Khái niệm Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, theo đó một ngân hàng ngân hàng mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng người yêu cầu mở thư tín dụng cam kết sẽ trả một số t
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Họ và tên : Đàm Thu Lan Hương Lớp: CN16C
Khoá: 16
Hà Nội, tháng 12 năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… 5
LỜI MỞ ĐẦU………6
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CÁC TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNGL/C……… 7
1.1 PHƯƠNG THỨC TTQT BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ……… 7
1.1.1 Khái niệm………8
1.1.2 Quy trình thanh toán bằng L/C………9
1.1.3 Các loại L/C thương mại………11
1.1.4 Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng L/C………… 14
1.2 BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C……… 15
1.2.1 Đối với người xuất khẩu……….16
1.2.2 Đối với người nhập khẩu……… ……… 22
1.2.3 Đối với ngân hàng…….……… 23
1.3 TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PTTT BẰNG L/C……… 25
1.3.1 Tranh chấp giữa NH thanh toán và người hưởng lợi……….26
1.3.2 Tranh chấp giữa NHPH và người yêu cầu mở L/C……… 28
1.3.3 Tranh chấp giữa người mua và người bán ………29
1.3.4 Tranh chấp giữa các ngân hàng ……….31
1.3.5 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong thanh toán L/C……… 32
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PTTT BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM……… 36
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C TẠI VIỆT NAM……… 36
Trang 32.2 THỰC TIỄN TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH
TOÁN BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM……….40
2.2.1 Tranh chấp giữa NH thanh toán và người hưởng lợi……….40
2.2.2 Tranh chấp giữa NHPH và người yêu cầu mở L/C……… 46
2.2.3 Tranh chấp giữa người mua và người bán ………50
2.2.4 Tranh chấp giữa các ngân hàng ………54
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM……… ……… 55
2.3.1 Phương thức giải quyết tranh chấp… ……… 55
2.3.2 Kết quả giải quyết tranh chấp ……… 55
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM………58
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM……… 58
3.1.1 Thuận lợi……….……… 58
3.1.2 Khó khăn……… ……… 59
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C……….59
3.2.1 Giải pháp vĩ mô……… 59
3.2.2 Giải pháp vi mô……… 61
KẾT LUẬN……… 66
TÀI LIỆU THAM KHAM KHẢO……… 68
PHỤ LỤC………69
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong bối cảnh chung của thế giới thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong sự phát triển của đất nước Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi quốc tế, là mắt xích không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể Trong TTQT, phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất là phương thức TDCT (thanh toán bằng thư tín dụng - L/C) L/C là một cam kết chắc chắn của NHPH về việc thanh toán khi chứng từ phù hợp được xuất trình, do vậy, trong mua bán quốc tế, hầu hết các bên liên quan đều ưu tiên chọn L/C làm phương thức thanh toán Mặc dù vậy, phương thức thanh toán bằng L/C vẫn thường xảy ra tranh chấp do kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, nguồn luật điều chỉnh đa dạng, các bên tham gia lại thiếu sự am hiểu rõ ràng các thông lệ, tập quán, luật pháp quốc tế cũng như một số quy định trong L/C
Đề tài “Tranh chấp về bộ chứng từ trong phương thức thanh toán bằng thư
tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam” nhằm nghiên cứu, đánh giá những tranh
chấp mà các bên tham gia thường mắc phải, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa, phòng tránh những lỗi về bộ chứng từ thanh toán trong L/C Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những lý luận chung về phương thức tín dụng và các tranh chấp
về bộ chứng từ trong phương thức thanh toán bằng L/C
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về bộ chứng từ trong phương thức thanh toán bằng L/C tại các ngân hàng Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp về bộ chứng từ trong phương thức thanh toán bằng L/C tại các ngân hàng Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CÁC TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG
TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG L/C
1.1 PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, TTQT là khâu quan trọng của hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau TTQT góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm
vi quốc tế Hoạt động TTQT không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà còn là hoạt động nhằm hỗ trợ, bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của NH, góp phần mở rộng hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại
tệ, bảo lãnh, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ NH quốc tế khác Trong TTQT việc các bên lựa chọn PTTT là một điều kiện hết sức quan trọng Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các bên tham gia trong thương mại quốc tế sẽ thỏa thuận và lựa chọn với nhau, cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc các bên đều có lợi Các PTTT dùng trong ngoại thương hiện nay gồm có: chuyển tiền, nhờ thu, TDCT và ghi sổ
Trong thực tế, khi các bên chưa có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán TDCT
là phương thức phổ biến, được các bên tham gia trong hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì phương thức này bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia
Trang 81.1.1 Khái niệm
Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, theo đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc phải chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi ký phát và trả tiền khi đáo hạn với điều kiện là các chứng từ do người hưởng lợi lập và xuất trình phải phù hợp với các quy định trong L/C (theo giáo trình “Cẩm nang thanh toán quốc tế bằng L/C”)
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức TDCT có thể được áp dụng trong
cả nội thương và ngoại thương Trong ngoại thương, theo yêu cầu của người NK,
NH phát hành một thư tín dụng cho người hưởng lợi hưởng Nội dung chủ yếu của L/C là sự cam kết của NHPH sẽ trả tiền cho người hưởng lợi khi họ tuân thủ những điều quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho NH để thanh toán Thuật ngữ “tín dụng - credit” được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín nhiệm”, chứ không phải để chỉ một khoản cho vay theo nghĩa thông thường Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị
để mở L/C, thì thực chất NHPH không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào cho người mở L/C, mà chỉ cho người NK “vay” sự tín nhiệm của mình Ngay cả trong trường hợp người NK không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi NHPH tiến hành trả tiền cho người XK và ghi nợ người NK Như vậy thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức TDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của NH thay cho lời hứa trả tiền của người NK vì
NH có tín nhiệm cao hơn người NK Trong phương thức TDCT, có 4 bên tham gia chính:
Trang 9 Người yêu cầu mở L/C (applicant): là người yêu cầu NH phát hành L/C và
có trách nhiệm thanh toán theo một thỏa thuận hay cam kết cho người bán theo L/C này Người mở L/C có thể là người mua, người NK hàng hóa, người mở L/C, người trả tiền
Người hưởng lợi L/C (beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán Người thụ hưởng có thể có những tên gọi khác nhau như người bán, người XK, người ký phát hối phiếu
NHPH hay NH mở L/C (issuing bank hay opening bank): là NHPH thư tín dụng theo yêu cầu của người NK Đây là NH đại diện cho người NK, chịu trách nhiệm trả tiền cho người hưởng lợi
NHTB (advising bank): là NH thông báo cho người XK về việc thư tín dụng đã được mở NH này có trách nhiệm thông báo và gửi bản gốc L/C cùng các sửa đổi L/C tới người XK; đồng thời chuyển chứng từ thanh toán hoặc chiết khấu NHTB thường là NH đại lý hoặc là chi nhánh của NH mở L/C đặt tại nước người XK
1.1.2 Quy trình thanh toán bằng L/C
Quy trình thanh toán bằng L/C là một quy trình khá phức tạp, có sự tham gia chủ yếu của 4 bên, gồm 8 bước cơ bản sau:
+ Bước 1: Sau khi ký hợp đồng ngoại thương, người NK viết đơn và gửi
các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi NHPH L/C, yêu cầu NH mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng những điều kiện, nội dung nêu trong đơn, để trả tiền cho người XK
Trang 10Hình 1.1: Quy trình thanh toán bằng L/C
+ Bước 2: Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người NK, NHPH sau khi đã
đồng ý, và người NK đã thực hiện ký quỹ (quy định tài chính với NH), thì sẽ mở một L/C rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NHTB
+ Bước 3: Nhận được bản chính L/C từ NHPH, NHTB phải xác thực L/C
đã nhận được và gửi bản chính L/C cho người XK
+ Bước 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký
trong hợp đồng, sau khi đã kiểm tra kỹ, người XK sẽ tiến hành giao hàng cho người NK
+ Bước 5: Sau khi giao hàng, người XK phải hoàn chỉnh ngay bộ chứng từ
thanh toán theo đúng những yêu cầu trong L/C và phát hành hối phiếu rồi gửi toàn bộ các chứng từ này cho NHTB
+ Bước 6: NHTB xuất trình bộ chứng từ đòi tiền NHPH L/C
NH thông báo
L/C
NH phát hành L/C
Người NK Người
Trang 11+ Bước 7: NHPH tiến hành kiểm tra bộ chứng từ, nếu bộ chứng từ phù hợp
thì chấp nhận thanh toán cho người hưởng lợi
+ Bước 8: NHPH thông báo việc trả tiền L/C cho người NK, đồng thời
NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho người NK để người NK dùng làm căn cứ đi nhận hàng từ người vận chuyển
1.1.3 Các loại L/C thương mại
1.1.3.1 Thư tín dụng không thể hủy ngang
Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở ra và thông báo cho người hưởng lợi thì không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu không có sự đồng ý của các bên liên quan
1.1.3.2 Thư tín dụng có xác nhận
Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang được một ngân hàng xác nhận đảm bảo trả tiền cho người hưởng lợi Loại thư tín dụng này được yêu cầu khi người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C nên cần phải có một ngân hàng khác đứng ra đảm bảo, ngân hàng này gọi là ngân hàng xác nhận
1.1.3.3 Thư tín dụng miễn truy đòi
Là loại thư tín dụng mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền, ngân hàng
mở thư tín dụng không có quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất kỳ trường hợp nào
Trang 121.1.3.4 Thư tín dụng chuyển nhượng
Là thư tín dụng không thể hủy ngang trong đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu được quyền chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một hay nhiều người khác Thư tín dụng chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu
1.1.3.5 Thư tín dụng tuần hoàn
Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang trong đó quy định sau khi sử dụng xong giá trị hoặc hết thời hạn hiệu lực (của mỗi lần tuần hoàn) thì nó lại có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào hoàn tất tổng giá trị hợp đồng Thư tín dụng tuần hoàn được áp dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, trị giá mỗi đợt thanh toán xấp xỉ nhau, khối lượng lớn và trong thời hạn dài
1.1.3.6 Thư tín dụng giáp lưng
Sau khi nhận được thư tín dụng do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu trên cơ sở đó mở tiếp một thư tín dụng cho người khác hưởng với nội dung gần giống như tín dụng ban đầu Thư tín dụng trước gọi là thư tín dụng gốc, thư tín dụng sau gọi là thư tín dụng giáp lưng
1.1.3.7 Thư tín dụng đối ứng
Là loại thư tín dụng chỉ có hiệu lực khi thư tín dụng đối ứng với nó đã được
mở Trong thư tín dụng ban đầu thường phải ghi câu: “ Thư tín dụng này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một thư tín dụng đối ứng với nó để cho người mở thư tín dụng này hưởng” và trong thư tín dụng đối ứng phải ghi câu: “
Trang 13Thư tín dụng này đối ứng với thư tín dụng số … mở ngày qua ngân hàng …” Thư tín dụng đối ứng thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, hoặc trong các hợp đồng gia công
Hình 1.2: Trình tự thanh toán của thư tín dụng đối ứng
Thanh toán khoản nợ của người mở L/C dự phòng
Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng không thực hiện nghĩa vụ của mình
Ngân hàng bên A
(3) mở L/C 1 (6) mở L/C 2
Ngân hàng bên B
Bên B Nhà xuất/ Nhà nhập
Bên A Nhà xuất/ Nhà nhập
(7) thông báo L/C 2
Trang 14Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C ngược lại nếu không có sự vi phạm ấy, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện
1.1.3.9 Thư tín dụng thanh toán dần
Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang, trong đó ngân hàng cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần toàn bộ số tiền của thư tín dụng trong những thời hạn được quy định rõ trong L/C đó
1.1.3.10 Thư tín dụng có điều khoản đỏ
Là loại thư tín dụng có các điều khoản đặc biệt Thông thường điều khoản đặc biệt này là cho phép người xuất khẩu được ứng trước một số tiên nhất định trước khi giao hàng, số tiền đó sẽ được trừ vào số tiền thanh toán khi xuất trình
bộ chứng từ với ngân hàng
1.1.4 Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng L/C
Thanh toán XNK bằng L/C được các ngân hàng trên thế giới thực hiện trên
cơ sở UCP Nhưng UCP lại chỉ là văn bản quy phạm pháp luật tùy ý lựa chọn áp dụng, không bắt buộc (chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu áp dụng UCP thì nó mới
có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia), trong khi đó, giao dịch L/C có thể còn chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật quốc gia Nếu nội dung của UCP có xung đột với luật quốc gia thì luật quốc gia được áp dụng trước về mặt pháp lý; phán quyết của tòa án địa phương có thể phủ nhận nội dung giao dịch bằng L/C
Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng L/C bao gồm:
Trang 15 UCP600, 2007 ICC- Các quy tắc thực hành thống nhất về TDCT (Uniform Customs And Practice For Documentary Credit – viết tắt là UCP)
ISBP 681, 2007 ICC- Tập quán NH tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng
từ theo L/C, tuân thủ theo UCP600 2007 ICC (International Standard Banking Practice Under Documentary Credit – viết tắt là ISBP)
eUCP 1.1- Bản phụ trương UCP600 về việc xuất trình điện tử (Supplement To The Uniform Customs And Practice For Documentary Credit For Electronic Presentation – viết tắt là eUCP)
URR 525 1995 ICC- Quy tắc thống nhất hoàn trả tiền theo L/C (Uniform Rules For Bank- To- Bank Reimbursements Under Documentary Credit – viết tắt là URR)
1.2 BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C
Các NH, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, là bằng chứng
về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao,
do đó, chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để người NK hoàn trả tiền cho NHPH L/C, là chứng từ đi nhận hàng của người NK… Việc người XK
có thu được tiền hay không phụ thuộc chủ yếu vào chứng từ xuất trình có phù hợp; đồng thời NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là
NH không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hóa mà bất kỳ chứng từ nào đại diện Ngoài ra, bộ chứng từ xuất trình còn phải đáp ứng về thời gian và điểm xuất trình
Trang 16Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, NHPH phải thanh toán mặc dù trên thực
tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không đúng như quy định trên chứng từ Nếu hàng hóa không khớp với chứng từ thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, mà NHPH vẫn thanh toán, thì
NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người NK có quyền từ chối thanh toán lại tiền cho NH
1.2.1 Đối với người xuất khẩu
Bộ chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là nội dung quan trọng của L/C, vì bộ chứng từ quy định theo L/C là bằng chứng chứng minh người xuất khẩu đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đúng như L/C đã quy định Bộ chứng từ xuất trình phải đạt các yêu cầu:
Đầy đủ chứng từ về chủng loại và số lượng theo yêu cầu của L/C
Hoàn chỉnh về mặt hình thức bên ngoài
Nội dung các chứng từ phải tuân thủ theo đúng các quy định trong L/C
Nội dung các chứng từ không có sự mâu thuẫn với nhau
a/ Lập chứng từ
Do tính chất quan trọng của bộ chứng từ xuất trình nên người XK cần đặc biệt lưu ý khi lập chứng từ Các chứng từ cơ bản thường được yêu cầu trong L/C bao gồm:
Chứng từ hàng hóa: Hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói hàng, chứng nhận số lượng, chứng nhận xuất xứ
Trang 17 Chứng từ vận tải: vận đơn đường biển, vận đơn hàng không, thông báo hàng đến và chứng từ vận tải khác
Chứng từ bảo hiểm: Bảo hiểm đơn, giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm bao, phiếu bảo hiểm
Khi tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán, người XK sẽ phải xuất trình rất nhiều loại chứng từ theo yêu cầu của người NK, trong đó, một trong những chứng từ chính là hóa đơn thương mại được xem là chứng từ trung tâm
Hóa đơn thương mại thường được lập làm nhiều bản và được sử dụng trong các việc khác nhau, chủ yếu là gửi cho người mua để thông báo kết quả giao hàng, để người mua chuẩn bị nhận hàng và thanh toán; là chứng từ trong bộ chứng từ gửi đến NH mở L/C để đòi tiền, gửi cho công ty bảo hiểm để tính phí bảo hiểm hàng hóa, gửi cho cơ quan hải quan để tính thuế xuất nhập khẩu… Hóa đơn thương mại gồm các nội dung chi tiết sau:
+ Trị giá hóa đơn: là nội dung quan trọng nhất Một hóa đơn thương mại phát hành không được có số tiền vượt quá số tiền được phép của tín dụng trừ khi
có sự chấp nhận của của NHPH hoặc NH xác nhận
+ Các bên: tên và địa chỉ đầy đủ của người mua và người bán, số tham chiếu, cơ sở tính thuế, nơi và ngày tháng phát hành
+ Điều kiện cơ sở giao hàng và thanh toán
+ Ký mã hiệu hàng hóa: ký mã hiệu trên hóa đơn phai giống với ký mã hiệu trên vận đơn vận tải
+ Mô tả hàng hóa: phải phù hợp với mô tả trong L/C
+ Số lượng hàng hóa
Trang 18+ Tổng số tiền nhà nhập khẩu phải trả, chi tiết về cước vận chuyển và phí bảo hiểm
Khi lập hóa đơn thương mại, người XK cần lưu ý kiểm tra các thông tin trên hóa đơn xem có khớp đúng với quy định của L/C hay không Cách thức kiểm tra như sau:
+ Kiểm tra số bản được xuất trình có đúng quy định của L/C không?
+ Kiểm tra các dữ liệu về người bán, người mua (tên công ty, địa chỉ, số điện thoại ) so với nội dung của L/C quy định có phù hợp không?
+ Nếu hoá đơn không phải do người thụ hưởng lập thì hoá đơn được coi là hợp lệ khi L/C có quy định chấp nhận chứng từ do bên thứ ba lập: commercial invoice issued by third party is acceptable hay third party acceptable
+ Mô tả trên hoá đơn có đúng quy định của L/C hay không?
+ Kiểm tra số lượng, trọng lượng, đơn giá, tổng trị giá, điều kiện cơ sở giao hàng, điều kiện đóng gói và ký mã hiệu hàng hoá có mâu thuẫn với các chứng từ khác như phiếu đóng gói, vận đơn đường biển hoặc vận đơn hàng không Kiểm tra các thông tin khác ghi trên hoá đơn như tên phương tiện vận tải, cảng xếp, cảng dỡ hàng, số và ngày lập hoá đơn có phù hợp với L/C và các chứng từ khác hay không
Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) nhằm chứng minh nguồn gốc hàng hóa theo yêu cầu của người NK và xác định mức thuế XNK hàng hóa giữa các quốc gia có dành cho nhau những quy chế ưu đãi về thuong mại, thuế quan Việc xác định mức miễn giảm thuế XNK được thực hiện theo mẫu C/O Những nội dung chính của giấy chứng nhận xuất xứ bao gồm: tên và địa chỉ của người mua và
Trang 19người bán, tên hàng, số lượng, ký mã hiệu, lời khai của chủ hàng về nơi sản xuất hoặc khai thác hàng, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền Các nội dung khai trên giấy chứng nhận xuất xứ phải đảm bảo khớp đúng với nội dung khai trên hóa đơn thương mại Giấy chứng nhận xuất xứ cũng phải được người XK kiểm tra kỹ trước khi xuất trình:
+ Phải được ký, ghi ngày và có nội dung xác nhận xuất xứ hàng
+ Phải thể hiện là liên quan đến hàng hóa ghi trong hóa đơn
+ Mục “người nhận hàng”: nếu chứng từ vận tải thuộc loại theo lệnh, theo lệnh của người gửi hàng, theo lệnh của NHPH hay giao cho NHPH thì trên giấy chứng nhận xuất xứ có thể ghi tên của người mở L/C hay tên của một bên khác như L/C quy định Nếu chứng từ vận tải là đích danh người nhận hàng, thì thông tin về người nhận hàng trên giấy chứng nhận xuất xứ không được mâu thuẫn với thông tin trên chứng từ vận tải
Ngoài hóa đơn thương mại và giấy chứng nhận xuất xứ, vận đơn đường biển cũng là một chứng từ quan trọng, bởi vì đây là chứng từ sở hữu hàng hóa, được dùng để giao nhận hàng hóa và thanh toán Nội dung của B/L bao gồm:
+ Tên của công ty vận tải biển
+ Người gửi hàng: thường là người XK
+ Người nhận hàng: Nếu là vận đơn đích danh hay theo lệnh thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ kinh doanh của người nhận hàng đích danh hoặc tên của người mà hàng hóa được giao theo lệnh của người nay Nếu là vô danh thì ghi “to the bearer or to the holder”
Trang 20+ Bên được thông báo: ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người được thuyền trưởng hay người chuyên chở thông báo về chuyến tàu và ngày giờ tàu cập cảng đích
+ Nơi nhận hàng để chở: ghi địa điểm hàng hóa được nhận để chở
+ Tên cảng bốc hàng lên tàu
+ Tên cảng dỡ hàng
+ Nơi trả hàng cho người nhận: có thể ở ngay cảng đích hoặc nằm sâu trong đất liền
+ Tên con tàu chở hàng và số hiệu chuyến tàu
+ Ký mã hiệu, số hiệu, số lượng, trọng lượng, thể tích và mô tả hàng hóa
+ Cam kết của người chuyên chở về việc đã nhận hàng và trách nhiệm chở hàng hóa đến nơi quy định
+ Nơi và ngày thàng phát hành vận đơn
+ Người phát hành vận đơn ký tên
Khi lập B/L người XK cũng phải kiểm tra xem vận đơn đã được đúng theo quy định hay chưa:
+ Kiểm tra số bản chính được xuất trình
+ Kiểm tra tính xác thực của vận đơn: phải kiểm tra vận đơn có chữ ký của người chuyên chở ( hãng tàu) hoặc đại lý của người chuyên chở hoặc thuyền trưởng của con tàu hoặc người giao nhận và tư cách pháp lý Nếu chỉ có chữ ký của người vận chuyển, không nêu tư cách pháp lý hoặc không nêu đầy đủ các chi tiết liên quan đến tư cách pháp lý của người đó thì chứng từ sẽ bị coi là không phù hợp và NH có quyền từ chối thanh toán
Trang 21+ Kiểm tra mục “thông báo”: ghi tên và địa chỉ đầy đủ của người làm đơn xin mở L/C
+ Kiểm tra tên cảng xếp hàng ( port of loading) và cảng dỡ hàng ( port of discharge) có phù hợp với quy định của L/C hay không?
+ Kiểm tra điều kiện chuyển tải: Nếu L/C quy định không cho phép chuyển tải ( transhipment prohibited), trên B/L không được thể hiện bất cứ bằng chứng nào về sự chuyển tải Nếu việc chuyển tải xảy ra, ngân hàng chỉ chấp nhận chứng
từ này khi tên cảng chuyển tải, tên tàu và tuyến đường phải được nêu trên cùng một vận đơn
+ Kiểm tra nội dung hàng hoá được nêu trên B/L có phù hợp với quy định trong L/C và các chứng từ khác hay không? Nội dung này bao gồm: tên hàng hoá, ký mã hiệu hàng hoá, số lượng, số kiện hàng hoá, tổng trọng lượng hàng hoá đặc biệt ngân hàng thường chú ý đến mục ký mã hiệu hàng hoá ghi trên thùng hàng, số hiệu container hoặc số hiệu lô hàng được gửi trên tàu với nội dung L/C và Packing List
+ Kiểm tra đặc điểm của vận đơn: có thể là vận đơn đã xếp hàng (shipped on board B/L) hoặc vận đơn nhận hàng để xếp (received for shipment B/L)
+ Kiểm tra mục cước phí: có phù hợp với quy định của L/C hay không?
b/ Xuất trình bộ chứng từ
Người hưởng lợi không những phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp mà còn đúng hạn, tại nơi quy định và trong thời gian làm việc của các NH Việc xuất trình bộ chứng từ phải trong thời hạn hiệu lực của L/C Ngoài ra, khi L/C yêu cầu chứng từ vận tải, thì việc xuất trình chứng từ phải được thực hiện theo đúng
Trang 22thời hạn hiệu lực quy định trong L/C kể từ sau ngày giao hàng Nếu không có quy định về thời hạn như vậy, NH sẽ không chấp nhận các chứng từ được xuất
trình quá 21 ngày dương lịch sau ngày giao hàng, nhưng trong bất kỳ trường hợp
nào cũng không được muộn hơn ngày hết hạn của L/C
Theo điều 14j UCP600, khi các địa chỉ của người thụ hưởng và người NK thể hiện trong bất cứ chứng từ nào thì các địa chỉ đó không nhất thiết phải giống như các địa chỉ quy định trong L/C, nhưng các địa chỉ đó phải trong cùng một quốc gia như các địa chỉ tương ứng trong L/C Tuy nhiên, nếu địa chỉ và các chi tiết giao dịch của người NK chính là địa chỉ của người nhận hàng hoặc của các bên thông báo chi tiết trên chứng từ vận tải thì phải đúng như quy định trong L/C
Người xuất khẩu có nhận được tiền hay không, và nhanh hay chậm phụ thuộc vào chứng từ Vì vậy, yêu cầu lập chứng từ phải nghiêm ngặt, hoàn hảo, phù hợp với những điều khoản và điều kiện của L/C
1.2.2 Đối với người nhập khẩu
Căn cứ vào hợp đồng ngoại thương đã ký kết để đưa ra những quy định về
bộ chứng từ yêu cầu xuất trình Người XK có thể giao hàng không đúng quy cách, giao hàng chậm, thiếu, kém chất lượng… so với quy định của hợp đồng
Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, người NK phải đưa ra những quy định chặt chẽ về bộ chứng từ xuất trình trong đơn xin mở L/C Bộ chứng từ yêu cầu người XK xuất trình phải được quy định rõ về loại chứng từ, số lượng bản gốc, bản sao Khi bộ chứng từ được NHPH thông báo là phù hợp, người NK có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền mà NHPH đã thanh toán cho người hưởng lợi
Trang 23Sau khi nhận được bộ chứng từ thanh toán từ NHPH, người NK sẽ kiểm tra
bộ chứng từ xem có đúng theo những yêu cầu của mình hay không và dùng bộ chứng từ làm căn cứ đi nhận hàng từ người chuyên chở Trong bộ chứng từ thanh toán, chứng từ vận tải sẽ là chứng từ chứng minh sở hữu hàng hóa của người mua còn các chứng từ khác sẽ là căn cứ để người mua kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ của người bán
1.2.3 Đối với ngân hàng
1.2.3.1 Ngân hàng thông báo
Thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở thư tín dụng ở nước người xuất khẩu Khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu chuyển đến (nếu ngân hàng thông báo là ngân hàng tiếp nhận chứng từ), NHTB phải chuyển ngay
và nguyên vẹn bộ chứng từ đó đến ngân hàng mở thư tín dụng Ngân hàng không chịu trách nhiệm bởi những hậu quả phát sinh ra do sự chậm trễ hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở thư tín dụng, miễn là chứng minh rằng mình đã gửi nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó qua bưu điện Ngân hàng thông báo L/C không phải đưa ra cam kết về thanh toán hoặc chiết khấu bộ chứng từ trừ khi ngân hàng thông báo đóng vai trò là ngân hàng xác nhận L/C
1.2.3.2 Ngân hàng mở L/C
Khi tiếp nhận bộ chứng từ, việc kiểm tra sẽ được tiến hành nhằm đảm bảo
là các chứng từ được thể hiện trên bề mặt là phù hợp với các điều khoản và các điều kiện của L/C Theo điều 17 UCP600, ít nhất một bản gốc của mỗi chứng từ trong thư tín dụng phải được xuất trình NH sau đó sẽ tiến hành kiểm tra bộ chứng từ để thanh toán Nguyên tắc kiểm tra: Việc kiểm tra chứng từ phải thật khẩn trương ngay sau khi nhận được đầy đủ chứng từ của người hưởng lợi và
Trang 24phải đảm bảo đúng quy định của L/C, UCP600 và ISBP NHPH sẽ tiến hành kiểm tra sơ lược ban đầu:
- Trước hết NH kiểm tra xem ngày lập chứng từ có nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C hay không?
- Việc xuất trình chứng từ có đúng hạn hay không?
- Xem xét các khoản mục trên chứng từ có đúng và đầy đủ theo yêu cầu của L/C hay không? Ngoài ra chứng từ còn được cấp bởi cơ quan nào?
Kiểm tra những yếu tố cơ bản của bộ chứng từ:
- Kiểm tra xem số tiền trị giá của bộ chứng từ có nằm trong phạm vi trị giá của L/C hay không?
- Việc giao hàng từng phần có được phép hay không?
Sự sai biệt của bộ chứng từ về mặt nội dung cũng như cách thể hiện so với quy định của L/C đều bị coi là bất hợp lệ và phải được sửa chữa (nếu bất hợp lệ
có thể sửa chữa được)
Theo điều 14 UCP600, NH sẽ có một khoảng thời gian là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày nhận chứng từ để kiểm tra chứng từ Nếu xét thấy các chứng từ đó phù hợp thì NH trả tiền cho người hưởng lợi và đòi lại tiền người NK, ngược lại thì từ chối thanh toán Khi kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra “ bề ngoài” của chứng từ xem có phù hợp hay không, chứ không chịu trách nhiệm về việc kiểm tra tính chất pháp lý của chứng
từ, tính chất xác thực của chứng từ … Mọi sự tranh chấp về tính chất “ bên trong” của chứng từ là do người nhập khẩu và người xuất khẩu tự giải quyết Ngân hàng được miễn trách trong trường hợp ngân hàng rơi vào đúng các bất
Trang 25khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, lụt lội, động đất, hỏa hoạn … Nếu ngân hàng phải ngừng hoạt động vì những lý do nêu trên thì đều được miễn trách nhiệm đối với bộ chứng từ của thư tín dụng mà ngày xuất trình hoặc ngày hết hiệu lực rơi đúng vào ngày ngân hàng ngưng hoạt động, bất kể chứng từ đó sau khi ngân hàng làm việc trở lại có được xuất trình hay không
1.2.2.3 Ngân hàng xác nhận
Ngân hàng xác nhận thường là ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tài chính quốc tế Muốn được xác nhận, ngân hàng mở thư tín dụng phải trả một khoản phí rất cao, ngoài ra còn có thể phải đặt cọc trước và mức đặt cọc này có thể lên đến 100% trị giá của thư tín dụng
Theo điều 8 UCP600 “NHXN buộc phải cam kết thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ vô điều kiện ngay từ thời điểm họ xác nhận thư tín dụng” Khi người thụ hưởng L/C xuất trình bộ chứng từ thanh toán hợp lệ thì NHXN phải thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ cho dù ngân hàng được chỉ định khác từ chối thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ hay NHPH L/C phá sản, mất khả năng chi trả
1.3 TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG L/C
Các tranh chấp xảy ra trong thanh toán TDCT phát sinh từ nhiều nguyên nhân và rất đa dạng, trong đó phải kể đến 4 tranh chấp điển hình là tranh chấp giữa NH thanh toán và người hưởng lợi, tranh chấp giữa NHPH và người yêu cầu mở L/C, tranh chấp giữa người mua và người bán và tranh chấp giữa các NH với nhau
Trang 261.3.1 Tranh chấp giữa NH thanh toán và người hưởng lợi
Tranh chấp giữa NH thanh toán và người hưởng lợi phát sinh thường do quan điểm về tính hợp lệ của bộ chứng từ thanh toán khác nhau Đối với NHPH,
NH có riêng bộ tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ do phòng Thương mại quốc tế ban hành làm căn cứ kiểm tra Trong khi đó, người XK chỉ căn cứ vào L/C để lập chứng từ, còn các tiêu chuẩn về lập chứng từ theo thông lệ quốc tế thì họ thường không quan tâm đến Chính vì vậy, khi mâu thuẫn phát sinh do NHPH trả lại bộ chứng từ với lý do không phù hợp và từ chối thanh toán, người XK không đồng
ý và tranh chấp xảy ra Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :
từ đó sẽ bị NH từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đã mâu thuẫn với nhau
Một chứng từ có thể ghi ngày trước ngày phát hành tín dụng
Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, ví dụ như là:
Trang 27+ Lập chứng từ sai lỗi chính tả hoặc lỗi đánh máy làm sai nghĩa của từ hoặc câu (ví dụ model 123 ghi thành model 132), sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng vận tải
+ Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng như thiếu bản gốc hoặc bản sao theo như yêu cầu của L/C
+ Các sai sót trên bề mặt chứng từ: số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…
b/ Xuất trình chứng từ:
NH thanh toán phải kiểm tra việc xuất trình chứng từ để quyết định chứng
từ thể hiện trên bề mặt của chúng có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Bộ chứng từ xuất trình không những phù hợp với quy định của L/C mà còn phải được xuất trình tại thời điểm quy định trong L/C và trong thời hạn hiệu lực của L/C Nếu trong L/C không quy định, thì việc xuất trình không được muộn quá 21 ngày dương lịch sau ngày giao hàng Nếu như người hưởng lợi xuất trình chứng từ quá thời hạn hiệu lực của L/C thì NHPH có quyền từ chối thanh toán
Ngay cả khi người hưởng lợi xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo mà NHPH lại mất khả năng thanh toán thì lúc này rủi ro vẫn thuộc về phía người hưởng lợi Cũng có trường hợp, do quan hệ của NHPH và người NK, vì một lý
do nào đó người NK không muốn nhận lô hàng nên đã yêu cầu NHPH từ chối thanh toán mặc dù bộ chứng từ xuất trình là phù hợp và NH đã chấp nhận Điều
Trang 28này hoàn toàn trái với thông lệ quốc tế Người hưởng lợi do không lấy được tiền thanh toán đã kiện lại phía NHPH do không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán
c/ Quy định thanh toán của NH
Theo điều 14b UCP600, NH có tối đa là 5 ngày làm việc NH tiếp theo ngày xuất trình để quyết định xem việc xuất trình có phù hợp hay không Nếu NH không làm tròn trách nhiệm của mình, thông báo từ chối thanh toán khi đã quá 5 ngày làm việc như quy định, thì lúc này NH sẽ mất quyền từ chối thanh toán và khó tránh được rủi ro khi tranh chấp phát sinh
1.3.2 Tranh chấp giữa NHPH và người yêu cầu mở L/C
Tranh chấp giữa NHPH và người yêu cầu mở L/C thường phát sinh trong các trường hợp sau:
a/ Quy định về bộ chứng từ trong đơn yêu cầu mở L/C
Khi người NK gửi đơn xin mở L/C đến, NHPH sẽ căn cứ vào đơn để tiến hành mở L/C Tuy nhiên do sơ suất không kiểm tra kỹ nên NH đã mở một L/C thiếu hoặc sai lệch nội dung so với đơn xin mở L/C của người NK Trong trường
hợp này căn cứ để giải quyết tranh chấp phát sinh là đơn xin mở thư tín dụng
Nếu ngân hàng phát hành L/C thiếu một số chứng từ như giấy chứng nhận số lượng, chất lượng … có thể làm cho người mua không nhận được đủ hàng hoặc nhận được hàng kém chất lượng Khi đó người mua có thể sẽ khiếu nại ngân hàng vì đã không đưa vào L/C đủ các chứng từ mà đơn xin mở L/C yêu cầu Hoặc nếu việc thiếu chứng từ làm cho hàng hóa không được nhập cảnh (ví dụ thiếu giấy chứng nhận kiểm dịch) thì ngân hàng rõ ràng phải bồi thường cho người mua các chi phí đã bỏ ra cũng như lãi bị bỏ lỡ Có trường hợp người NK yêu cầu bộ chứng từ xuất trình có 2 bản gốc và 1 bản sao giấy chứng nhận số
Trang 29lượng, NH do sơ suất mở L/C yêu cầu 1 bản gốc và 2 bản sao; người NK phát hiện và đề nghị NH mở lại L/C Việc mở lại L/C làm cho người mua bị người bán quy kết là mở L/C chậm Khi đó người NK có thể khiếu nại NH do người bán buộc người mua phải chịu phạt vì mở L/C chậm
b/ Thanh toán đổi lấy chứng từ nhận hàng
Khi nhận bộ chứng từ xuất trình, nếu NHPH chấp nhận thanh toán mà không có sự kiểm tra thích đáng bộ chứng từ để bộ chứng từ có lỗi, người NK không chấp nhận lỗi sai biệt của bộ chứng từ và từ chối thanh toán Tuy nhiên,
NH đã gửi thông báo từ chối thanh toán quá thời hạn quy định là 5 ngày làm việc khiến cho người mua bắt buộc phải chấp nhận bộ chứng từ có lỗi thì NH không thể miễn trách do sai sót của mình
Những sai sót nêu trên hoàn toàn có thể tránh được nếu như các bên tham gia làm việc với sự mẫn cán hợp lý, có thiện chí hợp tác để cùng khắc phục, hạn chế những tranh chấp phát sinh làm ảnh hưởng đến tất cả các bên tham gia giao dịch
1.3.3 Tranh chấp giữa người mua và người bán
Tranh chấp giữa người mua và người bán về bộ chứng từ thường là do người bán xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với quy định của L/C, giao chứng từ giả mạo, hoặc không thể lập bộ chứng từ thanh toán phù hợp do đã chấp nhận một yêu cầu chịu sự khống chế của người mua, hay do người mua vì
không muốn nhận hàng nên từ chối thanh toán… tùy mỗi trường hợp cụ thể lại
có cách xử lý riêng:
a/ Trường hợp người bán không thể lập được bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C do đã chấp nhận một L/C có các điều khoản mà người mua đã khống chế Trong thực tế, có thể vì sự non kém về nghiệp vụ hoặc vì các bất lợi
Trang 30do sức ép của thị trường hoặc các sức ép khác mà người bán đã phải chấp nhận một L/C trong đó yêu cầu một hay một số loại chứng từ do người mua hoặc người thay mặt người mua cung cấp, hoặc chấp nhận một L/C và việc thực hiện các quy định của L/C đó vẫn chịu sự chi phí của người mua Vì vậy, sau này nếu người mua không có thiện chí, không cung cấp các chứng từ hoặc không nhận hàng thì người bán sẽ không thể lập được chứng từ phù hợp với L/C do đó không thể nhận được tiền hàng Khi đó người bán sẽ phải thương lượng để yêu cầu người mua nhận hàng hoặc cung cấp các chứng từ còn thiếu Nếu người mua không thực hiện thì sẽ phát sinh tranh chấp
b/ Trường hợp phát sinh tranh chấp do người mua không nhận được hàng,
ví dụ, người bán xuất trình vận đơn nhận hàng để xếp “received for shipment B/L” mà chưa có dấu “on board” hoặc các chứng từ khác có sai biệt rồi sau đó thuyết phục người mua chấp nhận sai biệt đó của chứng từ để chỉ thị cho ngân hàng thanh toán Người mua nếu đồng ý và sau này không nhận được hàng thì sẽ không có quyền khiếu nại người bán hoặc ngân hàng vì chứng từ không phù hợp
mà chỉ có quyền khiếu nại hoặc kiện người bán theo quan hệ hợp đồng Chính vì vậy người mua tốt nhất không nên vội vã chấp nhận các sai biệt của chứng từ và đồng ý cho ngân hàng thanh toán tiền Hoặc người bán giao chứng từ phù hợp với L/C nhưng lại là chứng từ giả mạo thì chứng tỏ người bán đã có ý đồ lừa đảo, không giao hàng Khi chứng từ phù hợp L/C, NH sẽ trả tiền và không chịu trách nhiệm gì, vì vậy người mua lúc này chỉ có cách duy nhất để ngăn chặn việc ngân hàng trả tiền bằng cách cung cấp các bằng chứng về sự lừa đảo với tòa án Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có kết quả khi ngân hàng chưa kịp thanh toán cho người bán, nếu thanh toán rồi thì ngân hàng sẽ không chịu trách nhiệm gì Vì
Trang 31vậy, cách giải quyết tốt nhất là doanh nghiệp phải nên xem xét kĩ đối tác trước khi ký hợp đồng và can thiệp kịp thời khi phát hiện các dấu hiệu lừa đảo
c/ Trường hợp người bán xuất trình được bộ chứng từ phù hợp nhưng không thể hiện đúng thực tế giao hàng, hàng kém chất lượng Khi bộ chứng từ phù hợp, NH sẽ chỉ căn cứ vào chứng từ để thanh toán cho người hưởng lợi, không xem xét đến thực tế giao hàng Chính vì vậy, dù tiền hàng đã được trả, nhưng thực tế hàng giao không đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, người mua nhận được không đủ hàng hoặc hàng kém chất lượng, giảm chất lượng do
ẩm mốc, lẫn tạp chất… Người mua sẽ yêu cầu người bán gửi hàng thay thế hoặc giảm giá lô hàng Tuy nhiên, nếu người bán không thiện chí hợp tác, từ chối gửi lại hàng hoặc giảm giá khiến cho người mua phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới bán lại với giá thấp Đồng thời, người mua phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… Để đòi bồi thường những tổn thất do việc giao hàng không đúng như trong hợp đồng, người NK sẽ kiện người XK dựa trên hợp đồng mua bán quốc tế hai bên đã ký kết và các chứng từ hàng hóa có liên quan
1.3.4 Tranh chấp giữa các ngân hàng
a/ Tranh chấp thường phát sinh giữa NHTB và NHPH
Các tranh chấp phát sinh ở đây thường là do quan điểm về bộ chứng từ phù hợp của ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo không giống nhau Ví dụ, một hối phiếu với số tiền được ghi là: 123,578.00 USD (one*two*three*five
*seven*eight US dollar) đã được ngân hàng thông báo chiết khấu, nhưng ngân hàng phát hành lại cho là chứng từ hối phiếu có số tiền bằng số và bằng chữ không thống nhất với nhau, không phù hợp với cách ghi số tiền trên chứng từ tài
Trang 32chính theo tập quán Thực tế việc xác định sai biệt nào là nặng hay nhẹ hay không phải là sai biệt trong bộ chứng từ là một việc không phải dễ, mà bản thân các điều khoản của UCP cũng không quy định rõ vấn đề này, nên các ngân hàng thường theo tập quán và quan điểm của riêng họ Vì vậy, cách tốt nhất là các ngân hàng nên kiểm tra kỹ bề mặt của chứng từ theo các quy định của L/C, và khi có những điểm chưa phù hợp thì chưa vội trả tiền, hay chiết khấu không có bảo lưu Hoặc tranh chấp phát sinh do NHTB thực hiện không theo đúng các chỉ dẫn của NHPH trong L/C
b/ Tranh chấp giữa NHđCĐ và NHPH
NhđCĐ là NH tại đó L/C có giá trị thanh toán Trong vòng 5 ngày làm việc
kể từ ngày xuất trình, NHđCĐ phải kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Khi NHđCD quyết định rằng xuất trình là phù hợp và thanh toán hoặc chiết khấu, thì phải chuyển giao chứng từ đến NHPH Tuy nhiên, do bất cẩn, NHđCĐ làm thất lạc một phần bộ chứng từ xuất trình và bộ chứng từ được chuyển đến NHPH sẽ
bị thiếu khiến cho người NK không thể đi nhận hàng Lúc này, tranh chấp sẽ phát sinh giữa NHđCĐ và NHPH do NHđCĐ không thực hiện hết trách nhiệm của mình Hoặc NHđCĐ đã chiết khấu bộ chứng từ, tuy nhiên, NHPH bị phá sản
do đó NHđCĐ sẽ không thu lại được khoản tiền đã chiết khấu
1.3.4 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong thanh toán L/C
a/ Nguyên tắc và bản chất thanh toán bằng L/C
So với các phương thức thanh toán chủ yếu được áp dụng trong ngoại thương như chuyển tiền, nhờ thu thì phương thức thanh toán bằng L/C là phương thức được sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên phương thức thanh toán bằng L/C cũng
Trang 33là phương thức có nhiều rủi ro do L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không đúng như ghi trên chứng từ Việc thanh toán bằng L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa; nếu hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH Như vậy, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro giữa các bên tham gia trong thanh toán bằng L/C
b/ Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng L/C
Hiện nay, Việt Nam cũng như nhiều nước khác chưa có luật riêng trực tiếp điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT Một trong những văn bản pháp lý hiện đang thông dụng nhất, được áp dụng trong thanh toán bằng L/C là UCP600 của Phòng Thương mại quốc tế Paris Tuy nhiên, UCP là văn bản pháp
lý mang tính chất không bắt buộc, nghĩa là UCP600 không được tự động áp dụng
để điều chỉnh L/C trừ khi các bên tham gia thỏa thuận áp dụng bằng cách dẫn chiếu UCP600 vào trong L/C (riêng đối với phát hành L/C bằng hệ thống điện Swift thì UCP600 đương nhiên được các bên áp dụng) Bên cạnh đó cũng phải
kể đến những bất cập do chính các điều khoản của UCP600 chưa theo kịp với những phát sinh trong sử dụng tín dụng chứng từ gắn với hoạt động kinh doanh
vô cùng phong phú Do bản quy tắc này chỉ có giá trị pháp lý tùy ý nên trong thực tiễn đã từng có nhiều tranh chấp do việc không dẫn chiếu UCP trong hợp đồng mua bán hoặc trong L/C
c/ Cơ chế giải quyết tranh chấp trong thanh toán bằng L/C
Trang 34Khi có tranh chấp phát sinh, các bên thường chọn giải pháp thương lượng
để tránh gây ảnh hưởng đến uy tín, chỉ khi không thể thương lượng được thì mới giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc tòa án Việc chưa có nguồn luật điều chỉnh hướng dẫn cụ thể cũng gây khó khăn cho người xét xử khi viện dẫn các
điều luật, quy định vào các tình huống tranh chấp
d/ Trình độ nghiệp vụ của các bên tham gia
Thực tiễn cho thấy việc vận dụng UCP600 trong nghiệp vụ tín dụng chứng
từ cũng phát sinh nhiều tranh chấp Nguyên nhân của tình trạng này phần nhiều
là do trình độ vận dụng UCP600 của các bên tham gia còn nhiều hạn chế Đối với các ngân hàng khi tham gia phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ
đa số đều sử dụng UCP600 làm nguồn luật điều chỉnh Đối với các doanh nghiệp XNK, nhận thức về UCP600 cũng như trình độ vận dụng tỏ ra chưa tương xứng với mức độ phổ biến của việc sử dụng văn bản này Nhiều doanh nghiệp cho rằng UCP là văn bản nghiệp vụ dành riêng cho các NH, còn doanh nghiệp XNK chỉ cần tuân thủ nội dung yêu cầu của L/C là đủ Sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, thiếu kỹ năng kiểm tra chứng từ và nguồn nhân sự xử lý giao dịch L/C cũng là nguyên nhân gây nên những tranh chấp
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong ngoại thương, việc thanh toán giữa các người xuất khẩu và nhập khẩu thuộc hai quốc gia khác nhau thường được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và buôn bán quốc tế Nhìn chung, trong ngoại thương hiện nay người ta sử dụng các phương thức thanh toán như phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức ghi sổ và phương thức tín dụng chứng từ, trong đó phương thức TDCT được sử dụng phổ biến nhất
Chương I của khóa luận trình bày khái quát về phương thức TDCT và các tranh chấp về bộ chứng từ trong phương thức thanh toán bằng L/C trong nền kinh tế nói chung và các ngân hàng nói riêng Cũng trên cơ sở hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C, chương này giới thiệu những kiến thức cơ bản về phương thức thanh toán TDCT như khái niệm, quy trình thanh toán, phân loại, văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng L/C Bên cạnh đó, cũng đề cập đến
bộ chứng từ và các tranh chấp về bộ chứng từ trong PTTT bằng L/C, nguyên nhân phát sinh tranh chấp
Với việc trình bày những cơ sở lý luận chung nhất về phương thức tín dụng chứng từ và những tranh chấp về bộ chứng từ trong phương thức TDCT, thực tiễn tranh chấp về bộ chứng từ trong PTTT này tại các NH Việt Nam sẽ như thế nào? Đánh giá về tình hình giải quyết tranh chấp ra sao? Những câu hỏi đó sẽ được giải đáp ở chương tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC TIỄN TRANH CHẤP VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN
Bảng 2.1: Doanh số L/C xuất (đơn vị: triệu USD)
Trang 37(Nguồn: Báo cáo thường niên của một số NHTM năm 2007-2008)
0 100
NH Ngoại thương, năm 2007, đạt 293 triệu USD, chiếm 32,2%; năm 2008 đạt
359 triệu USD, chiếm 33% Về phía khách hàng, đối với L/C có xác nhận, NHTB sẽ thực hiện trả tiền ngay hoặc trả tiền vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm) cho người hưởng lợi ngay khi bộ chứng từ được NHPH chấp nhận thanh toán Khách hàng có thể đề nghị NH chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng Mức chiết khấu có lên đến 98% giá trị hợp đồng, tùy theo mức độ quan hệ và uy tín của khách hàng với
Qua bảng và biểu đồ dưới đây (bảng 2.2 và biểu đồ 2), ta thấy NH Ngoại thương lại chiếm ưu thế hơn: năm 2007 đạt 234 triệu USD, chiếm 44,7%; đến năm 2008 đạt 372 triệu USD, chiếm 48,7% Đối với L/C nhập, các NHPH cam kết với người NK là người hưởng lợi sẽ phải làm tất cả những gì theo quy định trong L/C để đảm bảo việc họ được thanh toán tiền Người NK chỉ thực hiện thanh toán khi chứng từ đã được chuyển đến NHPH và được NHPH chấp nhận
Trang 38Bảng 2.2: Doanh số L/C nhập (đơn vị: triệu USD)
Trang 39Bảng 2.3: Thu nhập từ hoạt động thanh toán L/C (đơn vị: triệu đồng)
NH Á Châu