Nhận thức được tầm quan trọng của việc chỉ ra mối liên hệ giữa niềm tin và thực hành tôn giáo, tác giả đã chọn vấn đề “Ly hôn ở người theo đạo Tin Lành: tiến trình quyết định ly hôn và n
Trang 1-
NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN LÊ
LY HÔN Ở NGƯỜI THEO ĐẠO TIN LÀNH:
TIẾN TRÌNH QUYẾT ĐỊNH LY HÔN
VÀ NHỮNG LÝ GIẢI TỪ GÓC ĐỘ NGƯỜI TRONG CUỘC
(nghiên cứu tại một số quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2015
Trang 2- NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN LÊ
LY HÔN Ở NGƯỜI THEO ĐẠO TIN LÀNH:
TIẾN TRÌNH QUYẾT ĐỊNH LY HÔN
VÀ NHỮNG LÝ GIẢI TỪ GÓC ĐỘ NGƯỜI TRONG CUỘC
(nghiên cứu tại một số quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 3Nằm trong số những luận văn ít ỏi liên quan trực tiếp đến đời sống gia đình của tín hữu theo đạo Tin Lành, tôi rất vui mừng và vinh dự được thực hiện nghiên cứu này Tôi nhận thức rõ ràng về nỗ lực của nhiều cá nhân đã dành cho tôi nhằm giúp tôi hoàn thành bài luận văn nghiên cứu về vấn đề ly hôn trong gia đình tín hữu Tin Lành Tôi mong muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập hôn nhân, chăm sóc mỗi con người trong từng gia đình dù trải qua nhiều biến cố Ngài cũng là Đấng ban cho tôi khả năng để hoàn thành được luận văn này
- PGS TS Trần Thị Kim Xuyến đã kiên nhẫn chỉ dạy tôi từng bước đi từ khi ý tưởng được hình thành đến khi hoàn tất luận văn
- Mục sư Hội trưởng và mục sư Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực giúp ích cho bài luận văn của tôi
- Ông bà mục sư nhiệm chức Nguyễn Đình Tín và cũng là bố mẹ tôi, những người
đã luôn đồng hành, hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc liên hệ, kết nối với các cá nhân
đã ly hôn Bố mẹ cũng là nguồn động viên cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành bài luận văn này
- Các thầy cô trong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
đã giúp đỡ tôi trong thời gian học cao học và thực hiện đề tài
- 17 tín hữu đã đồng ý nhận lời tham gia phỏng vấn sâu, bằng lòng chia sẻ những câu chuyện riêng tư trong gia đình để giúp tôi có được những thông tin quý giá
- Những anh chị em trong Nhóm Thông Công đã luôn hết lòng động viên tôi hoàn tất luận văn này
Mong ước của tôi khi hoàn thành luận văn này là có thể đem đến ích lợi cho cộng đồng tín hữu đạo Tin Lành tại Việt Nam Đặc biệt, tôi mong mỏi đề tài này sẽ góp phần cung cấp những thông tin bổ ích cho những người trẻ đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân
Nguyễn Đình Nguyên Lê
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trần Thị Kim Xuyến Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi chú rõ ràng trong phần tài liệu tham khảo và phía dưới mỗi bảng biểu
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Nguyễn Đình Nguyên Lê
Trang 5LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 8
PHẦN 1: 1
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Khách thể nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5
4.1 Ý nghĩa lý luận 5
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
5 Điểm mới và hạn chế của đề tài 5
6 Kết cấu của luận văn 6
PHẦN 2: 7
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Những nội dung chính được quan tâm 8
1.1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11
1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 15
1.2.1 Cách tiếp cận theo quan điểm hiện tượng luận (phenomenology) 15
1.2.2 Lý thuyết tách cặp (Uncoupling) 16
1.2.3 Lý thuyết duy lý hóa (Rationalization) 18
1.2.4 Lý thuyết thế tục hóa (Secularization) 19
1.2.5 Sự giao thoa giữa hướng tiếp cận & quan điểm của tác giả luận văn 21
1.3 Những khái niệm chính 22
· Ly hôn 22
· Niềm tin tôn giáo 23
· Thực hành tôn giáo 24
1.4 Đặc điểm của giáo lý về hôn nhân của tín hữu đạo Tin Lành 25
1.4.1 Nền tảng Thánh Kinh về hôn nhân 25
1.4.2 Quan điểm của HTTL Việt Nam (miền Nam) về hôn nhân 27
1.5 Câu hỏi nghiên cứu 29
1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 30
1.6.1 Phương pháp luận 30
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 30
1.6.2.1 Mẫu nghiên cứu và tiến trình chọn mẫu trong thực tế 30
1.6.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 31
1.6.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 33
2.1 Đặc điểm về địa bàn và mẫu nghiên cứu 34
2.1.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 34
Trang 72.2 Tiến trình quyết định ly hôn: giai đoạn tiền hôn nhân 40
2.2.1 Cách thức hôn nhân được hình thành: nhìn nhận lại thời gian tìm hiểu 40 2.2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người trong cuộc 40
· Cùng theo đạo Tin Lành 40
· Những tiêu chuẩn khác: tính cách, tình cảm, thời gian tìm hiểu nhau 43
2.2.1.2 Ảnh hưởng của gia đình trong quan niệm “hôn nhân cùng tôn giáo” đối với con cái 47
2.2.2 Nhìn nhận niềm tin và nếp sống đạo của hai cá nhân trong giai đoạn tiền hôn nhân 50
2.2.2.1 Cách thức quan tâm đến niềm tin của người phối ngẫu 50
2.2.2.1 Biểu hiện về thực hành tôn giáo 53
2.3 Giai đoạn sống chung 59
2.3.1 Những tình huống sống nảy sinh xung đột 59
2.3.1.1 Khác biệt trong nếp sinh hoạt 59
2.3.1.2 Khác biệt trong niềm tin & thực hành tôn giáo 66
2.3.2 Những biểu hiện của xung đột 71
2.3.2.1 Ngoại tình 71
2.3.2.2 Bạo hành: thể xác và tinh thần 77
2.3.2.3 Những hình thức xung đột khác 82
2.3.3 Những lựa chọn giải quyết xung đột từ người trong cuộc 85
2.3.3.1 Cách thức cá nhân tự xử lý xung đột 85
2.3.3.2 Cách thức cá nhân xử lý xung đột cùng với người bạn đời 90
2.3.3.3 Cách thức xử lý xung đột: nhờ sự trợ giúp từ gia đình hai bên 93
2.3.3.4 Cách thức xử lý xung đột: nhờ sự trợ giúp từ lãnh đạo HTTL 96
2.3.3.5 Cách thức xử lý xung đột: nhờ sự trợ giúp từ cộng đoàn 100
2.4 Giai đoạn tách cặp 103
2.4.1 Những biểu hiện “hôn nhân chết” 104
Trang 82.4.1.2 Độc lập về thu chi chung trong gia đình 108
2.4.1.3 Tách biệt khỏi việc nuôi dạy con cái 112
2.4.1.4 Tách biệt khỏi sinh hoạt gia đình 113
2.4.2 Ly thân 117
2.4.3 Đề xuất ly hôn 119
2.4.4 Những cách lý giải của người trong cuộc đối với quyết định ly hôn 122
· Nhóm tín hữu bị đề nghị ly hôn 122
· Nhóm tín hữu chủ động đề nghị ly hôn 123
2.4.5 Thái độ của người ngoài đối với quyết định ly hôn của tín đồ TL 126
· Từ gia đình hai bên 127
· Từ bạn bè, lối xóm 129
· Từ lãnh đạo Hội Thánh 130
· Từ cộng đoàn 131
PHẦN 3: 135
1 Kết luận 136
2 Khuyến nghị 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 143
Trang 9Bảng 2.1 Tình trạng kết hôn và ly hôn ở TPHCM 36
Bảng 2.2: Số vụ ly hôn trong chín HTTL quy mô lớn tại khu vực TP.HCM 37
Bảng 2.3: Đặc điểm chi tiết về mẫu nghiên cứu 38
Hộp 2.4: Trường hợp điển hình về vấn đề 41
Hộp 2.5: Trường hợp điển hình về vấn đề thực hành tôn giáo 57
Hộp 2.6: Trường hợp điển hình về khác biệt về ứng xử trong đời sống 63
Hộp 2.7: Trường hợp điển hình về biểu hiện của xung đột 76
Hộp 2.8: Trường hợp điển hình về biểu hiện của xung đột 81
Hộp 2.9: Trường hợp điển hình về biểu hiện của xung đột 84
Hộp 2.10: Trường hợp điển hình về cách thức cá nhân tự xử lý xung đột 89
Hộp 2.11: Trường hợp điển hình về cách xử lý xung đột cùng với người bạn đời 92 Hộp 2.12: Trường hợp điển hình về cách trợ giúp từ phía gia đình 95
Hộp 2.13: Trường hợp điển hình về biểu hiện của “hôn nhân chết” 106
Hộp 2.14: Trường hợp điển hình về biểu hiện của “hôn nhân chết” 111
Hộp 2.15: Trường hợp điển hình về biểu hiện của “hôn nhân chết” 115
Hộp 2.16: Trường hợp điển hình về thái độ của cộng đoàn 133
Trang 11PHẦN 1:
MỞ ĐẦU
Trang 121 Lý do chọn đề tài
Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử, hiện tượng ly hôn vẫn luôn là một trong những vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống gia đình Theo thời gian, số vụ ly hôn có chiều hướng gia tăng Lý giải cho xu hướng này, các nhà xã hội học Tây phương nhận định, dù đã từng bị lên án như một hành vi phạm tội trong chuẩn mực của tôn giáo nhưng ly hôn ngày càng được chấp nhận như một cách thức để giải thoát cho vợ và chồng khỏi cuộc sống hôn nhân đã
bế tắc với những xung đột không giải quyết được Họ cho rằng “ly hôn không phải là một hành
vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm đạo đức xã hội mà nó nằm chính trong logích mới của hôn nhân.” (Trần Thị Kim Xuyến, 2001:172)
Nhiều dữ liệu thống kê đã chứng minh cho nhận định này Kết quả khảo sát của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng Cục Thống kê1 cho thấy số vụ ly hôn ghi nhận được vào năm 2000 là 51.361 vụ Một thập niên sau
đó, con số này đã tăng lên mức 88.591 vụ Và đến năm 2013, số vụ ly hôn được thống kê đã lên đến 145.791 vụ Tại thành phố Hồ Chí Minh, con số vụ ly hôn cũng tăng theo thời gian Năm
1995, số vụ ly hôn là 5.914 vụ thì đến năm 2011, con số này đã vượt hơn 11.000 vụ Ba năm sau, số vụ ly hôn đã tăng gần gấp đôi với 21.453 vụ Trung bình mỗi ngày, ngành tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phải giải quyết cho hơn 60 đơn xin ly hôn2
Trong bối cảnh này, vấn đề ly hôn của những người theo đạo Tin Lành cũng không nằm ngoài xu hướng chung của xã hội Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những điểm nổi bật Nhận định của mục sư Phó Hội trưởng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam)
cho rằng “những con người trong Hội Thánh cũng là thành viên trong xã hội chịu rất nhiều ảnh hưởng của xã hội hiện nay Cho nên nói đúng ra thực trạng trong Hội Thánh đáng báo động là, hiện nay các tín hữu lại chịu ảnh hưởng của phóng khoáng bên ngoài Có chiều hướng là ly hôn gia tăng hơn.” (MS01, Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam)) đã cho thấy
rõ nét hơn về xu hướng này
Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng hơn được tác giả luận văn lưu ý đến là: quan điểm từ Kinh Thánh và quy định của Hội thánh Tin Lành Việt Nam hoàn toàn nghiêm cấm các cặp kết hôn được ly hôn, vậy tại sao trong thực tế những tín hữu Tin Lành đó vẫn quyết định ly hôn? Mỗi tín hữu Tin Lành đều được dạy rằng, sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân là
1 Tham khảo tại http://www.shanghaidaily.com/article/article_xinhua.aspx?id=236857
2 Tham khảo tại http://netluat.plo.vn/phap-luat/tphcm-moi-ngay-hon-60-vu-ly-hon-103248.html
Trang 13vô cùng thiêng liêng Không một ai, kể cả người nam và người nữ đó được phép phá bỏ đi mối liên hệ hôn nhân được chính Thượng Đế thiết lập (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 878) Tình yêu
và hôn nhân Cơ đốc là những giá trị tâm linh cần phải được gìn giữ và bảo vệ hết sức có thể (Kinh Thánh Tân Ước, 2001:202) Thông qua đó, Danh Chúa sẽ được vinh hiển (Kinh Thánh Tân Ước, 2001:174, 239)
Hơn thế nữa, cần phải thừa nhận rằng ly hôn là lĩnh vực được nghiên cứu rất nhiều trong bộ môn xã hội học gia đình Nhiều vấn đề liên quan đến đời sống sau ly hôn đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng Bên cạnh đó, ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo đối với lối sống con người cũng là một đề tài quen thuộc với lĩnh vực nghiên cứu khoa học Tuy vậy, các nghiên cứu đào sâu tìm hiểu những xung đột nảy sinh trong đời sống gia đình có liên quan đến niềm tin và việc thực hành tôn giáo vẫn còn nhiều khoảng trống Trong đời sống thực tế, tiến trình để đưa ra quyết định ly hôn là không dễ dàng đối với tín hữu Tin Lành vì họ phải đối diện, tranh chiến với những luật định của Hội Thánh và niềm tin của bản thân
Vì vậy, câu hỏi rất quan trọng được đặt ra ở đây là vì sao trong thực tế các cuộc ly hôn của các cặp vợ chồng tín hữu Tin Lành vẫn tiếp tục diễn ra dù điều đó hoàn toàn bị nghiêm cấm bởi luật định trong Kinh Thánh và quy định của Hội Thánh? Lựa chọn quyết định ly hôn có phải là giải pháp tốt nhất cho họ, khi mà niềm tin tôn giáo vẫn còn ngự trị trong họ? Đức tin có vai trò như thế nào trong việc ngăn cản họ phá vỡ kết cấu gia đình hay nó giúp cho các tín hữu Tin Lành tìm ra được cách để họ vững tin hơn trong quyết định của mình khi ly hôn? Thực tế họ đã vượt qua những bối cảnh đầy xung đột giữa niềm tin tôn giáo và những vấn đề thực tế của cuộc sống với những yếu tố biến đổi xã hội hiện nay?
Từ thực tế đã nêu, các nghiên cứu xã hội học là thật sự cần thiết để chỉ ra mối liên hệ giữa thiết chế tôn giáo và vấn đề ly hôn trong gia đình tín hữu Tin Lành ngày nay Nhận thức được tầm quan trọng của việc chỉ ra mối liên hệ giữa niềm tin và thực hành tôn giáo, tác giả đã chọn
vấn đề “Ly hôn ở người theo đạo Tin Lành: tiến trình quyết định ly hôn và những lý giải từ góc độ người trong cuộc” (nghiên cứu tại một số quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh) làm đề tài cho luận văn của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Qua nghiên cứu, đề tài muốn hiểu rõ đặc trưng của tiến trình tiến đến ly hôn của các bên kết hôn và chỉ ra những yếu tố liên quan đến tôn giáo ảnh hưởng đến tiến trình này, nhằm lý giải cho quyết định ly hôn vẫn tiếp tục được đưa ra bởi các tín hữu theo đạo Tin Lành trong bối cảnh
Trang 14hôn nhân Cơ Đốc được ràng buộc chặt chẽ bởi giáo lý trong Kinh Thánh và quy định của Hội
Thánh Tin Lành
2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu chung, tác giả đã cụ thể hóa thành những mục tiêu cụ thể nhằm xác định vấn đề
cần phải nghiên cứu rõ ràng và chi tiết hơn:
- Thông qua trình tự của ba giai đoạn trong tiến trình ly hôn (giai đoạn tiền hôn nhân; giai
đoạn sống chung; và giai đoạn tách cặp), đề tài mô tả những biểu hiện và cảm nhận của
tín hữu Tin Lành trong từng giai đoạn đó
- Chỉ ra mức độ chi phối của giáo lý hôn nhân và cộng đoàn tín hữu Tin Lành đối với những
cá nhân tín hữu Tin Lành trong cuộc trước khi đưa ra quyết định ly hôn
- Lý giải cho niềm tin và thực hành tôn giáo của tín hữu Tin Lành như là những yếu tố ảnh
hưởng chủ yếu đến tiến trình đưa ra quyết định ly hôn
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu cụ thể nêu trên, đề tài sẽ có những nhiệm vụ nghiên cứu như
sau:
- Xây dựng cơ sở luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài này (tìm kiếm các
lý thuyết và phương pháp của những người đã thực hiện những vấn đề về mâu thuẫn gia
đình, và ly hôn; từ đó đặt các câu hỏi nghiên cứu và các thao tác thiết kế nghiên cứu khác)
- Thu thập thông tin sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn sâu (đối với các đối tượng cung
cấp thông tin và những đối tượng có liên quan) và thông tin thứ cấp qua các tài liệu sẵn
có
- Xử lý thông tin định tính
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tiến trình quyết định ly hôn qua các giai đoạn khác
nhau của các cá nhân theo đạo Tin Lành và những lý giải từ góc độ người trong cuộc
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Những người theo đạo Tin Lành đã ly hôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Ngoài ra, để làm phong phú hơn nguồn thông tin, một số nhóm thông tín viên (những
người trực tiếp đối diện giải quyết những vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình và ly
Trang 15hôn trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) cũng được đề nghị tham gia cung cấp thông tin
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm phong phú thêm nguồn tư liệu về hiện trạng ly hôn trong đạo Tin Lành còn khá hạn chế hiện nay, cung cấp một phần tổng quan cơ sở khoa học cho các đề tài nghiên cứu về ly hôn và gia đình nói chung, và những đề tài nghiên cứu những vấn đề đan xen giữa gia đình và tôn giáo nói riêng
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp người đọc có một cái nhìn sâu sát hơn đối với hiện trạng
ly hôn hiện nay của các cặp vợ chồng theo đạo Tin Lành, chỉ rõ những yếu tố niềm tin và thực hành tôn giáo đã tác động thế nào đến đời sống và dẫn đến quyết định ly hôn trong những gia đình theo đạo Tin Lành
Cũng thông qua nghiên cứu này, đề tài cũng muốn hướng đến một vài suy nghĩ để giúp những nhà nghiên cứu có thêm tư liệu khi nghiên cứu về gia đình trước những biến đổi xã hội gia tăng hiện nay Đó cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu cùng chủ đề hay lĩnh vực sau này
5 Điểm mới và hạn chế của đề tài
Điểm mới của đề tài này thể hiện ở chỗ:
Về mặt nội dung, đề tài tìm kiếm, khám phá những yếu tố thật sự chi phối đến quyết định ly hôn của tín hữu Tin Lành trong ba giai đoạn: tiền hôn nhân, sống chung và tách cặp Qua đó, tác giả có thể nhìn nhận những yếu tố nào vượt hơn các định chế tôn giáo đối với tín hữu Tin Lành quyết định ly hôn
Về mặt lý thuyết, đề tài này vẫn tiếp tục sử dụng những lý thuyết quen thuộc từ xã hội học tôn giáo và xã hội học gia đình một cách tách biệt, do chưa tìm được những lý thuyết hay hướng tiếp cận chuyên sâu cho lĩnh vực cụ thể này Tuy nhiên, cũng chính vì vậy, hy vọng sau khi thực hiện đề tài này tác giả có thể đề xuất một số ý tưởng đóng góp thêm vào hệ thống lý thuyết nghiên cứu về hôn nhân, gia đình của nhóm người có đạo
Về giới hạn, đối với vấn đề ly hôn, giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu tiến trình dẫn đến quyết định ly hôn Tức là bao gồm giai đoạn từ lúc hai cá nhân trong một gia đình bắt đầu xảy
ra mâu thuẫn, dẫn đến xung đột và đưa ra quyết định ly hôn mà chưa đề cập đến hệ quả của vấn
đề này Do nghiên cứu trong phạm vi nhỏ, luận văn cũng chưa chỉ ra được sự khác biệt trong
Trang 16quyết định ly hôn giữa các cá nhân theo đạo Tin Lành tại các vùng miền khác nhau, hoặc tại các thời điểm khác nhau
Cuối cùng, về mặt phương pháp đối với đề tài nghiên cứu này được xây dựng theo phương pháp luận định tính nên những phát hiện không nên sử dụng để khái quát trên phạm vi rộng lớn, nhưng chỉ có thể mang tính điển hình cho một nhóm tín đồ theo đạo Tin Lành tại thành phố Hồ Chí Minh
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được hình thành bởi ba phần chính:
Phần mở đầu: giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, hạn chế của đề tài, cũng như ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Phần nội dung gồm hai chương, trong đó chương một: giới thiệu về cơ sở lý luận và phương pháp luận đề tài, chương hai: trình bày kết quả nghiên cứu tiến trình ly hôn ở người theo đạo Tin Lành từ góc độ lý giải của người trong cuộc, nghiên cứu tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh Cuối cùng, kết luận nêu lên những phát hiện và những nhận định dựa trên những thông tin
đã thu thập và đánh giá được
Trang 17PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 18CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cùng với những biến đổi đến từ xã hội và tác động của các quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, ly hôn đang dần trở thành một hiện tượng phổ biến hơn đối với đời sống xã hội nói chung và đời sống gia đình nói riêng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và để làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này và những đề tài có liên quan đã được tác giả luận văn tìm hiểu và phân tích Trong phần này, tác giả sẽ điểm qua một
số công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học đã từng đề cập trực tiếp đến vấn đề ly hôn, những mâu thuẫn thường xảy ra trong đời sống hôn nhân Đồng thời, tác giả cũng tìm kiếm kết quả nghiên cứu khoa học về sự tương quan trong mối liên hệ giữa chất lượng đời sống gia đình và vấn đề tâm linh Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ nhận định tình hình nghiên cứu vấn đề ly hôn với những phương pháp đang được sử dụng trong hiện tại
1.1.1 Những nội dung chính được quan tâm
• Tiến trình đưa đến quyết định ly hôn
Trong nội dung này, công trình nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Diane Vaughan
“Uncoupling: Turning Points in Intimate Relationship” (1986) nổi bật lên với điểm nhấn chỉ ra được những giai đoạn mà tiến trình đưa ra quyết định ly hôn phải trải qua Chính tác giả Diane Vaughan đã dùng phương pháp phỏng vấn để tiếp cận 103 người vừa ly thân vừa ly hôn để khảo sát vấn đề này Tác phẩm này cũng đánh dấu một khái niệm khá mới mẻ trong nghiên cứu về ly hôn, đó là khái niệm “tách cặp” (uncoupling) Công trình nghiên cứu “Uncoupling: Turning Points in Intimate Ralationship” đánh dấu một bước tiến mới trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề
ly hôn của gia đình Diane Vaughan đã chỉ ra rõ ràng những giai đoạn diễn ra trong gia đình khi
vợ và chồng bắt đầu có những xung đột không giải quyết được Bà nhận định, người khởi xướng
là người không hài lòng với thể hiện của bạn đời và mong muốn họ thay đổi Tuy nhiên, vấn đề bắt đầu nảy sinh khi nhu cầu của người khởi xướng không được bạn đời đáp ứng Mâu thuẫn dần dần hình thành và sự tách rời bắt đầu hiện diện trong nhiều lĩnh vực khác nhau của gia đình như tình cảm, tài chánh, nuôi dạy con cái,…Sau đó, một trong hai người bắt đầu cân nhắc quyết định chấm dứt hôn nhân bằng cách đánh giá quyết định ly hôn cùng với những hậu quả kéo theo sau đó Những nỗ lực cứu vãn hôn nhân cũng được người vợ hoặc người chồng thể hiện trong giai đoạn này Cuối cùng, khi mọi nỗ lực đều không có kết quả và người trong cuộc chấp nhận đối diện với hậu quả, quyết định ly hôn được đưa ra Tác phẩm của Diane Vaughan được xem
là bước nhảy vọt trong nghiên cứu ly hôn vì “mô tả và phân tích rất tỉ mỉ quá trình tách cặp qua
Trang 19các bước, các giai đoạn khác nhau, với hành động và phản ứng của hai bên hết sức đa dạng Nó
bổ ích không chỉ với giới nghiên cứu, mà còn cung cấp thông tin và chất liệu để suy nghĩ cho những người làm tư vấn hôn nhân và công tác xã hội, cũng như bản thân các cặp vợ chồng” (Mai Huy Bích, 2005: 101)
Cách thức tiếp cận vấn đề của tác giả này cho thấy một luận điểm quan trọng, đó là ly hôn cần được xem xét như một quá trình chứ không đơn thuần chỉ là một sự kiện của gia đình Đặc biệt, quá trình này “giống hệt nhau, dù các cặp có kết hôn chính thức hay không, dù họ là người đồng tính luyến ái hay khác tính luyến ái, thuộc giai cấp lao động hay giai cấp trung lưu […]
dù người khởi xướng là nam hay nữ, thì quá trình này vẫn xảy ra theo cùng một cách.” (Mai Huy Bích, 2005: 100)
• Những mâu thuẫn xảy ra trong gia đình và cách thức xử lý xung đột
Tiếp theo, tác giả mở rộng giới hạn tổng quan đến với những nghiên cứu đề cập những mâu thuẫn thường xảy ra trong gia đình được các công trình nghiên cứu có trước tập trung phân tích như là bạo lực, ngoại tình, mâu thuẫn do khác biệt trong ứng xử vợ chồng, do khác biệt về cá tính, do vấn đề quản lý chi tiêu hay mâu thuẫn do việc nuôi dạy con,…Cũng có các công trình sau khi nêu các loại hình mâu thuẫn trong gia đình còn tiếp tục phân tích sâu vào những nguyên nhân dẫn đến các mâu thuẫn đó (Nguyễn Thanh Tâm, 2002) Nhóm tác giả này chỉ ra những yếu
tố được coi như nguyên nhân của hiện tượng này là tính ích kỷ của vợ, chồng và khả năng kém thích ứng của vợ, chồng trong đời sống hôn nhân Đây là điểm đáng chú ý vì những nguyên nhân
ly hôn xuất hiện hiếm hoi trong quá khứ đã dần trở nên phổ biến hơn trong hiện tại Thông qua những khám phá mới này, tác giả luận văn sẽ có thêm cơ sở để đào sâu và khám phá nguyên nhân chính của những cuộc ly hôn trong Hội Thánh Tin Lành
Ngoài ra, những nghiên cứu của nhóm các tác giả này cũng cho thấy cách thức xử lý những mâu thuẫn giữa vợ và chồng thường được chọn lựa như thế nào Thông thường, việc xử lý mâu thuẫn hiếm khi dừng lại giữa vợ và chồng mà luôn phải nhờ cậy đến gia đình hai bên, cộng đồng,…Một công trình nghiên cứu khác thể hiện những khía cạnh này rõ ràng hơn, cụ thể trong các gia đình theo đạo Công giáo Đây là khía cạnh chưa được đề cập trong đề tài nghiên cứu ly hôn tại Hà Nội của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm Điển hình, công trình nghiên cứu cho thấy các gia đình có cả vợ và chồng cùng theo đạo Công giáo ít xảy ra mâu thuẫn hơn so với những gia đình chỉ có người vợ hoặc người chồng theo đạo Phần lớn những gia đình được khảo sát cho thấy đã từng có nhiều mâu thuẫn do "theo đạo chỉ để lấy vợ/chồng chứ không phải do tin hay do được cảm hóa thực sự" (Mai Thị Ráng, 2012: 51) Nhìn chung, tác giả đã chỉ ra được
Trang 20mức độ ảnh hưởng của đạo Công giáo về mặt giáo hội và về phía giáo lý đến đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng được khảo sát "Hôn nhân không chỉ là chuyện riêng tư của cá nhân mà
nó còn là chuyện đại sự của gia đình, dòng họ, của xã hội, của giáo hội." (Mai Thị Ráng, 2012: 83) Vì vậy, công trình nghiên cứu này đã chỉ ra, tôn giáo có sự chi phối rõ ràng đối với cách ứng
xử của vợ và chồng khi có mâu thuẫn xảy ra
Mặt khác, sự khác biệt trong đề tài của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm là tập trung đề cập đến dư luận xã hội đối với quyết định ly hôn hơn là đề cập đến cách thức xử lý trước khi ly hôn Công trình này chỉ ra dư luận xã hội xoay quanh vấn đề này cùng những hậu quả sau khi ly hôn Đối với vấn đề dư luận, đề tài đã cho thấy có ba luồng ý kiến khác nhau: đồng tình, không đồng tình và không ý kiến Tuy nhiên, những ý kiến này chỉ mới mang tính tham khảo và đa số đều
là phản ứng từ cha mẹ hai bên gia đình Công trình nghiên cứu hoàn toàn chưa đề cập nhiều đến
dư luận từ những đối tượng khác như hàng xóm, bè bạn, cộng đồng tôn giáo,…Nhận thấy điểm hạn chế trong đề tài của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm, tác giả luận văn không chỉ sử dụng phỏng vấn sâu để mô tả lại xung đột giữa người vợ và người chồng mà sẽ chỉ rõ mức độ chi phối
và cách thức phản ứng với người trong cuộc từ phía cha mẹ hai bên, lãnh đạo Hội Thánh Tin Lành và cộng đoàn, bè bạn, bà con lối xóm
• Mối liên hệ giữa niềm tin và thực hành tôn giáo đối với chất lượng đời sống hôn nhân gia đình
Cuối cùng, khi bàn về mối liên hệ giữa niềm tin và thực hành tôn giáo đối với chất lượng đời sống hôn nhân gia đình, điểm chung nhất nổi lên trong các công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này là gia đình được nhìn nhận như môi trường căn bản để xây dựng đời sống tâm linh đối với mỗi cá nhân Qua đó, các cá nhân này được thiết lập những tiêu chuẩn đạo đức trong lối sống, cách ứng xử với người khác, tổ chức đời sống tâm linh thích hợp với niềm tin của bản thân,…(Trần Nữ Quế Phương, 2006: 68; Nelly Krowolski, 2003: 27; Lê Đức Hạnh, 2008: 58) Trước hết, gia đình được coi là một nền tảng vững chắc cho vấn đề tâm linh của mỗi cá nhân Một tác giả đã có nhận định sau, "tâm linh là cái nền vững chắc, là hằng số, và vĩnh cửu trong nhiều quan hệ con người"3 (Trần Nữ Quế Phương, 2006: 68) Các phong tục liên quan đến việc thực hành tôn giáo như nghi lễ trong tang ma, thờ cúng tổ tiên, đều được bắt nguồn từ trong chính gia đình nhằm thể hiện tình cảm, lòng biết ơn của các thành viên trong gia đình với người quá cố hoặc tổ tiên Cùng quan điểm với nhận xét này, bài viết của một tác giả khác cung
3 Trích lại của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong tác phẩm "Văn hóa tâm linh"
Trang 21cấp một luận điểm về nền tảng tâm linh trong gia đình khi cho rằng, "phần chính yếu của đời sống tôn giáo xảy ra trong gia đình" (Nelly Krowolski, 2003: 27) Điều này cũng được tác giả Leopold Michele Cadiere phân tích khá chi tiết trong tác phẩm "Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt": "tôn giáo đóng một vai trò quan trọng, và ở một mức độ nào đó, nó thánh hiến mối dây liên kết giữa người nam và người nữ muốn thiết lập một gia đình" (Lê Đức Hạnh, 2008: 58)
Bên cạnh nhận định gia đình là nền tảng tâm linh của mỗi cá nhân, có quan điểm khác hỗ trợ cho rằng tôn giáo còn là xuất phát điểm của một bộ phận gia đình người Việt, "hôn nhân tự
nó đã mang một màu sắc mới đậm tính chất tôn giáo rõ rệt" (Lê Đức Hạnh, 2008: 58) Kết quả nghiên cứu của tác giả này khám phá niềm tin tôn giáo của một giáo họ được thể hiện qua các đám tang ma, giỗ chạp, cưới xin, Ngoài ra, so với công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm, đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Đức Hạnh đã cho thấy sự ảnh hưởng nhất định của cộng đoàn đối với đời sống tôn giáo trong gia đình "Cha xứ và ban hành giáo cũng nhắc nhở để con cháu phải hiếu thảo, phải tôn trọng với cha mẹ và người già" hoặc ngược lại, cha mẹ cần phải "làm gương và dạy dỗ cho con cái về đức tin, về nhân cách, của người Công giáo" (Lê Đức Hạnh, 2010: 29) Tóm lại, các công trình nghiên cứu đều đồng ý xem gia đình là nền tảng trong đời sống tôn giáo vì "tạo điều kiện duy trì những không gian thiêng liêng, những môi trường văn hóa truyền thống" (Trần Nữ Quế Phương, 2006: 162)
1.1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, từ các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy, các lý thuyết được áp dụng trong các đề tài về ly hôn vẫn chủ yếu dựa vào các lý thuyết xã hội học vĩ mô, bao gồm các lý thuyết: xung đột, trao đổi, các thuyết về nữ quyền, hành động xã hội, sai lệch xã hội, Điều này đã được Phạm Thị Huệ nhận định trong phần tổng quan của công trình “Vận dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ly hôn ở Việt Nam hiện nay” Người nghiên cứu đồng tình về quan điểm của với tác giả Phạm Thị Huệ đối với sự thiếu vắng các lý thuyết chuyên môn để áp dụng nghiên cứu vấn đề nhạy cảm này khi cho rằng, “hầu như chưa có nghiên cứu nào đề xuất cách tiếp cận lý thuyết mới về ly hôn trong bối cảnh Việt Nam” (Phạm Thị Huệ, 2014: 11)
Một khía cạnh khác của vấn đề ứng dụng lý thuyết trong nghiên cứu ly hôn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết áp dụng và nghiên cứu thực nghiệm Một số đề tài nghiên cứu bị phê phán rằng, “không cho biết các lý thuyết đó biểu hiện ra sao trong các trường hợp mà nó nghiên cứu, chúng có được thực tế ly hôn của Việt Nam xác nhận hay không, với xã hội chúng
Trang 22ta thì chúng đúng hay sai, đúng và sai ở chỗ nào, vì sao đúng và vì sao sai,…” (Mai Huy Bích, 2005: 97) Minh chứng cho điều này, tác giả Mai Huy Bích đã sử dụng công trình của nhà xã hội học Mỹ Diane Vaughan với khái niệm “tách cặp” (uncoupling) Tác giả này đánh giá, “thuyết tách cặp nảy sinh từ sự phân tích dữ liệu thực nghiệm.” (Mai Huy Bích, 2005:102) Lý thuyết
“tách cặp” được đánh giá cao bởi tính mới và thực tế khi so với kết quả thực nghiệm thu được Kết luận về tình hình sử dụng lý thuyết áp dụng đối với việc nghiên cứu ly hôn, tác giả Mai Huy Bích cho rằng nhiều nghiên cứu ly hôn có “chương về các lý thuyết được giới thiệu để trang trí hơn là vận dụng vào để kiểm nghiệm đúng sai, hay chỉnh sửa phát triển, hoặc cao hơn là thay thế nó bằng các lý thuyết mới.” (Mai Huy Bích, 2005: 97)
Về mặt phương pháp luận nghiên cứu đối với vấn đề ly hôn và tôn giáo, các tài liệu được tổng quan cho thấy mức độ tiếp cận nghiên cứu theo hướng định tính và định lượng không có nhiều sự khác biệt Trong thời điểm hiện tại, hầu hết những đề tài liên quan đến lĩnh vực về gia đình và tôn giáo đều sử dụng phương pháp khảo sát định lượng hoặc định tính, hoặc kết hợp cả hai Những công cụ khảo sát được lồng ghép với nhau nhằm tìm kiếm thông tin một cách toàn diện và đầy đủ nhất có thể Ví dụ, đề tài nghiên cứu của tác giả Vũ Tuấn Huy về vấn đề “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng” chủ yếu sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu định lượng để thu thập thông tin Bên cạnh đó, tác giả này cũng có sử dụng nhiều phần trích dẫn từ các cuộc phỏng vấn sâu để làm rõ hơn thông tin khảo sát được từ bảng hỏi Tuy nhiên, hướng nghiên cứu của tác giả Vũ Tuấn Huy hoàn toàn khác biệt so với hướng tiếp cận nghiên cứu định tính của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm với đề tài “Ly hôn-Nghiên cứu trường hợp Hà Nội” khi chỉ tập trung lấy thông tin thông qua hình thức phỏng vấn sâu Nhìn chung, hai hướng tiếp cận này đều giúp ích cho người nghiên cứu phân tích vấn đề của gia đình cách sâu sắc và toàn diện hơn, tránh bỏ sót những thông tin quan trọng Bên cạnh đó, hướng tiếp cận hệ thống của tác giả Trần Thị Kim Xuyến cũng bổ sung thêm cho hiện trạng nghiên cứu ly hôn vẫn còn hiếm hoi về phương pháp Tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” nêu lên hướng tiếp cận vấn đề ly hôn từ các khía cạnh như thiết chế, nhóm, hệ thống, và lối sống Nhận xét được rút ra là ly hôn đang dần trở nên một hiện tượng toàn cầu, không của riêng
cá nhân hoặc gia đình nào Cách tiếp cận hệ thống này nhằm giúp cho tầm nhìn về vấn đề ly hôn trong gia đình Việt Nam trở nên toàn diện hơn
Mặc dù vậy, mỗi hướng tiếp cận đều có những ưu điểm khác nhau Đối với công trình nghiên cứu mâu thuẫn trong gia đình theo hướng nghiên cứu định lượng giúp đề tài dễ dàng chỉ ra thực trạng nổi cộm trong mâu thuẫn giữa vợ và chồng trên diện rộng Bên cạnh đó, dữ liệu định lượng
Trang 23giúp đề tài chỉ ra khá chính xác các yếu tố hình thành mâu thuẫn giữa vợ và chồng Chính tác giả của công trình này khẳng định, “việc sử dụng số liệu từ ba cuộc điều tra chọn mẫu có cùng câu hỏi nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau cho phép đánh giá độ tin cậy của số liệu.” (Vũ Tuấn Huy, 2003: 29) Những thông tin thu thập cũng khái quát được thực trạng của cộng đồng Nhiều vấn đề được nhận thấy thông qua số liệu thống kê lấy được Tuy nhiên, hạn chế của hướng
đi này là không thể hiện được mức độ nghiêm trọng của những mâu thuẫn xảy ra giữa vợ và chồng Ngoài ra, tiếp cận vấn đề theo hướng định lượng khó phản ánh chính xác những nguyên nhân tiềm ẩn phía sau xung đột trong gia đình
Dù vấn đề khám phá không đại diện cho cả cộng đồng, nhưng nhóm tác giả lựa chọn hướng tiếp cận định tính vì muốn đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn cùng thái độ của cộng đồng đối với vấn đề này Vì vậy, đề tài của tác giả Vũ Tuấn Huy có thể đáp ứng việc chỉ ra xu hướng mâu thuẫn từ trong gia đình diễn ra như thế nào, nhưng không khám phá được những nguyên nhân ẩn sau tình trạng đó Phương pháp thu thập tư liệu sẵn có giúp nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tâm không chỉ xác định xu hướng ly hôn theo từng giai đoạn thời gian, mà còn theo từng địa phương cụ thể Điều này giúp họ xác định chính xác xu hướng ly hôn của khách thể nghiên cứu Đối với phương pháp định tính, nhóm tác giả đã tận dụng mọi cơ hội để có thể tiếp xúc với khách thể nghiên cứu để phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Sự mở rộng về khách thể nghiên cứu giúp cho nghiên cứu này trở nên chính xác và hiệu quả hơn Nhưng điểm hạn chế của đề tài ly hôn của tác giả Nguyễn Thanh Tâm là nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội về ly hôn nên hầu hết đều không phỏng vấn được cả chồng và vợ vì đã không còn sống chung với nhau nên không còn liên lạc Những trường hợp này chỉ nghiên cứu được cả vợ và chồng thông qua tài liệu của Sở Tư Pháp Điều này dẫn đến việc thu thập thông tin có phần thiếu chính xác
và khách quan Thông tin một chiều dễ gây ngộ nhận và chênh lệch trong việc thống kê, tổng hợp, xử lý thông tin đối với nhà nghiên cứu
Tóm lại, qua việc tổng quan một số các đề tài nghiên cứu về vấn đề ly hôn và mối liên hệ đối với niềm tin tôn giáo, đời sống tâm linh trong gia đình, tác giả rút ra một số nhận định như sau:
Về mặt phương pháp, các nghiên cứu về những mâu thuẫn giữa vợ và chồng đã tiếp cận được theo cả hai hướng: nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Với hướng tiếp cận định lượng, các nghiên cứu nhanh chóng chỉ ra tần suất xảy ra xung đột giữa vợ và chồng Thêm vào đó, dữ liệu nghiên cứu định tính góp phần chỉ rõ mức độ nghiêm trọng trong các cuộc xung
Trang 24đột xảy ra giữa vợ chồng với nhau Nhìn chung, hầu hết các đề tài đều lượng hóa được những nguyên nhân chính tác động đến đời sống gia đình khiến vợ chồng quyết định ly hôn
Bên cạnh những điều đã đạt được trong nghiên cứu, có một số hạn chế có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của đề tài Điển hình như vấn đề, có sự khác biệt về vùng miền nào hay không trong nguyên nhân khiến cho vợ chồng quyết định ly hôn là luận điểm chưa được các nghiên cứu đề cập đến Một điểm hạn chế khác nữa trong các đề tài nghiên cứu ly hôn là trở ngại trong việc phỏng vấn sâu được cả người chồng và người vợ Nếu trong nghiên cứu ly hôn chỉ tiếp xúc được chồng hoặc vợ sẽ dễ dẫn đến sai lệch trong kết quả thu được, hoặc kết quả nghiên cứu không có ý nghĩa về mặt khoa học
Về mặt nội dung, phần lớn những nghiên cứu vấn đề ly hôn hiện tại tập trung chủ yếu vào chất lượng đời sống gia đình sau ly hôn hoặc những tác động của quyết định ly hôn đối với các thành viên trong gia đình Hơn nữa, các bài báo đã công bố và công trình nghiên cứu ly hôn một cách độc lập vẫn còn hạn chế Điều này dễ dàng khiến cho người nghiên cứu gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu tổng quan và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó Tác giả Phạm Thị Huệ nhấn mạnh điểm hạn chế này, “tới năm 2010, chỉ có 22 bài viết liên quan đến
ly hôn trong tổng số 550 bài viết về hôn nhân-gia đình đăng trên các tạp chí khoa học xã hội” Hơn thế nữa, “cơ sở dữ liệu của Thư viện Quốc gia cho thấy đến năm 2013, mới chỉ có hai công trình nghiên cứu về ly hôn được xuất bản dưới dạng sách” (Phạm Thị Huệ, 2014:4)
Chính vì vậy, các nghiên cứu đào sâu tìm hiểu những yếu tố tác động lên gia đình dẫn đến quyết định ly hôn vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được đề cập đến Trong đó, tiến trình dẫn đến quyết định ly hôn chịu sự ràng buộc bởi thiết chế tôn giáo thường ít được quan tâm Trong những nghiên cứu về ly hôn được tác giả tìm thấy, chỉ có tác phẩm của một tác giả nước ngoài là có nêu sự ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa đến tỷ lệ ly hôn Và một tác phẩm khác là công trình nghiên cứu của tác giả Mai Thị Ráng cũng mới chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của giáo lý hôn nhân đối với gia đình Công giáo khi xảy ra xung đột Tuy nhiên, nếu xét vấn đề tương tự đối với các gia đình theo đạo Tin Lành đã chia tách, tác giả nhận thấy rằng hầu như chưa có công trình
cụ thể nào nghiên cứu Điều tất yếu của vấn đề này là sự thiếu vắng của những nghiên cứu đánh giá vai trò của đời sống tâm linh đối với vợ chồng khi đối diện với quyết định ly hôn
Nhìn chung, các nghiên cứu về gia đình, về những mâu thuẫn giữa vợ và chồng được trình bày phía trên với các phương pháp và cách tiếp cận khác nhau đã phác thảo nên một bức tranh phong phú về sự thay đổi về quan niệm ly hôn và quá trình dẫn đến quyết định ly hôn dưới nhiều góc độ khác nhau Là cơ sở để tác giả tham khảo, vận dụng vào nghiên cứu của mình nhằm tìm
Trang 25ra cái mới, cái đặc trưng ở một góc nhìn khác, góp phần thể hiện bức tranh toàn cảnh về tình hình ly hôn dưới góc độ tôn giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay Cái mới có thể là những nguyên nhân tiềm ẩn phía sau những quyết định ly hôn đơn thuần do xung đột về bạo lực hoặc nếp sinh hoạt Ngoài ra, những điểm mới cũng có thể liên quan đến sự chi phối của niềm tin tôn giáo trong tiến trình đi đến quyết định ly hôn, cách thức người trong cuộc lệ thuộc vào sinh hoạt tôn giáo nhằm cứu vãn hôn nhân của họ
1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Cách tiếp cận theo quan điểm hiện tượng luận (phenomenology)
Vì đề tài khảo sát tiến trình dẫn đến quyết định ly hôn của các cá nhân theo đạo Tin Lành nên tác giả sẽ tiếp cận vấn đề theo quan điểm hiện tượng luận Theo hai tác giả Peter L Berger
và Thomas Luckmann, tiếp cận theo hướng hiện tượng luận bao hàm việc nhận thức “lô-gic không nằm trong các định chế và các chức năng ngoại tại của chúng mà nằm trong cách thức
mà chúng được luận giải khi người ta phản tư về chúng.” (Peter L Berger và Thomas Luckmann, 2015: 99) Bản chất của sự vật, hiện tượng cần được giải nghĩa trong chính bối cảnh của chúng Khi đó, giải nghĩa sự vật, hiện tượng là mô tả những gì xuất hiện được con người trực tiếp chứng kiến, cảm nhận, trải nghiệm mà không phải thông qua con đường trung gian, bắc cầu
Hai tác giả Peter L Berger và Thomas Luckmann cũng cho rằng, “sự lãnh hội các hiện tượng của con người như thể chúng là đồ vật, tức là, theo nghĩa nằm ngoài con người hay cũng có thể nằm bên trên con người.” (Peter L Berger và Thomas Luckmann, 2015: 134) Điều này mang ý nghĩa, sự lãnh hội các sự vật, hiện tượng phải được thực hiện như đối với một kiện tính xa lạ, hay đối với bản chất của chính sự kiện hay hiện tượng đó Nói cách khác, đối tượng của quan điểm này là kinh nghiệm và ý thức xuất hiện từ trong chính bản thân hiện tượng, có nghĩa là nắm bắt được ngay trong một hành vi thị kiến Vì vậy, phương pháp nghiên cứu theo quan điểm này nghĩa là tìm kiếm thông tin dựa trên, “những gì được đưa ra và minh giải dữ kiện này; nó không cắt nghĩa bằng vào các luật tắc cũng không diễn dịch từ bất cứ nguyên tắc nào” (I.M.Bonchenski, 1969: 215-252) Cụ thể hơn, quan điểm hiện tượng luận được lý giải là "cái
mà nó cho thấy bằng chính bản thân nó nhìn đúng vào bản chất của vấn đề hoặc con người như
tự bản thân nó có, chứ không bóp méo lệch lạc theo nhãn quan riêng." (Nhân học, 2008: 149) Nhìn chung, hướng đi này giúp cho con người không rơi vào một quan niệm phi biện chứng về mối liên hệ giữa điều mà con người làm với điều mà họ nghĩ (Peter L Berger và Thomas Luckmann, 2015: 138)
Trang 26Tiếp cận theo hướng hiện tượng luận còn là, “tìm cách mô tả trải nghiệm của cá nhân không phụ thuộc vào bất kỳ phạm vi lý thuyết hay xã hội nào; đồng thời, cố gắng hiểu tầm quan trọng của hoạt động của con người như là một cá nhân trải nghiệm nó.” (Robert Brewer, 2007) Quan điểm này giúp tác giả xem chủ thể nghiên cứu là trung tâm, khảo sát thu thập thông tin bằng cách tập trung lắng nghe câu chuyện gia đình và kinh nghiệm đến từ chính mỗi cá nhân tín hữu Tin Lành thông qua phỏng vấn sâu Sau khi tổng hợp và phân tích dữ liệu thu thập được, tác giả
cố gắng thể hiện lại những kinh nghiệm đó một cách chính xác nhất, góp phần tìm hiểu những yếu tố tác động đến cá nhân trong tiến trình đưa ra quyết định ly hôn từ chính những câu chuyện của mỗi người, không phải bằng quan điểm hay nhận xét có từ trước
Bên cạnh đó, tiếp cận hướng hiện tượng luận cũng giúp cho tác giả lột tả ý nghĩa ẩn dưới những trải nghiệm của các tín hữu Tin Lành đã trải qua tiến trình ly hôn, nhằm mục đích đánh giá khách quan hơn và sâu hơn về mức độ chi phối của giáo lý hôn nhân và giáo hội Tin Lành đối với các cá nhân trong tiến trình đưa ra quyết định ly hôn Cách tiếp cận này cho phép tác giả tìm thấy thông tin do chính khách thể đưa ra trong những nhận xét, kinh nghiệm và phản ánh từ thực tế đã diễn ra với quan điểm "càng ít bình luận và đánh giá càng tốt" (Nhân học, 2008: 149)
Tách cặp là một quá trình nhưng bắt đầu cách không chủ đích Vợ hoặc chồng được xem là
“người khởi xướng” (initiator) Bắt đầu của người khởi xướng là sự không hài lòng về quan hệ giữa vợ và chồng nhưng chỉ giữ cho riêng họ, chưa bộc lộ ra đối với người bạn đời của mình Đầu tiên, họ sẽ cố gắng giúp đỡ chồng hoặc vợ của mình để tình trạng không hài lòng được cải thiện Họ sẽ, “cố sửa những sai sót hằng ngày với hy vọng bạn tình sẽ trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn.”4 Nan đề sẽ bắt đầu xảy ra khi người bạn đời không muốn thay đổi theo mong muốn của người khởi xướng, vì “không thể xảy ra sự thay đổi trừ khi cả hai quan niệm giống nhau”5
4 Trích lại ý của tác giả Diane Vaughan trong tác phẩm “Uncoupling: turning points in initimate
relationships” được lược dịch trong bài đánh giá về lý thuyết ly hôn của tác giả Mai Huy Bích
5 Nt
Trang 27Mâu thuẫn bắt đầu ngày càng trở nên nghiêm trọng, sâu sắc và nặng nề hơn giữa vợ chồng vì người khởi xướng “ngày càng tập trung vào những sai sót mà giảm tối thiểu những mặt được” Giai đoạn xung đột thực sự bắt đầu khi người khởi xướng sau một thời gian dài mâu thuẫn với người bạn đời, không được thỏa mãn những mong đợi người kia thay đổi Người khởi xướng
sẽ “ly thân về xã hội” bằng cách bắt đầu xây dựng lối sống mới, có người mới nhưng hoàn toàn trong sự bí mật tuyệt đối Trong giai đoạn này, dù cả vợ và chồng đều biết rõ những xung đột, bất mãn đang hiện diện giữa hai người nhưng họ luôn cố che giấu hoặc tránh né để cả hai phải đối diện trực tiếp với tình trạng này Tuy nhiên, bên cạnh việc che giấu những xung đột nghiêm trọng thì vợ và chồng lại cãi nhau, gây gổ về những vấn đề rất nhỏ nhặt, vụn vặt trong gia đình Giai đoạn cuối là giai đoạn “người khởi xướng thực sự cân nhắc việc phá vỡ hôn nhân và thảo luận việc đó với người khác, so sánh nhiều điều” Họ suy xét rất nhiều về quyết định nếu phải ly hôn Người khởi xướng xem xét cái giá phải trả (costs) nếu họ đi đến quyết định này Thông thường, người khởi xướng sẽ cố gắng thử lại một lần nữa đối với bạn tình của mình với
hy vọng có sự thay đổi từ người đó, tránh khỏi việc phải đi đến quyết định ly hôn Tuy nhiên, khi không nhận được sự hưởng ứng tích cực nào từ người bạn đời, người khởi xướng cho rằng
đó là tình trạng không thể cứu vãn được nữa (unsaveable) Cũng theo Diane Vaughan, có nhiều con đường để một người có thể chấm dứt mối liên hệ vợ chồng Hoặc là họ nói thẳng với người bạn đời của mình, hoặc là họ phá bỏ những nguyên tắc căn bản của hôn nhân gia đình thông qua việc ngoại tình Trong lúc này, người khởi xướng luôn cho rằng, lợi ích của họ phải được ưu tiên hơn lợi ích chung của cả vợ và chồng
Quá trình tách cặp này được D.Vaughan nghiên cứu và kết luận, không hề có một sự khác biệt nào trong tiến trình này giữa các cặp kết hôn chính thức hay không, đồng tính hoặc khác tính luyến ái, thuộc bất kỳ giai cấp nào,…Tuy nhiên, có thể có sự đảo ngược trở lại, đó là người khởi xướng muốn cứu vãn lại cuộc hôn nhân trong khi người kia lại muốn quyết tâm chấm dứt mối liên hệ vợ chồng.6
Lý thuyết tách cặp của nhà nghiên cứu Diane Vaughan đã gợi ý cho tác giả hướng thu thập thông tin từ những tín hữu Tin Lành đã ly hôn, đặt nền tảng cho cách thức nêu ra câu hỏi nghiên cứu Đồng thời, lý thuyết này hướng tác giả đi sâu vào tìm hiểu tiến trình dẫn đến quyết định ly hôn của tín hữu đạo Tin Lành thông qua ba giai đoạn chính Trong giai đoạn tiền hôn nhân, tác giả tìm hiểu những đặc trưng trong mối liên hệ tình cảm giữa các cặp đôi tín hữu Tin Lành Ở
6 Nt
Trang 28giai đoạn sống chung, tác giả sẽ thu thập thông tin từ lúc mâu thuẫn bắt đầu hình thành cho đến giai đoạn trở thành xung đột sâu sắc Đồng thời, đề tài cũng tìm hiểu cách thức đối diện và xử
lý xung đột của người trong cuộc trước khi chuyển qua giai đoạn cuối cùng khi hai cá nhân tín hữu đưa ra quyết định ly hôn
1.2.3 Lý thuyết duy lý hóa (Rationalization)
Đề tài nghiên cứu này sử dụng lý thuyết duy lý hóa để tiếp cận vấn đề ly hôn của các cá nhân theo đạo Tin Lành Suy nghĩ về vấn đề này, hai dịch giả Trần Hữu Quang và Bùi Văn Nam Sơn đã có lời giới thiệu về tác phẩm “Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản” của nhà xã hội học Max Weber như sau:
Lý tính hóa theo nghĩa rộng nhất là sắp đặt có trật tự, có hệ thống theo những tiêu chuẩn của con người Nó không chỉ tác động đến lĩnh vực kinh tế, pháp quyền, khoa học, kỹ thuật, tổ chức nhà nước, tức "tổ chức bên ngoài của thế giới" mà cả các lĩnh vực vốn thuộc về cái gì "phi lý tính", "hỗn độn", "vô trật tự" như tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, văn hóa, tình dục, tức các lĩnh vực điều tiết "bên trong của thế giới" (Max Weber, 2010: 43)
Bên cạnh đó, Talcott Parsons khi nói về tư duy lý tính thì đề cập đó "là một tâm thế mở luôn hướng đến những cách giải quyết vấn đề mới, đối lập với óc thủ cựu" (Max Weber, 2010: 26) Quan điểm của thuyết duy lý hóa cho rằng, "thế giới trở nên một nơi ngày càng kém sự say mê, thần bí hoặc linh thiêng: về nguyên tắc có thể làm chủ mọi vật bằng sự tính toán, bằng lý trí" (Tony Bilton và các tác giả, 1987: 373) Điều này mang ý nghĩa, cá nhân sẽ nỗ lực vận dụng tri thức nhiều hơn là kinh nghiệm bản thân trong khi tư duy và hành động đối với thế giới xung
quanh Kết quả đạt được tốt nhất là mục tiêu của cá nhân khi đưa ra quyết định theo hướng duy
lý John Elster khi nói về lựa chọn duy lý hóa của cá nhân, ông nhận định: "Khi đối diện với một
số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất" (Lê Ngọc Hùng, 2011: 355)
Lý thuyết duy lý hóa giúp tác giả định hướng trong nghiên cứu tiến trình đưa ra quyết định
ly hôn trong tương quan đối với niềm tin của người tín hữu đạo Tin Lành Theo quan điểm truyền thống, người tín hữu Tin Lành chịu ảnh hưởng trực tiếp trong những vấn đề liên quan đến niềm tin tôn giáo, như giáo lý, Kinh Thánh, quy định của Hội Thánh Những điều này dẫn họ đến cách thực hành tôn giáo như hiện có Những định hướng trong cuộc đời, những quyết định trong đời sống thường ngày luôn ở dưới sự chi phối của Kinh Thánh và cộng đồng tín hữu Tin Lành
Trang 29Nếp sống đạo được hình thành theo những gì được học biết từ trong Kinh Thánh và được dạy
dỗ cho mỗi tín hữu từ khi còn nhỏ
Tuy nhiên trong thực tế, tác giả nhận thấy có sự mâu thuẫn giữa giáo lý cùng niềm tin đối với đời sống thường ngày của người tín hữu, cụ thể là những lựa chọn mang tính cá nhân xuất phát từ trong những tình huống đời thường Sự mâu thuẫn này đặc biệt nổi bật hơn khi xem xét gia đình người tín hữu trong giai đoạn xung đột xảy ra mạnh mẽ Điều này dẫn đến sự cấp thiết của việc nghiên cứu những yếu tố thực tế trong đời sống gia đình tín hữu Tin Lành có đang lấn
át niềm tin tôn giáo của họ Quan điểm duy lý hóa cũng gợi ý cho tác giả khai thác sâu hơn những yếu tố chi phối đến quyết định ly hôn của người tín hữu Qua đó, tác giả mong muốn đánh giá mức độ đấu tranh giữa niềm tin tôn giáo, giá trị văn hóa truyền thống đối với những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thường ngày trong gia đình tín hữu Tin Lành
1.2.4 Lý thuyết thế tục hóa (Secularization)
Một trong những lý thuyết khác được sử dụng nhằm khám phá vấn đề nghiên cứu là lý thuyết thế tục hóa Lý thuyết về vấn đề thế tục hóa được đặt trên nền tảng phát triển từ một số vấn đề của giáo hội công giáo trước đây Sau đó, định nghĩa về thế tục hóa dần dần được hoàn thiện hơn Ba cấp độ của lý thuyết này được xây dựng thông qua ba cấp độ: cá nhân, tổ chức (định chế) và xã hội Ở cấp độ xã hội, tôn giáo từ một hệ thống bao trùm tất cả trở nên một tiểu hệ thống trong xã hội Với cấp độ tổ chức và định chế thường được gọi với tên "thế tục hóa nội tại", quá trình thế tục hóa cho rằng ảnh hưởng của thiết chế tôn giáo đã giảm đi do ảnh hưởng của đời sống xã hội Cuối cùng trong cấp độ cá nhân, quá trình thế tục hóa biểu hiện ở việc người theo đạo giảm sút trong việc thực hành tôn giáo và niềm tin truyền thống (Nguyễn Xuân Nghĩa, 1996: 8-12)
Ngoài ra, có thể tham khảo định nghĩa của Peter Berger về thế tục hóa, đó là "quá trình qua
đó xã hội và văn hóa thoát khỏi sự thống trị của định chế và biểu tượng tôn giáo." (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003: 27) Ông cũng có một định nghĩa khác về thế tục hóa Đó cũng là "sự mất mát ý nghĩa tổng thể của các dấu hiệu và biểu trưng tôn giáo trong một thế giới bị tính hợp lý của khoa học và kỹ thuật thống trị" (Olivier Bobinneau, 2007: 84) Hoặc theo John J Macionis thì đây là
"quá trình thay đổi gay go trong đó sự giảm sút ở một số khía cạnh tôn giáo có thể đi kèm với
sự gia tăng một số khía cạnh khác" (John J Macionis, 1987:549) Một số người khác theo trường phái định nghĩa duy danh thì thẳng thắn nhận định, thế tục hóa là "sự chấm dứt của tôn giáo, hay
ít ra có nghĩa là tôn giáo bị đẩy ra ngoài rìa" (Olivier Bobinneau, 2007: 86)
Trang 30Một nhận xét được đưa ra để khái quát vấn đề thế tục hóa, như "người ta thấy có ý niệm về
sự suy yếu càng ngày càng tăng lên của tôn giáo trước sự hiện đại hóa của xã hội." (Olivier Bobinneau, 2007: 77) Lý thuyết về thế tục hóa thể hiện trong việc những thiết chế tôn giáo trong quá khứ đã không còn khả năng áp đặt những quy tắc, chuẩn mực cho toàn bộ xã hội đang phát triển Phạm vi này đã và đang thu hẹp dần trước sự chuyên môn hóa của từng lĩnh vực khác nhau Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa cũng có quan điểm tương tự khi sử dụng thuật ngữ "trường lực tôn giáo" của P Bourdieu để nói về lý thuyết thế tục hóa khi tôn giáo chỉ còn là một hệ thống
có "vốn liếng riêng những lợi ích và những viễn tượng riêng." (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003:27) Một nhà nghiên cứu khác đã dựa trên luận điểm của Max Weber để bổ sung những đặc điểm về
lý thuyết thế tục hóa như sau:
Tôn giáo ngừng cung cấp cho cá nhân và nhóm toàn bộ những mẫu tham chiếu, những quy chuẩn, giá trị và biểu tượng cho phép họ đưa ra ý nghĩa cho các tình huống mà họ sống và cho các kinh nghiệm mà họ tạo lập: tôn giáo không còn là bộ luật với nghĩa toàn diện áp đặt cho tất cả mọi người.7
Như vậy, tác giả luận văn cho rằng thế tục hóa là tiến trình giảm dần sự chi phối của niềm tin nơi Đấng Tối Cao trong đời sống người tín hữu Tiến trình này cho thấy sự thay đổi trọng tâm của đời sống là Đấng Tối Cao và nếp sống xây dựng niềm tin nơi Đấng đó chuyển sang ưu tiên quan tâm những đối tượng, vấn đề khác trong đời sống người tín hữu Ảnh hưởng toàn diện của niềm tin nơi Thượng Đế trong đời sống giảm dần
Đặt vấn đề ly hôn của tín hữu Tin Lành trong lý thuyết thế tục hóa dựa trên luận điểm chính của Max Weber và một số định nghĩa khác sẽ đánh giá được mức độ chi phối của niềm tin tôn giáo và việc thực hành tôn giáo trong đời sống hôn nhân Khi xem xét vấn đề theo hướng này, niềm tin tôn giáo của người tín hữu chỉ còn là lòng tin vào một Thượng Đế, Ông Trời Mối liên
hệ giữa niềm tin và nếp sống không còn chi phối lẫn nhau như trước Nếp sống đạo của người tín hữu xuôi theo xu hướng chung của số đông hoặc chịu tác động trực tiếp bởi sự thay đổi từ chính cộng đồng, xã hội nơi người tín hữu đang sống Khía cạnh niềm tin vào một Đấng Tối Cao
là Đức Chúa Trời không còn là tác nhân chính chi phối đến đời sống của cá nhân đó Những quyết định từ trong đời sống cá nhân cho đến trong gia đình bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh dần bởi nhiều yếu tố xã hội khác nhau như kinh tế, văn hóa, tâm lý, giáo dục,…Song song đó, ảnh
7 Trích lại của Daniele Hervieu-Léger, "Tôn giáo các nước Châu Âu: tính hiện đại, tôn giáo, sự thế tục hóa", trong G Davie và D Hervieu-Leger (chủ biên), tr.13
Trang 31hưởng của Hội thánh Tin Lành cũng giảm sút hơn so với trước đó, cùng lúc với sự gia tăng ảnh hưởng bởi những thiết chế khác trong xã hội "Cá nhân càng ngày càng khẳng định sự độc lập đối với lập trường của các chức sắc giáo hội." (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003: 28) Những quy chuẩn trong niềm tin Cơ Đốc về hôn nhân, gia đình không còn là chuẩn mực để người trong cuộc lý giải và đưa ra quyết định Khoảng cách giữa niềm tin nơi Đức Chúa Trời và những quyết định trong đời sống hôn nhân ngày càng lớn hơn Vì vậy, kết hợp giữa sự lấn át của những quyết định duy lý theo quan điểm duy lý hóa cùng với sự giảm sút trong niềm tin và nếp sống đạo theo quan điểm thế tục hóa giúp tác giả khám phá những yếu tố then chốt thúc đẩy quyết định ly hôn của tín hữu Tin Lành
1.2.5 Sự giao thoa của các hướng tiếp cận và quan điểm của tác giả luận văn
Lý thuyết áp dụng là một trong những vấn đề gặp phải của hầu hết các nghiên cứu về ly hôn Hầu hết những lý thuyết được ứng dụng chỉ xoay quanh các lý thuyết vĩ mô, như lý thuyết xung đột, trao đổi, hành động xã hội,…Sự thiếu vắng các lý thuyết nghiên cứu đặc trưng về vấn đề ly hôn trong bối cảnh xã hội tại Việt Nam khiến cho kết quả nghiên cứu ly hôn vẫn chưa mang tính đặc thù hoặc chưa phản ánh đặc trưng của hiện tượng ly hôn ở Việt Nam
Với những lý do đó, tiếp cận vấn đề ly hôn theo quan điểm hiện tượng luận nhằm giúp cho tác giả tiếp xúc trực tiếp những kinh nghiệm, câu chuyện của người trong cuộc Từ những chia
sẻ này, tác giả luận văn có thể bắt đầu tiến trình tìm hiểu diễn biến bên trong gia đình của những tín hữu Tin Lành đã ly hôn Theo đó, những phân tích sẽ dựa trên những câu chuyện và những trảỉ nghiệm của người trong cuộc để phát hiện vấn đề chứ không sử dụng các dữ kiện để chứng minh cho những giả thuyết ban đầu với mục tiêu kiểm định chúng Vì vậy, phương pháp phỏng vấn sâu sẽ được sử dụng chủ yếu
Về mặt nội dung, lý thuyết duy lý hóa và thế tục hóa định hướng cho tác giả nghiên cứu những yếu tố nào trực tiếp tác động đến tiến trình dẫn đến quyết định ly hôn của người tín hữu Qua đó, tác giả có thể đánh giá được có mâu thuẫn hay không đối với người trong cuộc giữa những quyết định thường ngày trong đời sống gia đình và niềm tin nơi sự tể trị của Thiên Chúa, những chuẩn mực giá trị niềm tin của người Cơ Đốc Do đó, những cơ sở này hỗ trợ tác giả xem xét những yếu tố xã hội nào đã chi phối đến gia đình người tín hữu Tin Lành khiến cho thiết chế tôn giáo không còn giữ được những ảnh hưởng từng có trước đây Đặc biệt, những điều này thúc đẩy tác giả tìm ra những lý giải của người trong cuộc liên quan đến các tác động từ xã hội cho quyết định ly hôn của họ khi biết rằng điều đó đi ngược với niềm tin và quy định của Hội Thánh
Trang 32Vì vậy, những cơ sở của lý thuyết duy lý hóa và thế tục hóa sẽ được kết hợp để khai thác thông tin trong ba giai đoạn theo lý thuyết tách cặp của Diane Vaughan Đó là giai đoạn tiền hôn nhân, giai đoạn sống chung và giai đoạn tách cặp Cụ thể, tiến trình tác giả luận văn thu thập thông tin từ tín hữu Tin Lành và tổng hợp, phân tích thông tin sẽ dựa theo ba giai đoạn này Những câu hỏi được đặt ra trong quá trình phỏng vấn sâu sẽ tập trung khai thác những sự kiện xảy ra trước và sau khi kết hôn, cùng với những dấu hiệu bất ổn trong hôn nhân trước khi quyết định ly hôn Do đó, lý thuyết tách cặp sẽ là nền tảng chính phần phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu
1.3 Những khái niệm chính
• Ly hôn
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ly hôn để nói lên ý nghĩa thật của sự kiện này Vì ly hôn không chỉ đơn thuần là việc chấm dứt ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau giữa vợ và chồng trước pháp luật mà còn là việc chấm dứt một mối liên hệ giữa con người với nhau, dẹp bỏ mọi ràng buộc nhau về mặt địa lý, tâm lý và xã hội Ly hôn được xem như cột mốc đánh dấu sự trở lại của đời sống trước kết hôn, giúp giải phóng cả hai khỏi những ràng buộc tâm lý, xã hội, tìm lại được ý nghĩa của đời sống Kể cả định nghĩa về ly hôn trong từ điển xã hội học Oxford cũng đề cập đến khía cạnh xã hội bên cạnh khía cạnh pháp lý “Ly hôn là sự hủy bỏ chính thức về mặt pháp lý một cuộc hôn nhân theo luật pháp” (Oxford, 2012: 281) Định nghĩa này còn giải thích thêm rằng, “Những điều kiện cần thiết để chấm dứt một cuộc hôn nhân bằng cách ly hôn là rất khác nhau tùy theo nền văn hóa và theo thời gian” (Oxford, 2012: 281) Hơn nữa, “ly hôn ngày càng trở thành điểm kết thúc đơn thuần của những giai đoạn ly thân kéo dài giữa hai bên, nó làm cho thủ tục pháp lý ngày càng ít ý nghĩa hơn.” (Oxford, 2012: 281) Về mặt lịch sử, “ly hôn là một hiện tượng đi đôi với hôn nhân tự do và thể hiện một bước tiến của sự bình đẳng về giới trong gia đình” (Trần Thị Kim Xuyến, 2001: 72) Trong một góc nhìn khác bổ sung cho góc nhìn trong xã hội hiện đại, nhà xã hội học Mỹ Diane Vaughan và các cộng sự đã cho rằng, ly hôn còn
là “một quá trình bắt đầu trong bí mật nhưng dần dần trở nên công khai, không chỉ liên quan đến cặp vợ chồng mà còn đến cả môi trường xã hội của họ.” (Phạm Thị Huệ, 2014: 4-5) Định nghĩa tổng quát về ly hôn được phát biểu như sau:
Trang 33Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác.8
Vì vậy, hiểu một cách tổng quát và chung nhất, ly hôn là sự chấm dứt mối liên hệ trong hôn nhân giữa hai người trước đó được gọi là chồng và vợ Cả hai sẽ không còn trách nhiệm về nhau trước pháp luật Điều này cũng được quy định rất rõ ràng theo khoản 14, điều 3 của Luật Hôn nhân Gia đình ở nước ta năm 2014 “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.”
Tuy nhiên trong thực tế, ly hôn là một quá trình chứ không chỉ đơn thuần là sự chấm dứt của mối quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý Với nhiều cặp vợ chồng, ly hôn đã thực sự diễn ra ngay khi cả hai còn sống chung trong gia đình trước cả khi tòa án có quyết định Vì vậy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, ly hôn là một tiến trình mà điểm khởi đầu được tính từ thời điểm hôn nhân giữa vợ và chồng đã “chết” dựa trên những “cột mốc” báo hiệu sự chấm dứt của tình cảm, kinh tế, nuôi dạy con cái và sinh hoạt gia đình giữa hai cá nhân này Định nghĩa này sẽ định hướng cho tác giả cần phải tìm kiếm những bằng chứng cho thấy thời điểm kết thúc thực sự trong hôn nhân của tín hữu Tin Lành Qua đó, luận văn có thể chỉ ra những yếu tố xã hội nào ảnh hưởng trực tiếp đến thời điểm này
• Niềm tin tôn giáo
Vì đề tài liên quan đến đạo Tin Lành nên một trong những khái niệm quan trọng cần được làm rõ trong đề tài này là niềm tin tôn giáo Theo những tài liệu về xã hội học tôn giáo, có nhiều cách tiếp cận đối với vấn đề niềm tin tôn giáo Trong giới hạn của đề tài này, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm niềm tin tôn giáo theo quan điểm xã hội học của Thomas Hobbes, ông quan niệm niềm tin tôn giáo là
"Tấm lòng thành" trong quan hệ đối với Thượng Đế Các con tin luôn gắng sức tuân phục theo lời thánh thần dạy bảo, họ tán dương, ca tụng Ngài khi gặp điềm lành và cầu xin sự giúp đỡ, cưu mang khi lâm vào tình trạng khổ đau, hoạn nạn, (Lê Công Sự, 2009: 8)
Theo hai nhà nghiên cứu Sabio Acquaviva và Enzo Pace khi nói về niềm tin tôn giáo, đó là
"việc thừa nhận một sự phục tùng, một sự giới hạn và một sự bất lực của con người đối với một thực thể tỏ ra hùng mạnh, đầy ánh sáng và chân lý" (Phan Thuận, 2011: 32) Vì vậy, định nghĩa
8 Trích theo “Từ điển bách khoa toàn thư”, nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Ly_h%C3%B4n
Trang 34của hai tác giả Sabio Acquaviva và Enzo Pace cùng định nghĩa của Thomas Hobbes đều chỉ ra được sự chi phối của niềm tin tôn giáo nơi con người đối với một thế lực tối cao, cụ thể ở đây là Thượng Đế Chính niềm tin này ảnh hưởng đến đời sống của mỗi cá nhân tín đồ, định hướng hoạt động thường ngày, chi phối những quyết định trong cuộc sống ở nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau Trong một quan điểm tương tự, tác giả Vũ Dũng nhận định niềm tin tôn giáo là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên và thần thánh Niềm tin này ảnh hưởng thực tế đến những người theo tôn giáo từ nhận thức, tình cảm cho đến hành vi của họ (Vũ Dũng, 2001: 28) Tóm lại, trong phạm vi của đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm niềm tin tôn giáo để chỉ về niềm tin của con người đối với một thế lực siêu nhiên Cụ thể hơn, đó là niềm tin của tín đồ Tin Lành về sự tể trị của Thượng Đế trong đời sống, xem đó là tác nhân chính cho mọi hoạt động, sinh hoạt của đời sống Niềm tin này bị chi phối bởi nhận thức của cá nhân, hoạt động tôn giáo
và ảnh hưởng của cộng đoàn tín hữu Tin Lành Đặc biệt, tác giả đặc biệt tập trung vào niềm tin tôn giáo của tín hữu đạo Tin Lành trong khía cạnh tình yêu, hôn nhân và gia đình Tại góc độ này, niềm tin được đánh giá là chi phối đến mọi quyết định của những cá nhân trong cuộc từ khi
họ bắt đầu tìm kiếm, chọn lựa người phối ngẫu cho đến khi kết hôn Hơn nữa, niềm tin này còn dựa trên ý thức Thiên Chúa là Đấng thiết lập hôn nhân, làm Chủ trong mỗi gia đình, và đánh giá mỗi tín hữu qua nếp sống với các thành viên trong gia đình Vì vậy, khi đề cập đến niềm tin tôn giáo của tín hữu Tin Lành, yếu tố này không chỉ được tác giả luận văn xem như một yếu tố tâm linh chịu ảnh hưởng một chiều bởi gia đình Nhưng niềm tin tôn giáo còn là yếu tố chi phối ngược lại đến nhận thức và mọi quyết định trong đời sống gia đình của tín hữu Tin Lành
• Thực hành tôn giáo
Một khái niệm khác cần được đề cập đến trong lĩnh vực này là khái niệm về việc thực hành tôn giáo Vì niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo là hai yếu tố có chi phối lẫn nhau Niềm tin tôn giáo được thể hiện trong việc thực hành tôn giáo và ngược lại, thực hành tôn giáo giúp cho việc giữ vững niềm tin tôn giáo Một khái niệm thực hành tôn giáo được đưa ra là,
Một tập hợp những quy định về nghi thức và một tín ngưỡng tôn giáo nào đó, ít hay nhiều thể chế hóa, phải thực hiện để cho việc theo tín ngưỡng đó có thể nhìn thấy và kiểm tra được.9
Theo khái niệm trên, thực hành tôn giáo không chỉ là hoạt động tôn giáo nhưng còn là những sinh hoạt được quy định trong một tôn giáo đối với các tín đồ của tôn giáo đó Những hoạt động
9 Trích theo Vũ Quang Hà, 2002: 173
Trang 35này có tính cố định về mặt tổ chức và hình thức, gắn cá nhân với cộng đồng Củng cố thêm cho luận điểm này, tác giả Gabriel Le Bras cho rằng,
Sự thực hành tôn giáo là một nhân tố giải thích sự đồng nhất của các "tín đồ" với các Giáo hội mà họ đã thuộc vào khi mới đẻ Sự thực hành tôn giáo như vậy được coi là một
mã những giá trị chung, được một cộng đồng lãnh thổ tán thành.10
Dựa trên quan điểm của tác giả Gabriel Le Bras, khái niệm thực hành tôn giáo trong đề tài
này được sử dụng để chỉ về những hoạt động được dạy dỗ từ nhỏ nhằm củng cố và xây dựng niềm tin nơi Thượng Đế của người tín hữu Những hoạt động này có thể bao gồm việc đọc và học Kinh Thánh, đi nhà thờ, gia đình lễ bái, cầu nguyện chung và riêng trong gia đình, hát Thánh
Ca Với người tín hữu Tin Lành, thực hiện những hoạt động này sẽ giúp cho đời sống của họ duy trì mối liên hệ đối với Đức Chúa Trời, giúp họ hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa trên đời sống
Vì lý do này trong giai đoạn tìm kiếm người phối ngẫu, thực hành tôn giáo chắc chắn được xem là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất với những tín hữu Tin Lành Sau khi kết hôn, điều này tiếp tục được đánh giá là chuẩn mực của gia đình Cơ Đốc Nếu như xung đột nảy sinh trong gia đình, thực hành tôn giáo là phương cách giúp cho người tín hữu tìm kiếm giải pháp xử lý tránh khỏi quyết định ly hôn Và khi phải bước đến giai đoạn tách cặp, người tín hữu trong cuộc mong muốn tìm lại sự cân bằng trong đời sống tâm linh và tinh thần qua những sinh hoạt tôn giáo Do đó, thực hành tôn giáo mang lấy những chức năng khác nhau trong mỗi giai đoạn khác nhau
1.4 Đặc điểm của giáo lý về hôn nhân của tín hữu đạo Tin Lành
1.4.1 Nền tảng Thánh Kinh về hôn nhân
Trong vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình Cơ Đốc, quan điểm Thánh Kinh trình bày rõ ràng
và chắn chắn Kinh Thánh đã bày tỏ nhiều lần từ trong Cựu Ước lẫn Tân Ước về quan điểm đối với tình trạng ly hôn diễn ra trong gia đình người tin Chúa
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, từ sách đầu tiên là Sáng Thế Ký trong chương 2 đã ghi rõ chính Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên hôn nhân, gia đình
23 A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra Người nầy
sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có 24 Bởi vậy cho nên người nam
10 Trích theo Vũ Quang Hà, 2002: 177
Trang 36sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt (Kinh Thánh Cựu Ước, 2000:2)
Chính bởi niềm tin rằng, Đức Chúa Trời là Đấng thiết lập nên hôn nhân nên việc chia rẽ, ly hôn là điều không được chấp nhận đối với những người tin Ngài Một phân đoạn khác trong Kinh Thánh sách Ma-la-chi ghi rất rõ ràng thái độ của Đức Chúa Trời khi đối diện với vấn đề ly hôn của dân Y-sơ-ra-ên từ trong quá khứ Kinh Thánh cho biết chính Đức Chúa Trời cảm thấy ghét tình trạng ly hôn của dân sự Sách Ma-la-chi có chép rằng,
Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ 16 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán rằng ta ghét người nào bỏ vợ, và người nào lấy sự hung dữ che áo mình, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy (Kinh Thánh Cựu Ước, 2001:854)
Mặt khác, có một số quan điểm khác trưng dẫn luật pháp của ông Môi-se thời xưa đối với dân tộc Y-sơ-ra-ên để minh chứng cho thấy Đức Chúa Trời cho phép ly hôn Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ rằng, việc cho phép ly dị thời kỳ này nhằm giải phóng người phụ nữ khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ khi người nam có một mối quan hệ với người phụ nữ khác Theo niềm tin thời bấy giờ, điều này giúp cho người nữ bị bỏ rơi không phạm tội tà dâm đối với người nam đã quan
hệ với người khác Đây là một trường hợp ngoại lệ Vì vậy, trong toàn Kinh Thánh Cựu Ước đều đồng một quan điểm là không chấp nhận tình trạng ly hôn Đó là điều trái ngược với điều Thiên Chúa đã quy định khi thiết lập hôn nhân
Tiếp theo, khi xét đến Kinh Thánh Tân Ước, quan điểm về vấn đề ly hôn lại càng được trình bày rõ ràng và minh bạch hơn Chính Đức Chúa Giê-xu đã trả lời trực tiếp cho những người chống đối khi họ chất vấn Ngài về vấn đề con người có được phép ly hôn hay không Chúa Giê-
xu đã nói rằng: "Vì Thượng Đế đã kết hiệp hai người, cho nên không ai được phân rẽ họ." (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 20) Vì vậy, sự chung thủy là điều được ưu tiên hàng đầu đặt ra đối với
cả người chồng và người vợ kể từ lúc đính hôn
Bên cạnh đó, sứ đồ Phao-lô đã luôn nhắc nhở Hội Thánh đối với vấn đề hôn nhân, gia đình, đặc biệt là vấn đề ly hôn Trong sách Cô-rinh-tô thứ nhất khi gửi cho Hội Thánh này, ông đã nhắc nhở mọi tín hữu Cơ Đốc rằng
10 Về những kẻ đã cưới gả rồi, thì tôi, nhưng chẳng phải tôi, bèn là Chúa, truyền rằng vợ không nên lìa bỏ chồng, 11 còn chồng cũng không nên để vợ (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 171)
Trang 37Lời khuyên không mang ý nghĩa dạy dỗ riêng với người nữ, nhưng là lời nhắc nhở dành cho
cả vợ và chồng Rõ ràng, quyết định ly hôn là quyết định không được chấp nhận hay cho phép
Sứ đồ Phao-lô khuyến khích cả hai quay trở lại với nhau khi có thể là một minh chứng mạnh mẽ
để nhấn mạnh về tính bền vững cần có đối với hôn nhân của người Cơ Đốc Bên cạnh đó, lời khuyên không được ly hôn không chỉ dành cho những gia đình cả vợ và chồng đều tin Chúa, mà còn dành cho những gia đình mà chỉ vợ hoặc chồng là tín hữu Cơ Đốc, ông khuyên rằng
12 Đến như những kẻ khác, chẳng phải Chúa, song là chính tôi bảo họ rằng: Nếu người anh em nào có vợ ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì không nên để bỏ 13 Lại nếu một người đàn bà có chồng ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì vợ cũng không nên lìa chồng (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 171)
Vì thế, trong hệ thống giá trị của người Cơ Đốc thì hôn nhân đứng tại một vị trí vô cùng quan trọng Ly hôn là điều chắc chắn không được chấp nhận, cho phép hay khuyến khích Niềm tin này đến từ sự thiết lập hôn nhân là bởi chính Thượng Đế và nhiều lần được nhiều người khẳng định lại từ trong Thánh Kinh cho thấy tầm quan trọng của điều đó
Một số chỗ khác trong Kinh Thánh còn nhấn mạnh đến cách vợ chồng đối xử với nhau trong gia đình Cụ thể, vợ và chồng phải có sự tôn kính lẫn nhau “Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như mình, còn vợ thì phải kính chồng.” (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 202) Nghiêm trọng hơn, người nào không gìn giữ hôn nhân của mình sẽ bị trừng phạt bởi Đức Chúa Trời “Hãy tôn trọng hôn nhân, giữ lòng chung thủy và thánh sạch, vì Thượng Đế sẽ đoán phạt người gian dâm, ngoại tình.” (Kinh Thánh Tân Ước, 2001: 239) Tất cả những điều này củng cố chắc chắn cho quan niệm của người Cơ Đốc, nền tảng của hôn nhân đã được thiết lập bởi chính Thượng Đế trong toàn cả Kinh Thánh Vì thế, quyết định ly hôn được tin là hành động phá bỏ
đi điều tốt đẹp do chính Thượng Đế thiết lập nên từ lúc ban đầu
1.4.2 Quan điểm của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) về hôn nhân
Đối với tổ chức của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), quy định về vấn đề tình
yêu, hôn nhân, gia đình được quy định rất chặt chẽ Trong “Hiến chương” của Hội thánh Tin
Lành Việt Nam (miền Nam) - điều 69 về “Gia đình Cơ đốc” có đề cập đến nội dung như sau:
Mọi người phải tôn trọng hôn nhân, chung thủy một vợ một chồng; Hội thánh không chấp nhận việc ly hôn, ngoại trừ trường hợp ngoại tình Lời Chúa lên án những hình thức luyến ái như: đồng tính, tiền hôn nhân, ngoại hôn nhân, đa thê, loạn luân, vô luân,…Vợ chồng, cha mẹ, con cái, và mọi người trong gia đình phải có lòng hiếu thảo,
Trang 38vâng phục, yêu thương, trung tín, thủy chung và tôn trọng nhau (Hiến chương, 2002: 61-62)
Quan điểm của Thánh Kinh và tôn chỉ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) chỉ
rõ tầm quan trọng với vấn đề tình yêu và hôn nhân Cơ Đốc Mục sư Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền nam) đã xác nhận, ưu tiên của tín hữu Tin Lành là gìn giữ, xây dựng
đời sống hôn nhân, gia đình “Nền tảng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam là đặt nền tảng trên Kinh Thánh và dạy dỗ tín đồ trên nền tảng Kinh Thánh để có thể tạo những yếu tố khác để cho hôn nhân được bền vững Đó là nguyên tắc giáo lý cũng như đường lối mà Hội Thánh dạy dỗ
Đó là đạo đức, không chỉ là đạo đức xã hội mà còn là đạo đức Cơ đốc.” (PVS-MS01, mục sư
Phó Hội trưởng)
Thêm vào đó, chính vì giá trị, tiêu chuẩn của hôn nhân nên Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) quy định rất rõ ràng về cách thức giải quyết đối với những trường hợp vợ chồng có xung đột, có thể dẫn đến ly hôn Những quy định, hướng dẫn giải hòa nhằm nỗ lực bảo vệ hôn
nhân của tín hữu Cơ Đốc không rơi vào tình trạng rạn nứt, đổ vỡ “Trước hết, thường các lãnh đạo Hội Thánh, các mục sư quản nhiệm thì thường là rất cảm thông Ban chấp sự cũng rất cảm thông Trong bước đầu thì bao giờ cũng có những tư vấn cho họ hết Tức là yêu thương, có những lời khuyên nhủ, gần gũi để giúp đỡ Không phải chỉ cho một mà cho cả hai vợ chồng Mà cũng không phải là một lần mà rất là nhiều lần.[…] Rồi họ sẽ cầu nguyện, giúp đỡ cho người
đó đặt nền tảng trên Kinh Thánh, hướng dẫn và chia sẻ Lời Chúa rồi cầu nguyện Và không chỉ một lần, giống như bác sĩ vậy đó, khám bệnh rất là nhiều lần để có thể đưa đến chỗ tốt nhất.”(PVS-MS01, mục sư Phó Hội trưởng) Tuy nhiên, bên cạnh việc hỗ trợ tâm vấn, khích lệ,
chia sẻ và hòa giải; Hội Thánh cũng có những quy chế rõ ràng đối với những gia đình sau khi
được tâm vấn, hòa giải nhưng vẫn quyết định đi đến ly hôn “Bước thứ hai, nếu trường hợp những người này mà họ không nghe mà họ vẫn quyết định đi đến ly hôn thì buộc lòng Hội Thánh phải có những biện pháp kỷ luật Yêu thương nhưng mà phải có kỷ luật Đó là thường thì Hội Thánh xét thấy tình huống này, tình huống kia cho nên ban trị sự lên biên bản, dứt phép thông công ba tháng hoặc là sáu tháng Rồi trong quá trình đó, người này có những ăn năn như thế nào mới phục hồi lại.”(PVS-MS01, mục sư Phó Hội trưởng) Quy chế kỷ luật mà mục sư Phó
Hội trưởng nhắc đến được trích dẫn từ bản nội quy trong phần “Giáo luật” chương III, điều 4 liên quan đến “Tội vi phạm luân lý” của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam),
Khi có người nào phạm tội nêu trên cách tỏ tường hoặc có bằng chứng thì quản nhiệm
và ban chấp sự, ban trị sự chi hội họp lại quyết định dứt phép thông công Hội Thánh cứ
Trang 39tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn Nếu được sự chịu dứt bỏ tội lỗi, thì được Hội Thánh tiếp nhận lại, nhưng không được giữ các chức vụ trong chi hội (Nội quy Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), 50)
Qua đó, có thể nhận định rằng, ly hôn là vấn đề không được cho phép trong quy định của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) Cộng đồng tín hữu Tin Lành không tách biệt, rời
bỏ những người đã ly hôn, nhưng kỷ luật là điều chắc chắn thực hiện đối với những cá nhân này Điều này thể hiện được góc nhìn đánh giá của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đối
với tầm quan trọng của đời sống hôn nhân
Nhìn chung, gìn giữ sự chung thủy, gắn kết trong hôn nhân được xem như những giá trị tâm linh cao quý và là chuẩn mực trong đời sống mỗi tín hữu Tin Lành Những gia đình Cơ Đốc thực hiện tốt những lề luật này được xem là chuẩn mực trong nếp sống đạo Chính vì thế, việc xem xét chuẩn mực niềm tin của tín hữu Tin Lành đối với vấn đề hôn nhân nói chung và ly hôn nói riêng gợi ý cho tác giả trong việc đặt câu hỏi nghiên cứu và phân tích những khía cạnh liên quan đến gia đình tín hữu theo đạo Tin Lành
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Để có thể hiểu rõ đặc trưng của tiến trình đưa ra quyết định ly hôn và chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình này của tín hữu theo đạo Tin Lành, tác giả đưa ra những câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Những đặc trưng nào được thể hiện giữa các cặp đôi theo đạo Tin Lành từ lúc quen nhau cho đến khi kết hôn?
- Trong quá trình chung sống, những mâu thuẫn trong gia đình bộc lộ qua những khía cạnh nào? Cảm nhận của người trong cuộc về các xung đột diễn ra trong gia đình?
- Những cách thức nào được tín hữu Tin Lành lựa chọn để xử lý những xung đột xảy ra trong gia đình? Mức độ ảnh hưởng của Kinh Thánh và cộng đồng tín hữu Tin Lành đối với việc giải quyết xung đột gia đình của người tín hữu?
- Có mối liên hệ nào giữa mức độ niềm tin và thực hành tôn giáo đối với sự giảm sút chất lượng đời sống hôn nhân trong gia đình tín hữu Tin Lành?
- Dù biết rằng Kinh Thánh và Hội Thánh không cho phép, người trong cuộc lý giải ra sao cho quyết định ly hôn của họ? Niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo đóng vai trò nào trong giai đoạn này?
Trang 401.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp luận
Đề tài tập trung hướng về chính đối tượng là tín hữu theo đạo Tin Lành đã đưa ra quyết định
ly hôn nên đề tài sẽ mang tính khai phá-mô tả để hiểu rõ tiến trình này Qua đó, có thể phần nào đưa ra những nhận định về nguyên nhân quyết định được đưa ra từ góc độ của chính những người trong cuộc Chính các lý thuyết được trình bày trong phần cơ sở lý luận sẽ được sử dụng làm nền tảng cho hướng thu thập thông tin và phân tích định tính này Các câu hỏi thu thập thông tin sẽ được chi tiết hóa từ những câu hỏi nghiên cứu Với những góc độ muốn tìm hiểu này, tác giả lựa chọn sử dụng phương pháp luận định tính nhằm tìm hiểu vấn đề ly hôn đã bắt đầu từ những mâu thuẫn nào, xung đột đã hình thành và lên đến đỉnh điểm để đưa đến quyết định ly hôn ra sao
Cụ thể hơn, lý thuyết tách cặp của Diane Vaughan được sử dụng để làm rõ tiến trình từ lúc bắt đầu có mâu thuẫn xảy ra giữa vợ và chồng cho đến khi hoàn tất thủ tục ly hôn tại tòa án Lý thuyết này cũng giúp cho tác giả đánh giá về những yếu tố dẫn đến xung đột, người đề xuất quyết định ly hôn,…Lý thuyết duy lý hóa giúp tác giả nhìn nhận những tín hữu Tin Lành được nghiên cứu không bị ảnh hưởng nhiều bởi giáo lý hôn nhân hay Hội Thánh Tin Lành Ly hôn là một quyết định được đưa ra mà không phải đối diện với sự ràng buộc của Kinh Thánh và Hội Thánh Đồng thời, lý thuyết thế tục hóa sẽ hỗ trợ tác giả phân tích và đánh giá sự khác nhau giữa niềm tin tôn giáo trong lý trí và việc thực hành nếp sống tôn giáo, biểu hiện cụ thể trong đời sống hôn nhân Đặt cơ sở trên những lý thuyết này, đề tài sẽ mở ra một tầm nhìn tổng quát về tiến trình ly hôn của người theo đạo Tin Lành từ góc độ lý giải của chính người trong cuộc; một vấn đề được đan xen giữa gia đình và tôn giáo
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu
1.6.2.1 Mẫu nghiên cứu và tiến trình chọn mẫu trong thực tế
Trong luận văn liên quan đến vấn đề ly hôn trong gia đình theo đạo Tin Lành, tác giả lựa chọn mẫu thuận tiện thuộc nhóm phi xác xuất Lý giải cho quyết định chọn lựa mẫu nghiên cứu, tác giả có mong muốn tìm kiếm và phỏng vấn sâu những cá nhân đã chính thức ly hôn với dung lượng mẫu dự kiến là 25 người Tác giả chọn lựa dung lượng mẫu này với mong đợi thu thập được lượng thông tin cần thiết để làm phong phú cho đề tài của mình Trong thực tế, tác giả chỉ liên hệ được 17 tín hữu đáp ứng những tiêu chí đặt ra và chấp nhận phỏng vấn sâu, sẵn sàng chia
sẻ trải nghiệm riêng tư trong gia đình mà họ đã trải qua Vì vậy, thông tin thu thập được không