1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ly hôn và những vấn đề liên quan

19 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ly Hôn Và Những Vấn Đề Liên Quan
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại Báo cáo học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 41,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LY HÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 2 1 Một số khái niệm chung 2 2 Ly hôn 2 3 Hậu quả pháp lý của vi.

Trang 1

LY HÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 2

1 Một số khái niệm chung 2

2 Ly hôn 2

3 Hậu quả pháp lý của việc ly hôn 2

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 4

1 Tóm tắt tình huống 4

2 Nhận xét tình huống 6

3 Yêu cầu của Ông Phạm Văn H chia tài sản chung có được tòa án chấp nhận không? Vì sao? 10

III LIÊN HỆ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 12

1 Một số bất cập còn tồn tại 12

2 Một số giải pháp 14

C KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Hôn nhân là cơ sở của gia đình, hai người đến với nhau bằng tình yêu

và cùng nhau xây dựng một mái ấm, tạo nên gia đình hạnh phúc Gia đình luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, nó được coi như “tế bào” của xã hội, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách mỗi người Ly hôn

là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Ly hôn là mặt trái của kết hôn, việc giải quyết ly hôn và hậu quả của nó luôn mang đến những hệ lụy nhất định Vấn đề được các bên quan tâm và thường xảy ra tranh chấp khi ly hôn chính là giải quyết quyền lợi tài sản của vợ chồng Trong xã hội hiện đại, để bảo đảm đời sống chung của gia đình và lợi ích thiết thực của bản thân mỗi thành viên trong gia đình, vợ chồng có nhu cầu tham gia vào các quan hệ

xã hội được pháp luật điều chỉnh và có quyền, nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các quan hệ đó Lúc gia đình hạnh phúc ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng ít người để ý và quan tâm Khi tình cảm vợ chồng rạn nứt, đổ vỡ,

vợ chồng có quyền tự thỏa thuận việc chia tài sản chung của họ, nhưng khi

họ không thỏa thuận được thì việc vận dụng những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình để giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng là điều cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên Mặc dù vậy, việc áp dụng những quy định này trên thực tế vẫn còn khó khăn, vướng mắc nhất định, do đó, cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ về việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là rất cần thiết Từ những lý do trên nhóm chúng em xin làm rõ vấn đề liên quan đến chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thông qua một tình huống cụ thể Trong quá trình nghiên cứu do vốn kiến thức của chúng em còn hạn hẹp, thời gian tìm hiểu bài chưa được nhiều nên bài làm của nhóm em không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, nhóm em rất mong quý thầy/cô nhận xét và đóng

Trang 3

góp ý kiến cho bài làm của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

B NỘI DUNG

I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1 Một số khái niệm chung

- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (Khoản 1

Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

- Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo

quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5

Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

- Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và

nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này (Khoản 2 Điều 3

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

2 Ly hôn

Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án”.

Tòa án là cơ quan có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định

– Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định

– Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn

3 Hậu quả pháp lý của việc ly hôn

Sau khi ly hôn, quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng sẽ giải quyết như sau:

Trang 5

- Về quan hệ nhân thân: Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản

án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật (Khoản 1 Điều 57

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

- Về quan hệ tài sản:

Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà

vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung

*Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Theo điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ta có quy định như sau:

- Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này

Trang 6

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1 Tóm tắt tình huống

Ông Phạm Văn H và bà Trần Thị N chung sống với nhau trước năm

1985 và đã ly hôn theo Quyết định số 217/2014/QĐST – HNGĐ ngày

Trang 7

31/03/2014 của Tòa án nhân dân quận T Tài sản chung sau khi ly hôn là nhà đất tọa lạc tại số 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp H Ông H

và bà N không thỏa thuận được tài sản chung, ông muốn bán nhà đất để chia nhưng bà N không đồng ý Nay ông khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất tọa lạc tại số 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp

H

Theo lời khai ông Phạm Văn H xác nhận nhà đất trên là do bà Vũ Thị

C, sinh năm 1930 mẹ ruột của bà N tặng cho ông và bà N, tuy nhiên đất của bà C không có giấy tờ nên nhà nước không thừa nhận, khi ông và bà N xây dựng nhà để ở thì bị Ủy ban nhân dân quận T giải tỏa do vi phạm công trình đô thị vào ngày 29/12/1993 và đến năm 1999 thì ông và bà N

kê khai đất, năm 2002 ông và bà N đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được nhà nước cấp vào năm 2003, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả ông và bà N , sau đó năm 2003 ông và bà N xây nhà diện tích 69,2m2 Ngoài ra trong quá trình chung sống ông và bà N đã cùng dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở để thế chấp ngân hàng 02 lần để vay tiền làm ăn Việc xây dựng nhà là khi đó các con còn nhỏ chưa có đóng góp gì

Theo lời khai của bà Trần Thị N Nguồn gốc đất như ông H nêu, tuy nhiên bà không đồng ý chia cho ông 50% giá trị đất Vì đất do mẹ ruột của

bà là bà Vũ Thị C cho riêng bà, cụ thể toàn bộ giấy tờ nhà đất đều là do ông H tự đi làm và kê khai, tờ giấy tặng cho của bà Vũ Thị C là không chính xác vì mẹ tôi không viết giấy đó và khi đó cha tôi còn sống nên phải

có ý kiến của cha tôi, tờ giấy đó không có chữ ký của cha bà do đó không

có hiệu lực pháp luật, tất cả giấy tờ từ kê khai năm 1999 đến giấy phần xây dựng của căn nhà là do hai vợ chồng cùng đóng góp xây dựng Ngoài

ra bà khai vào năm 2004 bà và ông H phô tô Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ờ và nhà ở nêu trên để đi đăng ký giấy phép kinh doanh nên bà

Trang 8

biết được nhà và đất nêu trên đứng tên cả hai vợ chồng sở hữu chung, bà đồng ý vì là vợ chồng bà không tranh chấp Hiện tại bà không đồng ý mà

bà chỉ đồng ý chia đôi phần xây dựng là tài sản chung của vợ chồng Việc xây dựng nhà là khi đó các con còn nhỏ chưa có đóng góp gì Hỏi:

Theo anh, chị: Ông Phạm Văn H yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất số : 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Thành phố H cụ thể nếu bán nhà thì chia cho ông 50% (là ½) giá trị nhà đất hoặc nếu bà N lấy nhà thì trả cho ông là 3.000.000.000 đồng Nếu ông được lấy nhà ông sẽ trả cho

bà N 3.500.000.000 đồng Ông tự nguyện chỉ lấy 3.000.000.000 đồng (nếu bán nhà giá hơn 6.000.000.000 đồng) có được tòa án chấp nhận hay không? Vì sao?

2 Nhận xét tình huống

2.1.Quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Văn H và bà Trần Thị N

Căn cứ khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP: “Đối với

trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”.

Vì ông H và bà N chung sống với nhau trước năm 1985 nên theo quy định trên, quan hệ hôn nhân giữa Ông H và bà N (dù có giấy đăng ký kết hôn hay không) thì đều đã được xác lập Nếu ông H và bà N đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày

họ bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng)

2.2.Căn cứ giải quyết tranh chấp giữa ông Phạm Văn H và bà Trần Thị N

Ông H và bà N đã ly hôn theo Quyết định số 217/2014/QĐST – HNGĐ ngày 31/03/2014 của Tòa án nhân dân quận T Theo quy định tại

khoản 2 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Đối với vụ

Trang 9

việc về hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của Luật này”.

Vậy nên yêu cầu chia tài sản chung của ông H sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2.3.Xác định đối tượng tranh chấp thuộc tài sản chung của ông Phạm Văn H và bà Trần Thị N

Về đối tượng tranh chấp trong tình huống trên là nhà đất tọa lạc tại số

327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp H

Về việc xác định nhà đất tọa lạc tại số 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp H là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng:

- Xét lời khai của ông Phạm Văn H: Theo lời khai ông Phạm Văn H xác nhận nhà đất trên là do bà Vũ Thị C (sinh năm 1930) - mẹ ruột của bà

N tặng cho ông và bà N Căn cứ tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia

đình 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng: “Quyền sử dụng đất mà

vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc

có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Rõ ràng nếu dựa theo lời khai của ông H thì nhà đất tọa lạc tại số 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp H là tài sản chung của vợ chồng ông

H và bà N

- Xét lời khai của bà Trần Thị N: Theo lời khai của bà Trần Thị N thì

bà ghi nhận nguồn gốc đất như ông H nêu bà có khai thêm rằng đây là đất

do mẹ ruột của bà là bà Vũ Thị C cho riêng bà, cụ thể toàn bộ giấy tờ nhà đất đều là do ông H tự đi làm và kê khai, tờ giấy tặng cho của bà Vũ Thị C

là không chính xác vì bà C không viết giấy đó và khi đó cha của bà N còn sống nên phải có ý kiến của cha bà, tờ giấy đó không có chữ ký của cha bà

do đó không có hiệu lực pháp luật, tất cả giấy tờ từ kê khai năm 1999 đến

Trang 10

giấy phần xây dựng của căn nhà là do hai vợ chồng cùng đóng góp xây dựng Hơn nữa vào năm 2004, ông H và bà N photo Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở và nhà ở nêu trên để đi đăng ký giấy phép kinh doanh nên bà biết được nhà và đất nêu trên đứng tên cả hai vợ chồng sở hữu chung, bà đồng ý vì là vợ chồng bà không tranh chấp

Từ lời khai của bà N ta có thể nhận thấy:

+ Thứ nhất, khi vợ chồng ông H và bà N xây dựng nhà để ở thì vào ngày 29/12/1993 bị Ủy ban nhân dân quận T giải tỏa do vi phạm công trình đô thị Đến năm 1999 thì ông và bà N kê khai đất, năm 2002 ông và

bà N đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả ông H và bà N được nhà nước cấp vào năm

2003 và sau đó năm 2003 ông và bà N xây nhà diện tích 69,2m2 Hơn thế nữa, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được niêm yết công khai

từ đó đến nay không có khiếu nại và từ đó UBND quận T đã thừa nhận nhà đất nêu trên thuộc quyền sở hữu của ông H và bà N

+ Thứ hai, năm 2003 ông H và bà N tiến hành xây nhà sẽ phải xin phép xây dựng, đồng thời nhà ở của vợ chồng ông H và bà N không thuộc vào các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật xây dựng 2014 nên có thể nhận thấy rằng khi tiến hành việc xin giấy phép xây dựng thì bà N đã biết được rằng Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở và nhà ở nêu trên đứng tên cả hai vợ chồng sở hữu chung

+ Thứ ba, vào năm 2004, ông H và bà N photo Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở và nhà ở nêu trên để đi đăng ký giấy phép kinh doanh nên bà biết được nhà và đất nêu trên đứng tên cả hai vợ chồng sở hữu chung, bà đồng ý vì là vợ chồng bà không tranh chấp Theo đó, có thể thấy bản thân bà N biết rõ nhà và đất nêu trên đứng tên sở hữu chung của ông

H và bà N nhưng bà N vẫn không có khiếu nại gì, điều này đã thể hiện sự

Trang 11

tự nguyện cũng như là sự đồng ý của bà N trong việc công nhận tài sản nêu trên là tài sản chung của hai ông bà

+ Thứ tư, căn cứ tại khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng thì: “Vợ,

chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung” Mặc dù mảnh đất

trên được bà C tặng cho từ trước đến nay nhưng cả ông H và bà N không

ai thiết lập đây là tài sản riêng Đồng thời tài sản này được xác lập từ năm

1985 đến nay đã hơn 30 năm và không có tranh chấp xảy ra, vậy nên mặc nhiên nhà đất tọa lạc tại số 327 (số cũ 379) T, phường T, quận T, Tp H là tài sản chung của vợ chồng đã được nhà nước thừa nhận

+ Thứ năm, trong quá trình chung sống ông H và bà N đã cùng dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở để thế chấp ngân hàng 02 lần để vay tiền làm ăn Điều này đồng nghĩa với việc bà N đồng ý với việc nhập tài sản tặng cho vào khối tài sản chung của vợ chồng vì nếu bà N không trực tiếp ký vào giấy thế chấp tài sản bảo đảm thì ngân hàng đã không chấp nhận việc thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ông

H và bà N

+ Thứ sáu, về việc bà N khai “toàn bộ giấy tờ nhà đất đều là do ông

H tự đi làm và kê khai, tờ giấy tặng cho của bà Vũ Thị C là không chính xác vì mẹ tôi không viết giấy đó và khi đó cha tôi còn sống nên phải có ý kiến của cha tôi, tờ giấy đó không có chữ ký của cha bà do đó không có hiệu lực pháp luật” là chưa chính xác Vì căn cứ theo bản án lệ số 03/2016/

AL ngày 06/4/2016 và được công bố theo quyết định số 220/QĐ ngày 6/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về vụ án ly hôn nêu rõ nội

dung áp dụng án lệ: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một

diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và

Ngày đăng: 21/03/2023, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w