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo
Để tạo sự chuyển biến mới trong công tác giảm nghèo thời gian tới, Chính phú quyết nghị về đjnh hướng giảm nghèo bền vững thời kì từ năm
201 ] đến năm 2020 như sau:
(1) Mục tiêu tổng quát: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm cùa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ờ khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư
(2) Mục tiêu cụ thể: a) Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lân; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; b) Điều kiện sống của
Trang 25sinh hoạt, nhà ờ; người nghèo tiêp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; c) Cơ sờ hạ tầng kinh tế - xã hội ờ các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đâu tư đông bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt.
a) Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung
- Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo: Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kĩ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sờ trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo Mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với lao động nghèo trên
cả nước
- Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ờ các cấp học, nhất là bậc mầm non; tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo; Thực
hiện chính sách ưu đãi thu hút đối vái giáo viên công tác à địa bàn khó khán,
khuyến khích xây dựng và mở rộng “Quỹ khuyến học”; ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở trường, lớp học ở các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn
- Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mac bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo Nghiên cứu chính sách hỗ trợ việc cung cấp dinh dưỡng cho phụ nữ, trẻ em nghèo ở địa bàn nghèo, Tăng cường hom nữa chính sách ưu đãi,
106
Trang 26thu hút đối với cán bộ y tế công tác ờ đìa bàn nghèo, ư u đãi đầu tư trước đểđạt chuẩn cơ sờ bệnh viện, trạm y tế ở các huyện, xã nghèo.
- Hỗ trợ về nhà ờ: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ờ cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi đế cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết tật Xây dựng cơ chế, chính sách của địa phương
để hỗ trợ nhà ở đối với người nghèo ở đô thị trên cơ sờ huy động nguồn lực cùa cộng đồng, gia đinh, dòng họ Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình đầu tư xây dựng nhà ờ cho người có thu nhập thâp
- Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lí: Thực hiện cóhiệu quả chính sách trợ giúp pháp lí miễn phí cho người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận cácchính sách trợ giúp cùa Nhà nước, vươn lên thoát nghèo
- Hỗ trợ người nghèo hường thụ văn hóa, thòng tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chinh sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo
- Hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số; hộ nghèo, người nghèo sinh sống ờ huyện nghèo, xã nghèo và thôn, bàn đặc biệt khó khăn được hường các chính sách un tiên sau: Hộ nghèo, người nghèo ờ các xã đặc biệt khó khăn, xã
an toàn khu, xã biên giới và các thôn, bản đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 cùa Chính phù, Hộ nghèo ờ các thôn, bản giáp biên giới không thuộc huyện nghèo trong thời gian chưa tực túc được lương thực được hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phù; Có chính sách
ưu đãi cao hơn về mức đầu tư, hỗ trợ về lãi suất đối với hộ nghèo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Mờ rộng chính sách cử tuyển đối với học sinh thuộc hộ gia đình sinh sống ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Xây dựng chính sách học
Trang 27bổng cho con em hộ nghèo dân tộc thiểu số ờ các địa bàn đặc biệt khó khăn học đại học; ư u tiên hỗ trợ nhà văn hóa cộng đồng, đưa thông tin về cơ sờ, trợ giúp pháp lý miễn phí đối với đồng bào dàn tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Xây dựng dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người, dự án định canh định cư để hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn (núi đá,
lũ quét, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai)
- Tiếp tục và mở rộng thực hiện các chính sách ưu đãi đối với huyện nghèo, xã nghèo:
+ Huyện nghèo: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hồ trợ giảm nghèo nhanh và bên vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết sô 30a/2008/NQ-CP, bao gồm: Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán
bộ đối với các huyện nghèo, chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện
+ Xã nghèo: Ưu tiên đầu tư trước để hoàn thành, đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới đối với cơ sở trường lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi; Ưu tiên đẩu tư trước để đạt chuẩn các công trình hạ tầng cơ sờ theo tiêu chí nông thôn mới ờ các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã an toàn khu; Mở rộng chương trình quân dân y kết hợp; xây dựng mô hình giảm nghèo gắn với
an ninh quốc phòng để hỗ trự sản xuất, tao thu nhập cho ngiròi nghèo trên địa bàn biên giới; tăng cường bộ đội biên phòng về đảm nhiệm vị trí cán bộ chủ chốt ờ các xã biên giới
- Các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trinh, dự án sừ dụng vốn trái phiếu Chính phù, vốn ODA và các chương trình khác phải tập trung các hoạt động và nguồn lực ưu tiên đẩu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các đìa bàn này
108
Trang 286 Tăng trưởng kinh tế được coi là “điều kiện cần nhưng chưa đủ để xoá đói giảm nghèo, giảm bất công” Vì sao ?
7 Nêu nội dung và phân tích ý nghĩa của các mô hình bất binh đẳng về
thu nhập và tăng trưởng kinh tế: Mô hình chữ u ngược cùa Kuznets, M ô hình
tănẹ trướng trước, bình đẳng sau của A.Lewis, Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đằng cùa H.Osima, Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng cùa WB.
8 Các đặc tính kinh tế chủ yếu cùa các nhóm người nghèo là gỉ ? Các đặc tính này cho chúng ta biết gì về đặc tính có thể có trong chiến lược phát triển tập trung vào sự nghèo đói”
Trang 299 Tại sao phụ nữ ở các nước kém phát triển lại có tỉ lệ nghèo đói cao hơn nam giới Những chính sách nào cùa các nước kém phát triển sẽ làm giảm tỉ lệ nghèo đói của phụ nữ .
10 Trình bày nội dung định hướng xoá đói giảm nghèo ờ Việt Nam thời
ki đến năm 2020
11 Vào trang WEB: http//www.google.com.vn để tìm hiểu nội dung một
số khái niệm: phân phối thu nhập, chi sổ phát triển con ngưòi, thước đo bất
bình đăng về phân phối thu nhập, đường Lorenz, hệ số GINI.
12 Vẽ sơ đồ “Mô hình hinh chữ u ngược” Nêu ý nghĩa của mô hinh trong nghiên cứu hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập và tăng trường kinh tế của Kuznets
13 Vào trang WEB: http//www.google.com.vn / Thực trạng xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế g iớ i
Nhận xét về thực trạng và những vấn đề trong công cuộc xoá đỏi giảm nghèo ở Việt Nam, đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm trong lĩnh vực này ờ một số nước đang phát trriển trên thế giới
110
Trang 30Chính sách quản lí nói chung, chính sách kinh tế - xã hội nói riêng là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lí sử dụng nhằm tác động lên đối tượng và khách thể quản lí để đạt đến những mục tiêu một cách tối ưu sau một thời gian xác định (Chính sách trong quản lí kinh tế - xã hội, Trương Đại học Kinh tế Quốc dân, 2006).
Trang 31Thống nhất một số điểm chung của các định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng, chính sách là tổng thể các hành động, các quan điểm với các công cụ, phương tiện và biện pháp mà chù thể ban hành chinh sách sử dụng để thực hiện các mục tiêu đã định trong một khoảng thời gian xác định.
5.1.2 Phân loại chính sách
Một loại chính sách phổ biến liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội hàng ngày của mọi người, đó là chính sách kinh tê - xã hội Chính sách kinh tê - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tường, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước
sử dụng để tác động đến các chù thể kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu nhất định Có thể phân loại chính sách kinh tế - xã hội theo các tiêu chí sau:
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chính sách kinh tế - xã hội gồm có:+ Chính sách kinh tê: Là chính sách điêu tiết các mối quan hệ kinh tế nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế Các chính sách kinh tế cụ thể như: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách đối ngoại, chính sách phân phối thu nhập, chính sách cạnh tranh,
+ Chính sách xã hội: Là các chính sách điều tiết các quan hệ xã hội, hướng xã hội phát triển một cách bình đẳng, văn minh Chính sách xã hội gồm có: Chính sách lao động và việc làm, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đỉnh, chính sách giảm nghèo, chính sách bảo trợ xã hội
- Căn cứ vào phạm vi ảnh hường cùa chính sách, có thể chia chính sách kinh tế - xã hội thành các loại sau:
+ Chính sách vĩ mô: Là những chính sách được xây dựng nhằm vận hành
và điều tiết nền kinh tế quốc dân, có hiệu lực thi hành trên phạm vi cả nước.+ Chính sách trung mô: Là chính sách có quy mô tác động lên những phân hệ của nền kinh tế - xã hội Ví dụ: Chính sách phát triển ngành, chính sách phát triển vùng, chính sách phát triển thành phần kinh tế
+ Chính sách vi mô: Là chính sách tác động lên các chu thể kinh tế - xã hội cụ thể như các doanh nghiệp, các tổ chức, các đơn vị, Chính sách vi mô
112