Tuy nhiên, liệu ngành Dệt may nước ta trong thời gian tới có tiếp tục phát triển, giữ vững được vị trí là một trong những ngành công nghiệp xuất khữu mũi nhọn của nền kinh tế hay không -
Trang 1KHOA «,;,(:'.' ; íKỊRi ÁY. i OA?- H
CHI ' t Ì Mi V li KI ,iỉ M ì ỉỉ mằÈÈ
Tí-LUẬN TÓT H I tễ ĩ ỉ
p NÂNG m li m Lực CẠNH TRANH Mầáềiáiấ au mễ VÍÊI NArýi
ệ ú yiiụvhien ỉ !'!IẠM L Ê HOA
KÍKrt : K41
1 ] Lí fiífl hừ^Rg dần:ThS NGUYỄN LỆ HẰNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TÊ
ca EO BO
POREIGN TRADE ÍINIVERÍI1Y
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP
ThS NGUYỄN LÊ HẰNG
HÀ NỘI, THÁNG 11/2006
Trang 3MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẨU Ì
C H Ư Ơ N G 1: C ơ SỞ L Ý L U Ậ N V E C Ạ N H T R A N H V À N Ă N G Lực
CẠNH TRANH 3
ì KHÁI NIỆM CẠNH TRANH 3
1 Khái niệm 3
2 Phân loại cạnh tranh 6
li KHÁI NIỆM N Ă N G Lực CẠNH TRANH 8
1 Khái niệm 8
2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh 9
3 Các yếu tôi ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh l i
3.1 Các yêu tố bên trong tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp li
IU s ự CẦN THIẾT PHẢI N Â N G CAO N Ă N G Lực CẠNH TRANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI Đ O Ạ N HIỆN NAY 19
C H Ư Ơ N G 2: Đ Á N H GIÁ N Ă N G L ự c CẠNH TRANH CỦA C Á C DOANH
NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 21
ì KHÁI QUÁT V ẻ N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM 21
1 Lịch số hình thành và phát triển của ngành Dệt may Việt Nam 21
/./ Những năm trước thời kỳ đổi mới 21
2. Vai trò của ngành Dệt may trong nền kinh tế quốc dân 25
Trang 4li ĐÁNH GIÁ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
DỆT MAY VIỆT NAM TRONG NHŨNG NĂM GAN ĐÂY 29
1 Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 29
2 Nâng lực công nghệ 30
3 Các nguyên liệu, phụ liệu cung cấp cho các doanh nghiệp dệt may 31
4 Tình hình mẫu mốt thời trang ở Việt Nam 33
5 Nhãn mác của các sản phẩm dệt may 34
6 Lao động và đào tạo 35
7 Tình hình phát triển thị trường của các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam trong những năm gỞn đây 36
7.1 Thị trường Mỹ 36 7.2 Thị trường EU 39 7.3 Thị trường Nhật Bản 44 7.4 Thị trường Canada 46 7.5 Thị trường Đông Âu 46 7.6 Thị trường Trung Đông 48 7.7 Thị trường các nước khác trong khu vực châu Á 57
HI CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 53
1 Những điểm mạnh và điểm yếu của các doanh nghiệp dệt may 53
2 Các cơ hội và thách thức đối vói các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
khi gia nhập W T O 56
3 Á p lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu hàng dệt may khác 59
3.1 Các quốc gia châu Á 59 3.2 Các nước Trung và Đòng Âu 60
3.3 Các nước cháu Mỹ 61
C H Ư Ơ N G 3: C Á C G I Ả I PHÁP N Â N G CAO N Ă N G Lực CẠNH TRANH
CỦA C Á C DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 63
ì CHƯƠNG TRÌNH TĂNG Tốc PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY 63
1 Quan điểm tăng tốc phát triển ngành Dệt may 63
Trang 52 M ụ c tiêu tăng tốc phát triển ngành Dệt may đến n ă m 2010 65
3 Chuông trình tăng tốc đầu tư của ngành Dệt may 66
li HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP vĩ M Ô 67
1.1 Chính sách thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả 67
1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 69
4.4 Thị trường Đông Ầu 75
4.5 Thị trường Trung Đông 76
4.6 Các thị trường khác 76
5 Các giải pháp về quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực 77
ni HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP VI M Ô 78
1 Đ ầ u tư đổi mói công nghệ 78
2 Quy hoạch và sứp xếp lại sản xuất 80
3 Nâng cao năng lục quản lý chất lượng sản phẩm 80
4 Các chiên lược đào tạo nguồn nhản lực 81
5 T ổ chức sản xuất kinh doanh 82
IV CÁC KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 83
K Ế T L U Ậ N 86
T À I L I Ệ U T H A M K H Ả O 87
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình Công nghiệp hoa - Hiện đại hoa và phát triển kinh tế của nước ta, ngành Dệt may đóng một vai trò rất quan trọng Bên cạnh nhiệm
vụ cung cấp hàng hoa cho thị trường trong nước, đáp ứng nhu cầu của nhân dãn thì ngành Dệt may còn tạo điều kiện mở rộng thương mại quốc tế, thu hút nhiều lao động, tạo ra ưu thế cạnh tranh cho các sản phữm xuất khữu và mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước
Nhận thức được "xuất khữu là nhịp cầu nối giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới", Nhà nước ta đã ngày càng có nhiều ưu tiên và quan tâm chú trọng đến sự phát triển của ngành Dệt may Do vậy mà những năm qua, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển về nhiều mặt từ đổi mới trang thiết bị hiện dại, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý thích ứng với cơ chế thị trường, nâng cao năng suất, chất lượng, cải tiến mẫu mã Tuy nhiên, liệu ngành Dệt may nước ta trong thời gian tới có tiếp tục phát triển, giữ vững được vị trí là một trong những ngành công nghiệp xuất khữu mũi nhọn của nền kinh tế hay không - vấn đề này chỉ có thể giải đáp dựa trên những kết quả nghiên cứu dự báo về triển vọng thị trường thế giới của mặt hàng này cũng như những lợi thế
và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên, em đã lựa chọn đề tài khoa Khoa luận tốt nghiệp là:
"Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam"
Nội dung của Khoa luận tốt nghiệp gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam
Trang 7Khoa luận tốt nghiệp sử dụng một số phương pháp chủ yếu như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tổng hợp, thống kê các số liệu, rồi đi sâu vào phân tích và so sánh dể giải quyết các yêu cầu mà để tài đặt ra
Em rạt mong nhận được sự đóng góp và ý kiến quý báu của các thầy cô giáo Đổng thời, em xin chân thành cảm ơn công lao dạy dỗ của các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại thương trong hơn 4 năm em học tập tại trường và đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo, Ths.Nguyễn Lệ Hằng cũng như sự hỗ trợ của các cán bộ nhân viên Vụ Xuạt nhập khẩu, Vụ Âu Mỹ -
Bộ Thương mại, Tập đoàn Dệt may Việt Nam VINATEX đã giúp em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Trang 8do quyết định cái gì sẽ được sản xuất, cái gì sẽ được tiêu dùng N h à nước giải quyết ba vấn dề trung tâm: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và phân phối cho ai? và các cơ sỏ k i n h tế chỉ còn làm cái việc t h i đua với nhau để hoàn thành k ế hoạch N h à nước giao
Sau Đ ạ i h ộ i Đ ả n g V I , nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế k ế hoạch hoa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý cỏa N h à nước Theo cơ chế này, cấc doanh nghiệp phải tự quyết định ba vấn đề trọng tâm trong kinh doanh với mục đích sinh lời Vì vậy, sau Đ ạ i hội Đảng V I , chúng ta thay thuật n g ữ t h i đua bằng thuật n g ữ thi đua mang tính chất kinh doanh, đó là cạnh tranh theo pháp luật hay cạnh tranh lành mạnh Các học thuyết k i n h tế thị trường, dù là trường phái nào đều thừa nhận, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền
k i n h t ế thị trường, nơi m à cung- cẩu và giá cả hàng hoa là những nhân tố cơ bản cỏa thị trường, là đặc trưng cơ bản cỏa cơ c h ế thị trường, cạnh tranh là linh hổn sống cỏa thị trường
Cạnh tranh là m ộ t hiện tượng kinh tế - xã h ộ i phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan n i ệ m khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm v i cỏa thuật n g ữ này C ó thể dẫn ra như sau:
Trang 9Theo Cấc M á c : "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các nhà
tư bản để giành giật những điều kiện thuận l ợ i trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoa để thu được l ợ i nhuận siêu ngạch".[12-13-]
Cuốn T ừ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng mầt loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng m ầ t loại khách hàng về phía mình" [Ì 2-14]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: "Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt đầng ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoa, giữa các thương nhãn, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất" [6-27-] Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh t ế ( O E C D ) cho rằng: "Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" [2]
Qua các định nghĩa trên, có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
- T h ứ nhất, k h i nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự
- T h ứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là m ầ t đối tượng cụ thể nào
đổ m à các bên đều m u ố n giành giật (mầt cơ hầi, mầt sản phẩm, mầt d ự án )•
M ụ c đích cuối cùng là k i ế m được lợi nhuận cao
- T h ứ ba, cạnh tranh diễn ra trong mầt môi trường cụ thể, có các ràng buầc chung m à các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh
- T h ứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, canh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh n h ờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán
Trang 10V ớ i cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ k i n h tế m à ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm m ọ i biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất và thị trường có l ợ i nhất M ụ c đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong cạnh tranh là t ố i đa hoa lợi ích Đ ố i với người sản xuất kinh doanh là l ợ i nhuận, đối với người tiêu dùng là l ợ i ích tiêu dùng và sầ tiện l ợ i
M ụ c đích trầc tiếp của các hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những l ợ i thế để hạ thấp giá cả các yếu tố đầu vào của các chu trình sản xuất kinh doanh và nâng cao giá cả đầu ra sao cho mức chi phí thấp nhất nhưng có thể giành được mức l ợ i nhuận cao nhất Bởi vậy, thầc chất của vấn đề cạnh tranh là vấn đề giành l ợ i thế về giá cả hàng hoa dịch vụ (mua- bán), đó cũng chính là con đường, phương thức để giành lấy l ợ i nhuận cao cho các chủ thể k i n h tế k h i tham gia thị trường
Cạnh tranh tất yếu dẫn đến hình thành "giá cả trung bình" và " l ợ i nhuận bình quân" về từng loại sản phẩm hàng hoa, dịch vụ trên thị trường Vì thế, các chủ thể k i n h tế là những người sản xuất, k i n h doanh k h i tham gia thị trường với tư cách là người mua thì phải tìm đủ m ọ i thủ pháp để có thể mua được hàng hoa, dịch vụ (cần mua) với giá thấp hơn mặt bằng giá trị nói chung trên thị trường về cùng chủng loại, chất lượng hàng hoa để có thể hạ tới mức thấp nhất giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoa dịch vụ của mình Ngược lại khi họ xuất hiện với tư cách là người bán hàng hoa dịch vụ thì họ phải tìm đủ mọi cách để bán với giá cao hơn giá chung trên thị trường hoặc chí ít giá bán
đó cũng phải bù đắp chi phí sản xuất, lưu thông của họ N ế u những yêu cầu đó không thành hiện thầc thì h ọ sẽ bị loại ra k h ỏ i thị trường, bị loại ra khỏi cạnh tranh và nguy cơ dẫn đến phá sản doanh nghiệp là khó tránh khỏi Đ ố i v ớ i người tiêu dùng cũng vậy, nếu h ọ không có đủ sức mua và quỹ mua để trả "giá cân bằng" trên thị trường thì họ cũng bị loại ra k h ỏ i thị trường
Trang 112 Phân loại cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành nhiều loại v ớ i các tiêu thức khác nhau:
- D ư ớ i góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa những nhà sản xuất (người bán) v ớ i nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng, và giữa những người mua v ớ i nhau Ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề: chất lượng hàng hoa, giá cả và các điều kiện dịch vụ
- Xét theo quy m ô của cạnh tranh có: cạnh tranh của sản phẩm, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của quực gia
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh có: cạnh tranh hợp pháp hay cạnh tranh lành mạnh (biện pháp cạnh tranh phù hợp v ớ i pháp luật, tập quán, đạo đức k i n h doanh) và cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh (biện pháp cạnh tranh bằng những thủ đoạn, không hợp pháp và trái v ớ i chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh)
- Xét theo hình thái của cạnh tranh có: cạnh tranh hoàn hảo, hay thuần tuy- đây là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoa là không thay đổi trong toàn bộ thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường; và cạnh tranh không hoàn hảo- đây
là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất m à ở đó người bán hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phựi được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường Trong cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền
- D ư ớ i góc độ các công đoạn của sản xuất - k i n h doanh, người ta cho rằng có ba loại cạnh tranh: cạnh tranh trước k h i bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh tranh sau k h i bán hàng Cạnh tranh này thể hiện qua phương thức thanh toán và dịch vụ
- Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong n ộ i bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Đây là cách phân loại cạnh tranh của Các M á c dựa trên cơ sở khoa học của các phạm trù giá trị thị
Trang 12trường, giá cả sản xuất và l ợ i nhuận bình quân Cạnh tranh trong nội bộ ngành
là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoa hoặc dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả đồng nhất đối vắi hàng hoa dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hóa dịch vụ dó Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau Doanh nghiệp chiến thắng sẽ m ở rộng phạm v i hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản; Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là cuộc dấu tranh giữa cấc nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu l ợ i nhuận và có tỷ suất l ợ i nhuận cao hơn so vắi vốn
đã bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có l ợ i nhất cho sự phát triển Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm k i ế m những ngành đầu tư có l ợ i nhất nên đã chuyển vốn t ừ ngành ít l ợ i nhuận sang ngành có
n h i ề u l ợ i nhuận Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyển t ự nhiên theo tiếng gọi của l ợ i nhuận này vô hình chung hình thành nên sự phân phối v ố n hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau vắi số vốn bằng nhau chỉ thu được l ợ i nhuận như nhau
- Xét theo phạm v i lãnh thổ, có cạnh tranh trong nưắc và cạnh tranh quốc tế Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay ở thị trường n ộ i địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoa trong nưắc sản xuất vắi hàng hoa ngoại nhập Cạnh tranh kinh tế quốc tế là cạnh tranh k i n h tế đã vượt ra k h ỏ i phạm v i quốc gia, tức là cạnh tranh giữa các chủ thể k i n h tế trên thị trường t h ế giắi Sở dĩ như vậy là do tác động của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, phân công lao động quốc tế đã phát triển sâu, rộng, sự phát triển lực lượng sản xuất xã h ộ i
có tính chất quốc tế và do quá trình m ở rộng thị trường trên quy m ô toàn t h ế giắi Chủ thể trực tiếp tham gia vào cạnh tranh quốc tế, trưắc hết, là các doanh nghiệp, b ở i l ẽ , doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện việc sản xuất k i n h doanh hàng hoa và dịch vụ
Trang 13li KHÁI NIỆM NÂNG Lực CẠNH TRANH
1 Khái niệm
Trên thực tế đang t ổ n tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Song tựu chung lại, k h i tiếp cận năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần chú ý tới bốn vấn đề cơ bản sau:
- M ộ t là, trong điều kiện k i n h tế thị trường, phải lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi l ẽ , yêu cầu của khách hàng vợa là mục tiêu, vợa là động lực của sản xuất, kinh doanh Cùng một loại sản phàm, các nhóm khách hàng khác nhau có yêu cầu rất khác nhau
- H a i là, yếu t ố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là thực lực của doanh nghiệp Thực lực này chủ yếu được tạo thành t ợ những y ế u t ố n ộ i t ạ i của doanh nghiệp và được thể hiện ở u y tín của doanh nghiệp
- Ba là, k h i nói tới nâng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn h à m ý so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường M u ố n tạo nên năng lực cạnh tranh thực thụ, doanh nghiệp phải tạo nên lợi thế so sánh so với các đối thủ cạnh tranh Chính nhờ l ợ i t h ế này, doanh nghiệp có thể g i ữ được khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của cấc đối thủ cạnh tranh
- Bốn là, các biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan
hệ ràng buộc nhau M ộ t doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh k h i nó có khả năng thoa m ã n đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng Song khó có doanh nghiệp nào có thể dạt được yêu cầu này, thường thì có l ợ i t h ế về mặt này, lại có t h ế yếu về mặt khấc Bởi vậy, việc đánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt y ế u của tợng doanh nghiệp có ý nghĩa trọng yếu với việc tìm các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh
- Do dó, có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và l ợ i t h ế của doanh nghiệp so v ớ i các đ ố i thủ cạnh tranh khấc trong
Trang 14việc thoa m ã n tốt nhất các đòi h ỏ i của khách hàng để thu l ợ i ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế
2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các hệ thống chỉ tiêu khác nhau phản ánh năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Theo quan điểm của M Porter, năng lực cạnh tranh dựa vào các chỉ tiêu phản ánh sức mạnh nguồn lực
Theo quan điểm tân cẩ điển, năng lực cạnh tranh dựa vào các chỉ tiêu phản ánh chi phí và năng suất lao động
Theo quan điểm tẩng hợp, năng lực cạnh tranh dựa vào các chỉ tiêu phản ánh về lợi nhuận và thị phẩn
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là chỉ tiêu tẩng hợp từ nhiều chỉ tiêu khác nhau, vì vậy, việc đưa ra một hệ thống chỉ tiêu nhất định làm cơ sở so sánh năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau
là rất khó
Hệ thống chỉ tiêu mang tính tẩng hợp toàn diện bao g ồ m bốn n h ó m chỉ tiêu sau:
* N h ó m chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
V ớ i nghĩa thông thường, hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp được hiểu là mức chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào Giá trị đầu vào được xác định bởi các nhân t ố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, đất đai, quản lý, công nghệ Giá trị đầu ra được xác định b ở i giá bán các sản phẩm
và dịch vụ m à doanh nghiệp đó cung ứng ra thị trường M ộ t doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp có khả năng tăng mức chênh lệch giá trị đầu ra so với giá trị đầu vào càng lớn
- Chỉ số R O A
R O A = L ợ i nhuận sau thuế/ Tẩng tài sản có
Chỉ số R Ũ A (return ôn asset) cho nhà phân tích thấy được khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập t ừ tài sản có Nói cách khác, R O A
Trang 15giúp nhà phân tích xác định hiệu quả k i n h doanh tính trên Ì đồng tài sản có
R Ũ A l ớ n chứng tỏ hiệu quả k i n h doanh của doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp
có cơ cấu tài sản hợp lý T u y nhiên, nếu R Ũ A quá lớn, nhà phân tích sẽ l o lắng vì r ủ i ro luôn song hành cùng với l ợ i nhuận Vì vậy, việc so sánh R O A giữa các kỳ hạch toán là rất cựn thiết, nó giúp cho nhà phân tích có thể rút ra nguyên nhân thành công hay thất bại của doanh nghiệp
- Chỉ số ROE
ROE = L ợ i nhuận sau thuế/ V ố n tự có
ROE (retum ôn equity) là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của Ì đồng vốn tự có N ó cho biết l ợ i nhuận sau thuế m à các cổ đông có thể nhận được từ việc đựu tư v ố n của mình Nếu ROE quá l ớ n so với R O A chứng tỏ vốn của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ so với v ố n huy động và vốn đi vay
- Chỉ số C O I
C O I = Tổng chi phí/ Tổng thu nhập
Chỉ số C O I (cost ôn income) tính toán khả năng bù đắp chi phí từ các nguồn thu nhập của doanh nghiệp Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả k i n h doanh của doanh nghiệp Thông thuồng, chỉ số này phải nhỏ hơn 1 Nếu C O I lớn hơn Ì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động k é m hiệu quả và đang có nguy cơ phá sản trong tương lai
* N h ó m chỉ tiêu phản ánh mức độ thoa m ã n của khách hàng
Đây là n h ó m chỉ tiêu mang tính tổng hợp nhất và có thể nói là quan trọng nhất theo quan điểm Marketing, vì suy cho cùng, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau là để thu hút được nhiều khách hàng thông qua việc thoa m ã n tốt nhất nhu cẩu của họ Nhìn chung, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng k h i họ nhận được sản phẩm, dịch vụ đúng (đáp ứng đúng mục đích giao dịch), chất lượng đúng (như họ mong đợi), giá cả đúng (họ cho rằng hợp lý) và thời gian đúng (không quá lâu) N h ó m chỉ tiêu này chủ y ế u được đánh giá theo khía cạnh kết quả của vấn đề, cụ thể là:
- Tốc độ tăng trưởng/ suy giảm số lượng khách hàng, và
Trang 16- Tốc độ tăng trưởng/ suy giảm thị phẩn
* N h ó m chỉ tiêu phản ánh chất lượng hàng hoa, dịch vụ
Chất lượng hàng hoa, dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của m ọ i doanh nghiệp Vì vậy, chất lượng hàng hoa, dịch vụ ngày nay không đơn giản là một lợi thế cạnh tranh m à nó mang ý nghĩa sống còn đối với m ổ i doanh nghiệp Các công trình trước đây về chất lượng hàng hoa, dịch vụ đều đi đến hai kết luận cơ bản, đó là chất lượng hàng hoa, dịch vụ của doanh nghiệp được đánh giá theo quan điểm chủ quan của khách hàng; và chất lượng hàng hoa, dịch vụ của doanh nghiệp được khách hàng đánh giá chủ yếu dựa trên các tín hiệu vô hình trong quá trình giao dịch như sự tin cậy, sự cảm tình, sự thuận tiện và sự thông cảm
* N h ó m chỉ tiêu phản ánh tính đổi m ớ i trong hoạt động kinh doanh Quá trình cạnh tranh thực chất là quá trình đổi m ớ i hoạt động của doanh nghiệp sao cho phù hợp nhất với thị trường Do thị trường luôn thay đổi, vì vậy khả năng đổi m ớ i linh hoạt trở thành chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Thực tế cho thấy, các đổi m ớ i tuy không phải lúc nào cũng gặt hái được thành công, song một doanh nghiệp không thể được coi là có khả năng cạnh tranh nếu luôn giữ nguyên tình trạng kinh doanh của mình trong khi các lực lượng cạnh tranh luôn phát triển sôi động không ngừng Nói cách khác, chỉ tiêu đổi m ớ i là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả nàng cạnh tranh của các doanh nghiệp, bao g ồ m số lượng hàng hoa, dịch vụ mới, số lượng địa điểm phân phối mới và những thay đổi khác trong quá trình cung ứng sản phẩm, cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, hệ thống quản lý
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
3.1 Các yếu tố bên trong tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh thể hiện thực lực và l ợ i t h ế riêng của m ổ i doanh nghiệp, vì vậy, cấc yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải
là các yếu tố thuộc môi trường bên trong, là các nguồn lực khác nhau m à bản thân m ổ i doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao các y ế u tố đó để tạo nên năng lực cạnh tranh
Trang 17C ó n h i ề u cách phân loại các yếu tố nguồn lực khác nhau trong bản thân mỗi doanh nghiệp, song nhìn chung đều quy về hai loại: nguồn lực hữu hình
và nguồn lực vô hình
- N g u ồ n lực hữu hình được hiểu là các nguồn lực có thể nhìn thấy được
và lượng hoa được như các tài sản đất đai, vốn, m á y móc, thiết bị
- Nguồn lực vô hình được hiểu là các nguồn lực không thể nhìn thấy được
và việc đánh giá chủ yếu bằng phương pháp định tính, khó định lượng như các ưu
t h ế về sự khác biệt của các sản phẩm, trình độ công nghệ, chất lượng công nhân,
uy tín đối vọi công chúng, năng lực quản trị của ban lãnh đạo
3.1.1 Các nguồn lực hữu hình
- Quy mô của doanh nghiệp Trong nền kinh tế h ộ i nhập, yếu tố vốn đối
vọi doanh nghiệp trở nên rất quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiến hành thực hiện tốt các nội dung hoạt động của mình, là cơ sở để doanh nghiệp phát triển và mở rộng quy m ô sản xuất kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh so vọi các doanh nghiệp khác trong khu vực và thế giọi Đặc biệt đối vọi doanh nghiệp thương mại, quy m ô về vốn lọn sẽ là cơ sở, nền tảng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm huống tọi lợi nhuận cao nhất có thể Còn nếu doanh nghiệp tham gia vọi quy m ô nhỏ thì phải chấp nhận bất l ợ i về chi phí,
do đó rất khó có thể cạnh tranh vọi các doanh nghiệp khác trên thị trường
- Trình độ công nghệ Tình trạng m á y m ó c thiết bị và công nghệ có
ảnh hưởng một cách sâu sắc tọi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp N ó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tọi chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, m á y m ó c thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm
M ộ t doanh nghiệp có trang thiết bị m á y m ó c hiện đại thì sản phẩm của h ọ nhất định có chất lượng cao Ngược lại, không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có năng lực cạnh tranh cao k h i m à trong tay họ là cả hệ thống m á y
m ó c cũ kỹ lạc hậu
3.1.2 Các nguồn lực vô hình
Trang 18- Năng lực quản lý và điều hành kinh doanh Do môi trường kinh
doanh luôn ớ trạng thái không ổn định, thay đổi một cách chóng mặt, đòi hòi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được phải linh động thích úng với các biến động đó, nếu không doanh nghiệp sẽ trở thành lạc hậu và bị loại khỏi cuộc N h u cụu luôn thay đổi, vòng đời sản phẩm bị rút ngắn, các sản phẩm thay thế liên tục xuất hiện với chất lượng, mụu mã, công dụng cao hơn Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá bởi sự linh hoạt và biết thực hành của doanh nghiệp để luôn đáp úng được nhu cụu luôn thay đối của thị trường Sự linh hoạt và biết thực hành trong quản lý sẽ giảm được tỷ lệ chi phí quản lý trong giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp
- Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý Đây là yêu tô quyết
định hiệu quả sản xuất kinh doanh, qua đó ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực của các thành viên trong ban giám đốc ảnh hưởng rất l ớ n đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, có khả năng đánh giá, có m ố i quan hệ tốt với bên ngoài, giàu kinh nghiệm và năng động, thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không những lợi ích trước mắt, như tăng doanh thu, lợi nhuận m à còn đem lại cả uy tín và lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp Đây m ớ i là yếu tố quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, trình độ tay nghề, chuyên
m ô n nghiệp vụ của người lao động và lòng hăng say làm việc của họ cũng là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bới vì k h i tay nghề cao, chuyên m ô n cao cộng thêm lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thế tham g i a và đứng vững trong cạnh tranh
- Quản trị chất lượng và hệ thống kiểm soát
Quản trị chất lượng Ngày nay, trong mói trường cạnh tranh ngày càng
trở nên gay gắt do x u hướng toàn cụu hoa mang lại, các doanh nghiệp muốn gặt hái thành công không thể không đổi m ớ i cung cách sản xuất và quán trị doanh nghiệp, đặc biệt là cách thức quản trị chất lượng M ộ t hệ thống quán trị
Trang 19chất lượng tốt sẽ giúp cho ban lãnh đạo luôn ở t h ế chủ động, không bị rơi vào
t h ế lúng túng k h i môi trường kinh doanh thay đổi, đồng thời có khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất
Hệ thống kiểm soát H ệ thống k i ọ m soát doanh nghiệp là một bộ phận
không thọ thiếu được trong toàn bộ quá trình quản trị chất lượng vì nó sẽ giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp biết được những điọm mạnh và điọm yếu của loại chiến lược kinh doanh (bao g ồ m cả chiến lược cạnh tranh) đang lựa chọn, t ừ
đó tìm cách điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp một cách thành công hơn
- Khả năng nắm bắt thông tin Ngày nay, sự bùng n ổ của cuộc cách
mạng thông tin, tin học đã khẳng định vai trò to lớn của thông tin Thông t i n
về thị trường mua, bán, thông tin về tâm lý và thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Đ ủ thông tin và xử lý đúng thông tin, một mặt giúp cho doanh nghiệp hạn chế được r ủ i ro trong kinh doanh, mặt khác, thông qua thông tin có thọ tìm và tạo ra lợi thế so sánh của doanh nghiệp trên thương trường, chuẩn bị dưa ra đúng thời điọm những sản phẩm m ớ i thay thế đọ tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hoa Trong k h i thông tin đủ, đúng có thọ thúc đẩy thị trường một cách tích cực thì việc bưng bít thông t i n lại tạo ra những nhu cẩu giả tạo và những hành v i cạnh tranh sai trái làm biến dạng thị trường
- Khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan Tình
trạng cạnh tranh quá gay gắt trong thị trường nội địa cũng như trên thị trường
t h ế giới sẽ làm giảm đáng kọ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt
là doanh nghiệp của các nước k é m hoặc đang phát triọn Do đó, cẩn phát huy vai trò của các hiệp h ộ i ngành hàng, tạo thành sự đồng nhất chật chẽ k h i m ở rộng kinh doanh ra thị trường thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Danh tiêng và uy tín của doanh nghiệp Danh tiêng và uy tín của
doanh nghiệp t u y thuộc nguồn lực vô hình song có giá trị l ớ n lao trong việc tạo nên năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Danh tiếng và uy tín của
Trang 20doanh nghiệp được tạo nên từ chính mức độ thoa m ã n của khách hàng trong những lần giao dịch trước, t ừ những người quen biết truyền miệng, quảng cáo Đ ế tạo được uy tín và danh tiếng, các doanh nghiệp phải có một quá trình lâu dài xây dựng và bồi đắp công phu Trong k h i đó, uy tín và danh tiếng lại có thẩ bị mất đi trong một khoảng thời gian ngắn Kết quả nghiên cứu của
V i ệ n nghiên cứu Quản lý K i n h tế Trung ương và Chương trình phát triẩn liên Hợp Quốc công bố năm 2002 cho thấy, Ì khách hàng không hài lòng với sán phẩm dịch vụ m à mình đã tiêu dùng sẽ nói lại với 11 khách hàng khác trong khi Ì khách hàng thỏa m ã n chỉ nói lại với 5 khách hàng Điều đó nói lên vai trò quan trọng của danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng
- Môi trường văn hoa trong doanh nghiệp Không khí làm việc trong
doanh nghiệp, động cơ cá nhân của m ỗ i thành viên và chất lượng của con người là một nhân tố quan trọng trong cạnh tranh Sức mạnh của doanh nghiệp không phái chỉ t ổ n tại trong một số cá nhân hay một n h ó m m à trong sự đoàn kết, nhất trí hết mình vì sự sống còn của doanh nghiệp M ộ t m ồ i trường làm việc tốt, một tinh thẩn làm việc vì tập thế sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phái triến của doanh nghiệp
3.2 Các yêu tô bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.2.1 Các nhân tố quốc tế
* Các nhân tô chính trị:
- M ố i quan hệ giữa các Chính phủ: K h i các m ố i quan hệ trớ nén thù địch, thì sự m â u thuẫn giữa hai Chính phủ có thế hoàn toàn phá huy các m ố i quan hệ kinh doanh giữa hai nước Nếu m ố i quan hệ chính trị song phương được cải thiện sẽ thúc đẩy thương mại phát triẩn, tạo điẩu kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong kinh doanh
- Các tổ chức quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triẩn
và vận dụng các chính sách biẩu l ộ nguyện vọng chính trị của các quốc gia thành viên
Trang 21- H ệ thống luật pháp quốc tế, những hiệp định thỏa thuận được một loạt các quốc gia tuân thủ có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động kinh doanh quốc
tế Mặc dù có thể chúng không ảnh hưởng trực tiếp tới tổng doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng chúng tạo ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc tạo ra môi trường kinh doanh quốc tế ổn định và thuận lợi
* X u hướng phất triển và hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hóa:
X u hướng h ộ i nhập kinh tế vùng, k h u vực có ảnh hưởng quan trọng đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong các thị trường k h u vực H ộ i nhập kinh tế diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đặc biệt tập trung vào vấn để hợp tác k i n h tế, được thiết lập để mang lại sự phụ thuộc kinh tế lẳn nhau nhiều hơn giữa các quốc gia H ộ i nhập giúp quá trình lưu thông hàng hoa giữa các nước ngày càng phất triển, vì những trở ngại như thuế quan, thủ tục xuất nhập khẩu, các hạn chế mậu dịch được cố gắng giảm thiểu, thành tựu khoa học kỹ thuật được sử dụng t ố i ưu và có hiệu quả hơn
3.2.2 Các nhân tố trong nước
* Các nhân tố k i n h tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm cho thu nhập của người dân tăng, khả năng thanh toán của h ọ tăng dẫn tới sức mua các loại hàng hoa và dịch vụ cũng tăng lên, đây là cơ h ộ i tốt cho các doanh nghiệp Trái lại, nền k i n h tế suy thoái, các khoản chi tiêu của đại bộ phận dân chúng bị giảm sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh và tạo ra nhiều nguy cơ đối với doanh nghiệp
Trang 22- Lãi suất: Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn
đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp
thiếu vốn phải vay ngân hàng K h i lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của
doanh nghiệp tăng lên do phải trả tiền lãi lớn, năng lực cạnh t a n h của doanh
nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn
- Tỷ giá h ố i đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh
chóng và sâu sắc đ ố i với từng quốc gia nói chung và đ ố i với từng doanh
nghiệp nói riêng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đổng nội tệ lên
giá, các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm năng lực cạnh tranh ở thị trưậng
nước ngoài, vì k h i đó giá bán của hàng hoa tính bằng đổng ngoại tệ sẽ cao hơn
đối thủ cạnh tranh H ơ n nữa, k h i đổng n ộ i tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập
khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy nâng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trưậng n ộ i địa Ngược l ạ i ,
khi đổng n ộ i tệ giảm giá, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả
trên thị trưậng trong nước và thị trưậng nước ngoài, vì k h i đó giá bán của các
doanh nghiệp giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh k i n h doanh hàng hoa do
nước khấc sản xuất
- L ạ m phát: L ạ m phát làm giảm tỷ l ệ tăng trưởng k i n h tế, lãi suất tăng
và gây ra nhiều biến động về tỷ giá h ố i đoái Do l ạ m phát, doanh nghiệp
thưậng hạn chế đầu tư vào giai đoạn này bởi tỷ l ệ sinh l ậ i trong doanh nghiệp
không thể bù đắp sự sụt giảm giá trị của tiền tệ Đ ố i v ớ i doanh nghiệp có nợ
vay nhiều, h ọ thưậng lâm vào tình trạng phá sản do l ạ m phát cao
* Các nhân tố về chính trị, pháp luật:
M ộ t thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng m ở và ổ n định sẽ là cơ h ộ i
đảm bảo sự thuận lọi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và
cạnh tranh có hiệu quả Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều
kiện cạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần và m ọ i lĩnh vực Chính sách của Nhà nước về xuất nhập kbẩti^-vế—
T H ư v i Ẽ N
thuế quan cũng sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp. l i ó SE [Ị í hoe
«so»> IHIỈCNO
Trang 23* Trình độ khoa học và công nghệ:
N h ó m các nhân t ố này quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnh tranh và nâng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng và giá bán Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, qua đó tạo nén nâng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đ ố i v ớ i những nước chậm phát triỹn và đang phát triỹn, giá và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh Tuy nhiên trên thế giới hiện nay, đã chuyỹn t ừ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa cấc sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao Kỹ thuật và công nghệ m ớ i sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất kỹ thuật trong nước tạo ra dược những hệ thống kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ cơ sơ sản xuất kỹ thuật của nền
k i n h t ế quốc dân Đây là tiền đề đỹ các doanh nghiệp ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh
* Nhân khẩu:
Đây là nhân t ố tạo lập quy m ô thị trường, bao g ồ m các nhân tố như quy
m ô và tốc độ tăng trưởng dân số, những thay đổi trong gia đình và di chuyỹn nơi cư trú, những thay đ ổ i trong phân phối lại thu nhập, trình độ học vấn của các tầng lớp dàn cư
*Các nhân tố về văn hoa, tâm lý- xã hội:
Đây là nhóm yếu t ố quan trọng tạo lập nên nhân cách và l ố i sống của người tiêu dùng, đổng thời cũng là cơ sở đỹ cho các nhà quản lý lựa chọn và điều chỉnh các quyết định kinh doanh
*Các nhân t ố thuộc môi trường ngành:
Các nhân t ố này tác động đến môi trường hoạt động của đoàng nghiệp,
và vì vậy có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngành kinh doanh là ngành hoạt động trong đó bao g ồ m nhiều doanh nghiệp cùng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thỹ thay t h ế lẫn nhau nhằm đáp úng cùng
Trang 24một nhu cầu căn bản nào đó của người tiêu dùng Các nhân tố thuộc môi trường ngành có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, tính kinh tế n h ờ quy m ô , sự khác biệt hoa sản phẩm, nhu cầu v ố n dẫu tư t ố i thiểu, sức ép của các dối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành, số lượng và kết cữu của các d ố i thủ cạnh tranh, tốc độ tâng trưởng của ngành, chi phí cố định hoặc chi phí d ự trữ chiếm tỷ trọng lớn, sự đa dạng của các đối thủ cạnh tranh, hàng rào cản trở rút lui, sức ép của nhà cung ứng, sức ép của khách hàng, sự xuữt hiện các sản phẩm thay thế
III Sự CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuữt hàng hoa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuữt hàng hoa càng phát triển, hàng hoa bán ra càng nhiều, số lượng người cung cữp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt K ế t quả của cạnh tranh
là một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra k h ỏ i thị trường, trong k h i một
số doanh nghiệp khác vẫn t ổ n tại và phát triển hơn nữa Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng m à nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suữt lao động xã hội- yếu t ố đảm bảo cho sự thành công của m ỗ i quốc gia trên con dường phát triển Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra ở m ọ i lúc, m ọ i nơi không phụ thuộc vào ý muốn của riêng ai, nên cạnh tranh trở thành một quy luật kinh tế khách quan quan trọng thúc đẩy
sự phát triển M ọ i doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế đều phải
tự mình vận động đế đứng được trong cơ c h ế này Doanh nghiệp nào không thích nghi được với cơ chế m ớ i sẽ phải cẩm chắc sự phá sản và theo quy luật đào thải, sẽ bị gạt r a k h ỏ i thị trường Thay vào đó thị trường lại m ở đường cho doanh nghiệp nào biết nắm thời cơ, biết phát h u y t ố i đa những thế mạnh của mình và hạn c h ế được t ố i thiểu những bữt l ợ i để giành thắng l ợ i trong cạnh tranh
Trang 25Ngày nay, toàn cầu hóa m à trước hết và về thực chất là toàn cầu hoa kinh tế đang trở thành một x u thế khách quan của sự phát triển kinh tế t h ế giới H ộ i nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là m ở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoa thương mại, đưa các doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh quốc tế Vì thế, đòi hỏi đẩu tiên đối với doanh nghiệp là không ngừng lớn lên Cứ thế, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư và tăng vốn, công nghệ mới, chất lượng lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng năng lực cạnh tranh để có thể đứng vũng trong môi trường kinh doanh quốc tế
T ó m lại, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh trở thành quy luật kinh
tế khách quan c h i phối hoạt động của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng đến sự tổn tại và phát triển của từng doanh nghiệp Vì vậy, việc làm mang tính chiến lược nhằm nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế là phải đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
từ đó nhận biết những điểm mạnh, điểm yếu, cơ h ộ i cũng như thách thức đối với doanh nghiệp
Trang 26C H Ư Ơ N G 2
Đ Á N H GIÁ N Â N G Lực C Ạ N H T R A N H
C Ủ A C Á C DOANH NGHIỆP DỆT M A Y VIỆT N A M
ì KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Dệt may Việt Nam
1.1 Những năm trước thời kỳ đổi mới
Ngành Dệt may xuất khẩu của Việt N a m ra đời từ những n ă m 1958 ở
m i ề n Bắc và những n ă m 1970 ở miền Nam, song phải mãi t ớ i những n ă m
1975, sau k h i đất nước thống nhất, ngành m ớ i có sự phát triển đáng kể sản
lượng xuất khẩu tới n ă m 1980 dạt gộn 50 triệu sản phẩm các loại, trong đó hơn 8 0 % xuất khẩu sang Liên X ô cũ, số còn l ạ i sang các nước Đông Âu Hàng dệt may xuất khẩu sang các thị trường này chủ yếu là theo Nghị định thư được
ký kết hàng n ă m giữa các Chính phủ
Việc xuất khẩu hàng theo Nghị định thư hoàn toàn chịu sự quản lý của Nhà nước Chỉ tiêu hàng dệt may xuất khẩu được giao cho một số đơn vị làm đẩu m ố i xuất khẩu Sau đó, các tổ chức độu m ố i này m ớ i giao cho các đơn vị sản xuất chỉ tiêu thực hiện Các đơn vị sản xuất sau k h i làm ra sản phẩm sẽ giao lại cho các tổ chức đẩu m ố i để xuất khẩu đi các thị trường Việc mua bán được hiểu theo nghĩa "tương trợ" là chính Chất lượng sản phẩm dù chưa đạt yêu cộu thì vẫn được bạn hàng chấp nhận
Các thị trường xuất khẩu chính của ta trong thời kỳ này chủ yếu là các nước thuộc k h ố i X ã h ộ i chủ nghĩa như Liên X ô (cũ), Hungary, Tiệp Khắc theo Nghị định thư Chúng ta chưa đủ khả năng xuất khẩu hàng hoa sang thị trường khu vực l i v ớ i nhiều lý do, trong đó lý do chính là vấn đề chất lượng Những mặt hàng xuất khẩu sang thị trường khối X ã h ộ i chủ nghĩa thông thường bao g ồ m áo bông bảo hộ lao động cho Cộng hoa dân chủ Đức, áo sơmi nam, váy sang thị trường Liên X ô (cũ) Tuy k h ố i lượng hàng triệu sản phẩm một n ă m nhưng m ẫ u m ã thường rất đơn điệu, không thay đổi t ừ n ă m này sang
Trang 27n ă m khác N ư ớ c bạn cảm thấy rất hài lòng với chiếc áo sơmi Việt N a m không phải bởi vì chất lượng tốt, giá thành hạ m à bởi vì nước bạn cũng chẳng bán loại áo sơmi nào đẹp hơn để lựa chọn
Trong thời kỳ này, chỉ tiêu hàng dệt may xuất khồu được phân phối cho hai đồu m ố i là T E X H M E X (Liên hiệp các xí nghiệp dệt) và C O N P E C I T M E X (Liên hiệp các xí nghiệp sản xuất và xuất khồu hàng may) Các doanh nghiệp tiêu biểu cho sản xuất hàng dệt may lúc này là Xí nghiệp M a y 10, Xí nghiệp
M a y Thăng Long, Xí nghiệp M a y Đ á p Cầu H a i đầu m ố i trên thay mặt các xí nghiệp sản xuất đ à m phán ký kết hợp đồng với khách hàng
Các đơn vị sản xuất trong thời kỳ này hầu như không được ký hợp đổng trực tiếp với bạn hàng nước ngoài, m ọ i k ế hoạch sản xuất hàng xuất khồu đều
do cơ quan chủ quản giao xuống làm nảy sinh tư tưởng bao cấp, Ỷ lại, trông chờ vào sự phân phối của N h à nước về thị trường cũng như mặt hàng Ngay cả nguyên phụ liệu, chi tiết về số lượng, chất lượng, mẫu m ã cho đến thị trường
và khách hàng tiêu thụ đều được bao cấp nên các đơn vị hoàn toàn bị động trong việc tìm k i ế m thị trường, m à trong hoạt động k i n h doanh, nếu thụ động
sẽ bỏ l ỡ cơ h ộ i dể có được những thương vụ thành công Hoạt dộng sản xuất
có thể bị đình trệ chỉ vì sự quan liêu, cửa quyền của một số cán bộ C ơ chế này tạo ra một đội ngũ cán bộ thời bao cấp chỉ làm việc thụ động, sản phồm làm ra không được chú trọng đến chất lượng và hoàn toàn không có tính cạnh tranh trong nền k i n h tế
1.2 Từ năm 1986 cho đến nay
C h i ế n lược phát triển nền k i n h tế m ở cửa được bắt đầu từ Đ ạ i h ộ i V I của Đảng n ă m 1986 v ớ i việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyển đổi cơ cấu
k i n h tế và đồy mạnh công nghiệp hoa- hiện đại hoa đất nước, đã dưa lại cho ngành Dệt may những động lực và hướng phát triển mới: "Phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt, may, da giầy, giấy, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Đ ầ u tư dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phồm Chuyển dần việc gia công dệt may, đồ da sang mua nguyên
Trang 28liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; coi trọng nàng cao năng lực tiếp thị
để mở rộng thị trường Khắc phục sự lạc hậu của ngành sổi, dệt; phấn đấu đến năm 2000 sản xuất 800 triệu mét vải, lụa gắn v ớ i phát triển bông và tơ tằm " [3] Việc N h à nước đổi m ớ i cơ chế quản lý k i n h tế, m ở rộng quan hệ buôn bán với các nước trên t h ế giới và xóa bỏ chế độ độc quyền ngoại thương bước đầu
đã cho phép các doanh nghiệp sản xuất k i n h doanh đưổc trực tiếp tìm kiếm bạn hàng và ký kết hổp đồng xuất khẩu Tuy nhiên, do m ớ i chuyển sang nền
k i n h t ế thị trường, tư tưởng bao cấp vẫn còn tổn tại nên thời kỳ này ta vẫn thực hiện Hiệp định gia công hàng dệt may v ớ i Liên X ô (cũ) K h i thực hiện Hiệp định này, số lưổng hàng xuất khẩu tăng lên so với trước, thị trường cho hàng dệt may xuất khẩu tương đối ổn định nên việc tìm k i ế m thị trường ngoài khối
xã hội chủ nghĩa chưa trở nên bức thiết Việc đầu tư nâng cao chất lưổng sản phẩm và mẫu m ã của sản phẩm chưa đưổc chú trọng do cơ cấu đẩu tư của ngành thời kỳ này chủ yếu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu đi các nước
xã hội chủ nghĩa như Liên X ô (cũ) và Đông Âu Chủng loại và mẫu m ã chỉ tập trung chủ yếu vào một số loại như jacket, sơmi, quần áo bảo hộ lao động, hàng thêu chất lưổng không cao Vì vậy, trong thời điểm này, sản phẩm dệt may nói chung chưa đáp ứng đưổc nhu cầu của các nước phát triển cả về chất lưổng và chủng loại
Trong giai đoạn từ 1987 - 1989, việc quản lý trong nội bộ ngành còn có nhiều phân tán dẫn tới tình trạng chúng ta không đủ sức có đại diện ở một số nước cũng như các cuộc triển lãm ở nước ngoài Nếu có tham gia thì mặt hàng trùng nhau và giá cả không thống nhất Nhiều công ty nước ngoài đã lổi dụng sơ
hở về mặt tổ chức quản lý của ta để chèn ép và thực hiện những thủ đoạn dẫn đến thua thiệt cho đất nước nói chung và cho từng cơ sở dệt may mặc nói riêng
H ơ n nữa, do sự biến động lớn của thị trường Liên X ô (cũ) và Đông  u
n ă m 1990 và sự sụp đổ của hệ thống xã h ộ i chủ nghĩa ở Liên X ô (cũ) và Đông
Âu, kéo theo nó là sự tan rã của H ộ i đồng tương trổ k i n h tế (SEV), việc xuất khẩu hàng dệt may của các nước thành viên đã phải đương đầu v ớ i những khó
Trang 29khăn thử thách rất nặng nề Hàng loạt các xí nghiệp phải giảm sản xuất, một
bộ phận công nhân phải nghỉ việc, hàng hoa sản xuất ra không tiêu thụ được
do mất thị trường, cũng không thể đem ra tiêu thụ trên thị trường trong nước vì hàng hoa là hàng được đặt san theo kích cỡ và mủu m ã từ nước ngoài, không phù hợp với tẩm vóc người dân Việt Nam M ậ t khác, lệnh cấm vận của M ỹ vủn đeo đuổi làm hạn chế m ố i quan hệ k i n h tế của nước ta với bên ngoài làm cho ngành Dệt may vốn đã khó khăn lại càng gặp khó khăn hơn
Tuy vậy, ngành Dệt may vủn vững vàng vượt qua được thử thách này nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và N h à nước Cụ thế là ngày 29/4/1995, T h ủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Tổng Công ty Dệt
M a y V i ệ t Nam ( V I N A T E X ) trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng Công ty Dệt và Liên hiệp các Xí nghiệp M a y Việt Nam nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, tạo được thế và lực để thúc đẩy sản xuất k i n h doanh hàng dệt may Kể từ đây, ngành Dệt may nước ta đã có một bước chuyển biến lớn Các doanh nghiệp sản xuất và k i n h doanh các sản phẩm may mặc đã có thể tận dụng được sự hỗ trợ, phối hợp nhịp nhàng từ cấc doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu, phụ liệu trong ngành Dệt để từ đó phát huy được các thế mạnh của mình
Đ ể có thể hợp tác và cạnh tranh trên thương trường theo xu thế mở cửa, hoa nhập vào thị trường k h u vực và thế giới, Tổng Công ty đã đảm nhận nhiệm vụ quan trọng là đẩy mạnh công tác đầu tư và công tác thị trường, tập trung m ọ i cố gắng, m ọ i nguồn lực vào việc tổ chức l ạ i sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm, đào tạo và đào tạo m ớ i nhằm nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhãn có thể sử dụng những trang thiết bị hoạt động và tạo ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
V ề vốn, Tổng Công ty tìm cách tháo g ỡ những mất cân đối cho những đơn vị thành viên, đánh giá lại m ọ i nguồn lực toàn Tổng Công ty để có kế hoạch sử dụng hiệu quả hơn, hoàn tất thủ tục để đưa Cóng ty tài chính vào hoạt động V ề đầu tư, Tổng Công ty tiến hành đánh giá hiệu quả đầu tư giai đoạn 1991- 1995, rà soát lại các d ự án đầu tư chiều sâu, chiều rộng dầu tư
Trang 30mới để triển khai công tác này theo chiến lược của ngành, về thị trường, Tổng Công ty đã từng bước hình thành hệ thống văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại một số nước và k h u vực thị trường quan trọng, hình thành dần mạng lưới tiêu thỹ tại các thành p h ố lớn, k h u công nghiệp tập trung, các k h u dân cư trong nước H i ệ n nay, V I N A T E X đã có quan hệ buôn bán với nhiều nước và khu vực thị trường trên t h ế giới nhất là Mỹ, châu  u và châu Á Hàng xuất khẩu m ù a đông cũng như m ù a hè được người tiêu dùng ưa chuộng, hàng gia công được sự tín nhiệm của nhiều hãng nước ngoài Tổng Công ty cũng đã hoàn thiện tổ chức của V i ệ n mẫu thời trang, V i ệ n đã đi vào hoạt động với mỹc tiêu làm lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu sáng tác và hướng dẫn thời trang Việt Nam và hướng ra xuất khẩu
Chính nhờ sự chuyển hướng kịp thời này, ngành Dệt may đã có những bước đi ban đầu có tính cơ sở cho việc thực hiện các mỹc tiêu của ngành là lo cái mặc cho dân, phấn đấu trở thành lực lượng xuất khẩu chủ lực và giải quyết công ăn việc làm cho hàng chỹc vạn lao động, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước theo tinh thần nghị quyết Đ ạ i hội V U I của Đảng Cộng sản V i ệ t Nam
2 Vai trò của ngành Dệt may trong nền kinh tế quốc dân
Mặc là một trong những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của con người, do đó sản phẩm may mặc và gắn liền v ớ i nó là ngành Dệt may được hình thành từ rất sớm Xuất phát từ các chức năng của mình, sản phẩm dệt may nói chung, quần
áo nói riêng có cơ cấu, tính chất thẩm mỹ cũng như các tính chất tiêu dùng khác hết sức phong phú, đa dạng và ngày càng phát triển hoàn thiện phù hợp với trình độ tiêu dùng và văn m i n h xã hội Chúng có tiếng nói riêng, rất mạnh
mẽ, tự nhiên và mang dấu ấn của lịch sử Chúng thay đổi, biến hoa theo sự
t i ế n triển của lịch sử, là một phương tiện quan trọng phản ánh mức độ phát triển của đời sống k i n h tế văn hoa và trình độ văn m i n h của xã hội
ở V i ệ t Nam, ngành Dệt may có lịch sử rất lâu đời và dược phát triển từ tiểu thủ công nghiệp đến công nghiệp, từ phân tán đến tập trung Đ ặ c biệt
Trang 31dường l ố i kinh tế mở, ưu tiên chú trọng phát triển xuất khẩu của N h à nước ta
đã tạo môi trường thuận l ợ i cho sự phát triển của ngành Dệt may Cùng với vai trò quan trọng của các sản phẩm dệt may trong đời sống xã hội, ngành Dệt may cũng có một vai trò không nhổ trong nền kinh tế quốc dân thể hiện ở các điểm sau:
- Ngành Dệt may góp phẩn giải quyết nạn thất nghiệp, tạo công ăn
việc làm cho nền kinh tế Là một nước dang phát triển với 80 triệu dân, mức
sống còn thấp, trình độ dân trí còn chưa cao, V i ệ t Nam phải giải quyết rất
n h i ề u vấn đề nan giải trong đó có một vấn đề rất quan trọng là tạo việc làm cho người lao động Lực lượng lao động của nước ta mặc dù rất dổi dào nhưng trình độ tay nghề lại rất hạn chế Song bù l ạ i , con nguôi Việt Nam cần cù, chăm chỉ, có khả năng tiếp thu nhanh và đã có nghề trồng dâu nuôi tằm kéo tơ
từ lâu đời V ớ i kinh nghiệm của các nước đã phát triển và những nước công nghiệp m ớ i ở châu Á, ngành Dệt may xuất khẩu đã được coi là ngành m ũ i nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam từ nay đến năm
2020 Đây có thể nói là một trong những thế mạnh lớn nhất của các quốc gia châu Á nói chung và của Việt Nam nói riêng
ở V i ệ t Nam, thời gian qua ngành công nghiệp Dệt may đã thu hút được hơn 80 vạn lao động xã hội, chiếm gần 2 3 , 8 % lao động công nghiệp toàn quốc, giải quyết công ăn việc làm cho đòng đảo lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là lao động nữ Ngành Dệt may phát triển không chỉ tạo thêm công ăn việc làm trong ngành m à còn cả trong các ngành liên quan và phụ trợ khác như bao bì, bảo quản, cơ khí, vận tải, cảng và dịch vụ cảng qua đó góp phần làm tăng thu nhập của người lao động, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện làm tăng sức mua, m ở rộng thị trường trong nước Đ ổ n g thời, việc tăng sức mua lại là động lực đẩy mạnh sản xuất phát triển, tạo sự ổ n định về kinh
tế, chính trị và xã hội
Trang 32Chẳng hạn như trong những năm gần đây, mặt hàng dệt may của V i ệ t Nam đã được xuất khẩu sang Nhật Bản và E U v ớ i số lượng đáng kể Trước đây, Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu dệt may là vải và sợi thì nay đã nghiêng về nhập khẩu các loại quần áo may sẵn v ớ i yêu cẩu cao về chất lượng, mờu m ã , k i ể u đáng và m à u sắc Việc thay đổi trong tư duy của người dân Nhật và Châu  u về cơ cấu mặt hàng tiêu dùng đã kích thích sản xuất và giải quyết phần nào số lao động còn dư thừa của ta trong ngành Dệt may Thông qua việc xuất khẩu được những mặt hàng dệt may này, ta đã có thêm một nguồn ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục
vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân
- Ngành Dệt may có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của các
ngành công nghiệp khác K h i ngành Dệt may trở nên vô cùng quan trọng
trong nền kinh tế, thu hút một lực lượng lao động và làm ra k h ố i lượng sản phẩm có giá trị lớn thì đổng thời nó cũng sẽ góp phần làm cho các ngành công nghiệp khác phát triển theo Trước hết là các ngành cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành D ệ t may, sau đó là một loạt các ngành dịch vụ khác như đóng gói, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn quản lý chất lượng
- Ngành Dệt may luôn có một vị trí quan trọng trong việc đóng góp cho
xuất khẩu và nâng cao giá trị sản lượng cho toàn bộ ngành Công nghiệp Việt Nam Ngành D ệ t may là một ngành truyền thống và có điều kiện phát
triển ở Việt Nam Mặc dù sự hoa nhập của ngành vào thị trường dệt may t h ế giới chậm hơn so v ớ i các nước khoảng 15-20 năm nhưng trong gần chục n ă m qua, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2 3 , 8 % và trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta N ă m 2005, tính chung toàn ngành Dệt may đã đạt k i m ngạch xuất khẩu gần 4,83 tỷ USD, tăng 1 0 % so v ớ i n ă m
2004 Trong đó, xuất khẩu sang thị trường M ỹ đạt 2,73 tỷ USD, tăng sang Liên m i n h châu  u E U tăng 10- 1 2 % , đạt 850 triệu USD và sang Nhật đạt khoảng trên 650 triệu USD, tăng 1 5 % so v ớ i n ă m 2004 V ớ i mức tăng
Trang 3310,8%-trưởng 1 0 % so v ớ i các năm trước thì rất thấp, song nếu đặt trong bối cảnh thị trường dệt may thế giới cạnh tranh gay gắt trong n ă m đầu tiên chế độ quota được d ỡ bỏ, chủng tỏ sự n ỗ lực hết mình của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong n ă m 2005 Sang năm 2006, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta đạt bình quân gần 460 triệu USD/tháng, cao hơn mủc trung bình của k ế hoạch năm 422 triệu USD/tháng Tính đến hết tháng 8, k i m ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước đã đạt trên 3,3 tỷ USD, tăng 3 2 % so với cùng kỳ năm ngoái
V ớ i kết quả này cùng với các hợp đồng, đơn đặt hàng đang thực hiện, chắc chắn cuối năm nay ngành Dệt may Việt Nam sẽ đạt chỉ tiêu xuất khẩu t ừ 5,3
tỷ USD trở lên D ự kiến đến năm 2010, k i m ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sẽ vượt qua mốc 10 tỷ USD, tăng gấp đôi năm nay Điều này khẳng định Dệt may chính là một trong những ngành chủ chốt của nền công nghiệp nước nhà trong công cuộc công nghiệp hoa, hiện đại hoa bởi vì nó thu hút một lực lượng lao động rất lớn đồng thời đem lại giá trị xuất khẩu cao Hiện nay, ngành Dệt may đang chiếm khoảng 1 0 % giá trị sản xuất của toàn ngành Công nghiệp và chiếm 1/7 tổng k i m ngạch xuất khẩu của cả nước
- Phát triển công nghiệp Dệt may xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng của chiến lược công nghiệp hoa vì bắt đầu quá trình công nghiệp
hoa bằng những sản phẩm sử dụng lao động là một trong những l ợ i thế l ớ n nhất của chúng ta hiện nay Xuất khẩu mặt hàng dệt may sẽ giúp cho chúng ta
k h a i thác một cách có hiệu quả những lợi thế tuyệt đối cũng như tương đối của đất nước, góp phẩn táng tích l ũ y vốn, m ở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền
k i n h tế Đ ế công nghiệp hoa đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có một nguồn vốn rất lớn, b ở i vậy nếu không có ngoại tệ thu được t ừ hoạt động xuất khẩu thì nền sản xuất trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn Điều đó thể hiện rõ ở chỗ nếu không có ngoại tệ thì sẽ không có k h ả năng nhập khẩu m á y
m ó c thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất K i n h nghiệm thực tế cho thấy, các nước có nguồn d ự trữ ngoại tệ l ớ n như Nhật Bản, Đài Loan Singapore đều là những nước có tỷ trọng xuất khẩu l ớ n trên t h ế giới N h ư
Trang 34vậy việc d ự trữ ngoại tệ, đặc biệt là đối với Việt N a m trong tình hình hiện nay,
là rất cần thiết k h i m à nguồn vốn trong nước còn hạn chế, trình độ phát triển chưa cao, nền sản xuất vật chất còn yếu kém T ừ những bước ban đầu, m ộ t nền tảng cho việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp có h à m lưỗng khoa học cao, tiên tiến, hiện đại sẽ đưỗc hình thành, từ đó làm cho nền kinh tế đất nước
đi lên m ộ t cách vững chắc Hay nói cách khác đi, phát triển ngành công nghiệp Dệt may xuất khẩu hiện nay có vai trò như đặt viên gạch đầu tiên cho công cuộc xây dựng đất nước
- V ớ i sự nỗ lực khắc phục những yếu k é m để vươn lên, ngành Công nghiệp Dệt may không chi luôn g i ữ vai trò trọng yếu trong xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước, đóng góp đáng kể vào việc cải thiện cán cân ngoại
thương của nước ta m à còn góp phẩn không nhỏ để táng nhanh thu hút đầu
tư nước ngoài bởi các nhà đầu tư nước ngoài thường nhìn vào tình hình xuất
khẩu dể đánh giá k h ả nàng thanh toán của một nước
N h ư vậy với đường l ố i m ở cửa và hòa nhập vào nền kinh tế các nước trong k h u vực và t h ế giới, với sự chuyển dịch công nghệ đang diễn ra sôi dộng, ngành Dệt may xuất khẩu nước ta đang tăng trưởng rất khả quan và sẽ
có những dóng góp hiệu quả cho sự tăng trưởng và phát triển k i n h tế của đất nước, xứng đáng là một ngành m ũ i nhọn trong chiến lưỗc phát triển kinh tế xã hội của nước ta
li ĐÁNH GIÁ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM TRONG NHỮNG N Ă M GẦN ĐÂY
ĩ Năng lực sàn xuất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Ngành M a y hình thành ở Việt N a m khá sớm, từ thời kỳ Pháp thuộc đã
có các cửa hàng may đo, các nhà may cá thể, sản xuất nhỏ v ớ i các m á y may đạp chân T ừ những n ă m 1956- 1958, bắt đầu có những xí nghiệp trang bị
m á y may công nghiệp, sản xuất các mặt hàng may sẵn và bước đầu sản xuất hàng dệt may xuất khẩu D ầ n dần, nhiều xí nghiệp dệt may đưỗc xây dựng,
Trang 35tiến tới thành lập Công ty may Sau giải phóng miền Nam, có thêm một loạt cấc xí nghiệp dệt may dược trang bị tốt Những năm thực hiện chủ trương chính sách đổi mới, ngành Dệt may phát triển nhanh chóng, thay thế nhiều các thiết bị hiện đại, tiếp thu công nghệ tiên tiến
Ngành Dệt may Việt Nam đã thực sự đổi mới trong lĩnh vực quản lý từ năm 1991 Với cơ chế kinh doanh linh hoạt, các cơ sằ được chủ động quyết định nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, tự tìm khách hàng, ký kết hợp đồng và quyết định tiền lương thưằng theo kết quả sản xuất kinh doanh ằ cơ sằ mình sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Thực tế không phủ nhận rằng, ngành Dệt may không những duy trì sản xuất và xuất khẩu mà đã vươn lên phát triển với nhịp độ cao
Trong giai đoạn hiện nay, ngành Dệt may vẫn thu hút được sự quan tâm tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước bằi vì đây là ngành giải quyết được số lượng lớn công ăn việc làm, đặc biệt là các lao động nữ Nó không đòi hỏi kỹ thuật công nghệ quá cao, vốn đầu tư không phải quá lớn nhưng mang lại hiệu quả sản xuất cao, thời gian hoàn vốn ngắn Chính vì vậy, ngành cũng dã được hưằng một số ưu đãi như miễn thuế doanh thu với những xí nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu phục vụ may gia công Do đó, các doanh nghiệp đều đang phấn đấu cải tạo mằ rộng, đổi mới Trong thời gian ngắn, ngành Dệt may đã phát triển nhanh chóng, đáp ứng được nhu cẩu của thị trường thế giới, giành được vị trí xuất khẩu quan trọng, được xếp vào những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong nền kinh tế nước ta
2 Năng lực công nghệ
Thuằ sơ khai, ngành Dệt may tổ chức dây chuyền bằng các máy may đạp chân, dần dẫn được chuyển sang trang bị máy may công nghiệp của Trung Quốc và Liên Xô (cũ) như máy K22, K25, K27 Đến thập kỷ 80, ngành Dệt may sử dụng rộng rãi máy may của CHDC Đức (textima), bổ sung thêm một
số máy của Nhật Bản, CHLB Đức để đảm bảo chất lượng sản phẩm Cuối những năm 80, để thực hiện chương trình hợp tác 19/5 với Liên Xô (cũ),
Trang 36ngành dệt may của ta đã nhận của Liên X ô (cũ) gần 7000 máy, trừ vào tiền công may gia công, đồng thời bổ sung máy của Nhật để đảm bảo chất lượng hàng gia công cho Hungary, Tiệp Khắc, C H D C Đức T ừ năm 1991 đến nay, ngành Dệt may liên tục tiến hành đẩu tư m ị rộng sản xuất và đổi m ớ i thiết bị
để đáp ứng yêu cầu chất lượng thị trưịng thế giới
Trong vòng l o n ă m trị l ạ i đây, thị trường t r o n g nước và nước ngoài
yêu cầu chất lượng rất cao, thiết bị được đổi m ớ i bằng các thiết bị hiện đại, đòi h ỏ i công nghệ dệt may cũng phải chuyển biến đáp ứng yêu cầu mới Quá trình sản xuất được tổ chức gọn nhẹ, đổng bộ từng xưịng, từng khâu là một yêu cẩu tất yếu
Các doanh nghiệp tiên phong trong đầu tư đổi m ớ i trang thiết bị công nghệ dệt may phải kể đến là Công ty May l ũ , Công ty M a y Việt Tiến, Công ty May Chiến Thắng Bên cạnh đầu tư đổi m ớ i trang thiết bị công nghệ hiện đại
để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của bạn hàng nước ngoài thì yêu cầu tay nghề kỹ thuật cũng là không thể thiếu
Các doanh nghiệp Dệt may V i ệ t Nam hiện đang phát triển rất nhanh chóng, song so với các nước trên thế giới, thiết bị công nghệ của nước ta vẫn còn yếu kém cả về quy m ô lẫn chất lượng Trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần phải tiếp tục đầu tư chiều sâu cho thiết bị công nghệ để sẵn sàng đón nhận thị trường Dệt may thế giới
3 Các nguyên liệu, phụ liệu cung cấp cho các doanh nghiệp dệt may
Trong ngành Dệt may, nguyên liệu, phụ liệu dóng vai trò quan trọng và
có ảnh hướng quyết định tới chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất Ngành Dệt sử dụng các nguyên liệu chính là xơ tổng hợp, bông xơ, len, đay, tơ tằm Trong đó, quan trọng nhất là bông xơ và xơ sợi tổng hợp Trong thời gian gần đây, ngành sản xuất nguyên liệu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên so với tiềm năng phát triển và nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho ngành Dệt may thì vẫn còn ị mức rất khiêm tốn N h u cầu nguyên liệu cung cấp cho
Trang 37các doanh nghiệp dệt may chủ yếu được đáp ứng thông qua nhập khẩu, ngành Dệt may phải nhập khẩu 1 0 0 % xơ sợi tổng hợp, 9 0 % bông xơ cho sản xuất Ngược với quy m ô các doanh nghiệp trong ngành Dệt may là doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số, yếu tố sử dụng chủ yếu là lao động thì đữc điểm của ngành sản xuất nguyên liệu phục vụ cho dệt may là quy m ô các doanh nghiệp lớn chiếm đa số, yếu tố sử dụng chủ yếu là vốn nên chủ sở hữu thường là các doanh nghiệp Nhà nước Do đó, việc đầu tư cho ngành Dệt sẽ gập nhiều khó khăn, đữc biệt với một nước đang phát triển như ở nước ta Vì vậy, k ế hoạch phất triển nguyên liệu được xếp vào loại k ế hoạch dài hạn và đầu tư chiều sâu
V ề mữt chất lượng, nguyên liệu của V i ệ t Nam sản xuất còn kém, chưa đáp ứng dược yêu cầu của thị trường thế giới Nguyên nhân chủ yếu do máy
m ó c thiết bị quá cũ kỹ, lạc hậu; có những m á y m ó c sử dụng từ những năm 60, công suất thấp, thời gian khấu hao đã hết từ nhiều n ă m nhưng vẫn chưa được đầu tư đổi mới H i ệ n nay, nguyên liệu may của thế giới chất lượng rất cao, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam muốn tiêu t h ụ dược phải sử dụng nguyên liệu ngoại nhập Song đó chỉ là giải pháp mang tính tình thế Trong tương lai, các doanh nghiệp dệt may V i ệ t Nam sẽ dẩn dần sử dụng nguyên liệu trong nước để sản xuất sản phẩm xuất khẩu, có như vậy m ớ i đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Ngoài các nguyên liệu chính, các doanh nghiệp dệt may còn sử dụng một lượng khá lớn các nguyên liệu phụ khác như chỉ may, khoa kéo, cúc các loại, bông tấm, nhãn mác, mex Phụ liệu có vai trò quan trọng trong khâu hoàn thiện sản phẩm, làm tăng giá trị của sản phẩm
Những năm trước đây, trong nước chỉ sản xuất được một số phụ liệu may như chỉ, khoa, cúc, túi PE, bìa lưng với chất lượng kém Trong thời gian gần đây, v ớ i sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và đổi m ớ i m á y m ó c thiết bị, liên doanh với nước ngoài đã thu hút được công nghệ cao, tiên tiến, sán phẩm phụ liệu may trong nước có nhiều tiến bộ, đã sản xuất được bông tấm làm cốt
Trang 38áo rét, chỉ may, cúc áo, mex, khoa kéo chất lượng khá cao có thể đảm bảo cho hàng may xuất khẩu, song số lượng còn nhỏ so với nhu cầu
Đ ể đáp ứng nhu cầu phụ liệu may trong những năm tới, ngành Dệt may cần xây dựng được quy hoạch phát triển cụ thể cho phụ liệu may với quy m ô
và bước đi thích hợp cho sản xuất trong nước, giảm dẩn lượng phụ liệu nhộp khẩu, tiết kiệm ngoại tệ và tâng tỷ lệ sản xuất trong nước, như vộy sản phẩm mới có được giá trị gia tăng cao
4 Tình hình mẫu mốt thời trang ở Việt Nam
Cùng với nhịp độ phát triển chóng mặt của nền kinh tế t h ế giới, mức sống của người dân cũng phát triển kéo theo nhu cầu tiêu dùng hàng hoa dệt may cũng ngày càng tăng Không phải chỉ là nhu cầu đơn thuần mặc đủ, mặc
ấm, hàng dệt may ngày nay phải có đầy đủ các yếu tố mẫu mốt - thòi trang thay đổi theo thị hiếu người tiêu dùng Hàng nghìn hãng thời trang trên t h ế giới ra đời chuyên nghiên cứu các kiểu dáng thời trang thay đổi phù hợp theo thời gian
Mẫu mốt thời trang dược d ự báo theo từng m ù a trong năm V ớ i m ỗ i năm, x u hướng thời trang cũng có nhiều thay đổi về chất liệu vải, phụ liệu vải, găm màu, kiểu dáng Ngoài ra, ở những vùng khác nhau, định hướng phát triển mẫu thời trang sẽ mang đặc điểm của vùng đó như bản sắc văn hoa dân tộc, đời sống k i n h tế, khí hộu, đời sống sinh hoạt
Đ ế xứng đáng được đứng trong hàng ngũ mặt hàng xuất khẩu chủ lực và
để duy trì vai trò tiên phong của mình, các doanh nghiệp dệt may V i ệ t Nam phải sản xuất ra các loại sản phẩm theo kịp mẫu mốt, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, nhanh nhạy v ớ i thời trang thế giới Vì vộy, nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất mẫu thời trang là cần thiết và cấp bách Nếu chúng ta không chuẩn bị tốt sẽ không đáp ứng được yêu cầu, dẫn tới làm l ỡ thời cơ
Nhìn thấy tầm quan trọng của mẫu mốt thời trang, năm 1982, Bộ Công nghiệp nhẹ quyết định thành lộp Trung tâm nghiên cứu công nghiệp may- nay
là V i ệ n mẫu thời trang Fadin - một đơn vị thành viên của Tổng Công ty Dệt
Trang 39may Việt Nam, nay là Tập đoàn Dệt may V i ệ t Nam V i ệ n là nơi h ộ i tụ các nhà công nghệ, tạo mẫu thời trang được đào tạo trong và ngoài nước Nhìn chung,
F A D I N đã đạt được những thành công đáng kể, nhiều mẫu mốt do V i ệ n thiết
k ế đã đạt giải thưởng tại các cuộc trình diễn thời trang quốc tế Đ ó là những
cơ h ộ i quan trọng cho thời trang Việt Nam
Tuy nhiên, những kết quả đạt được còn rứt hạn chế Thực tế, khâu thiết
k ế mẫu vẫn là một trong những khâu yếu nhứt của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, chưa đáp ứng tốt và đầy đủ các nhu cầu trên thị trường quốc t ế trong k h i đây l ạ i là khâu đem lại giá trị gia tăng nhiều hơn so với việc gia công theo mẫu của khách hàng Vì vậy chưa kích thích được xuứt khẩu trực tiếp một cách mạnh mẽ và chưa đủ sức cạnh tranh v ớ i mặt hàng cùng loại của các dối thủ cạnh tranh
Vứn đề nghiên cứu mẫu thời trang ở Việt Nam còn khá m ớ i mẻ, chưa có kinh nghiệm, thiếu thông t i n về thời trang quốc tế, giao lưu với các nhà tạo mẫu trên t h ế giới còn hạn chế, tiếp cận với thị trường may mặc t h ế giới còn quá ít T h ê m vào dó, lâu nay hàng dệt may xuứt khẩu của nước ta chủ yếu theo phương thức gia công theo mẫu m ã của khách hàng nước ngoài cho nên khâu nghiên cứu mốt vẫn còn rứt hạn chế Trong những năm tới, muốn tăng cường xuứt khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn, các doanh nghiệp dệt may cần coi trọng khâu nghiên cứu mẫu mốt, nhận thức dược đó là một trong những khâu đem lại l ợ i nhuận lớn cho ngành
5 Nhãn mác của các sản phẩm dệt may
Nhãn mác là một trong những công cụ phát triển năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nói đến thời trang là gắn liền tên tuổi các hãng, vì vậy, một sản phẩm được gắn nhãn mác đã được công nhận sẽ có tác dụng quảng cáo và gây
ứn tượng rứt lớn
Thứy rõ được vai trò vị trí của nhãn mác sản phẩm, một số Cóng ty dệt may nước ta đã và đang xây dựng nhãn hiệu và biểu tượng riêng cho mình
Trang 40dần dần các sản phẩm mang nhãn hiệu như "Made in Viet Tiên - Vietnam"
đã đi vào trí nhớ và thói quen mua sắm của người tiêu dùng
Đây quả thực là một thành công đáng khích lệ và có thế nói là bước tiên phong cho các doanh nghiệp khác ở nước ta noi theo Tuy nhiên, trong cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là hàng gia công cho nước ngoài với nhãn mác của họ, làm chậm lỗi khá năng phát triển nhãn mác của nước ta trên thị trường thế giới Cấc doanh nghiệp Việt Nam cần nỗ lực đ à m phán để được quyền sử dụng nhãn mác của mình trên sản phẩm gia công vì đây là bước đệm rất cần thiết đế các doanh nghiệp Việt Nam chính thức chuyển sang phương thức mua đứt bán đoỗn nhãn hiệu "Made in Việt Nam"
6 Lao động và đào tạo
Đây là một khâu vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho ngành Dệt may nhằm giúp cho các doanh nghiệp phát triển hoỗt động sản xuất kinh doanh và mỡ rộng thị trường m ớ i cho sản phẩm của mình Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều các địa chỉ đào tỗo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp dệt may, từ các kỹ sư, nhà tỗo mẫu, thiết k ế cho đến đội ngũ lao động phổ thông bình thường
Các doanh nghiệp dệt may đã nhận được rất nhiều sự úng hộ, tỗo diều kiện thuận lợi từ phía N h à nước và các Bộ ngành Cụ thể là Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 55/2001/QĐ/TTg, trong đó điểm 5 điều 2 của Quyết định cho phép "Dành toàn bộ nguồn thu phí hỗn ngỗch dệt may cho việc m ở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó có chi phí cho các hoỗt động tham gia các tổ chức dệt may quốc tế, cho công tác xúc tiến thương mỗi và đào tỗo nguồn nhân lực cho ngành Dệt may"
Theo nhận định của giới chuyên gia thì giá thành, chất lượng của sản phẩm dệt may phụ thuộc khá lớn vào yếu tố con người Kể cả k h i có giá thành hợp lý và chất lượng cao cũng chưa đủ điều kiện đế m ở rộng thị trường nếu không có đội ngũ quản lý giỏi Lấy ví dụ như tỗi thành phố H ồ Chí Minh m ộ i trong những địa phương có số lượng các cơ sở dệt may lớn cũng như doanh số