Hầu như trung bình cứ hai đôi kết hôn thì một đôi đưa nhau ra toà ly hôn… Nếu như ly hôn dựa vào lỗi là giai đoạn đầu, ly hôn dựa vào thực trạng của cuộc hôn nhân là bước tiếp theo thì l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THỊ MAI HOA
CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài 8
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
5 Cơ cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN 10
1.1 Khái niệm căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn 10
1.1.1 Khái niệm ly hôn 10
1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn 14
1.1.3 Khái niệm các trường hợp ly hôn 16
1.2 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn qua các giai đoạn phát triển 18
1.2.1 Thời kỳ Nhà nước phong kiến 18
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc 23
1.2.3 Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám đến nay 26
1.2.3.1 Giai đoạn 1945 - 1975 25
1.2.3.2 Giai đoạn 1975 đến nay 32
1.3 Khái quát một số nét về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật một số nước trên thế giới 36
1.3.1 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Thái Lan 37
1.3.2 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật của Pháp 39
1.3.3 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Nhật Bản 41
1.3.4 Vấn đề ly thân theo quy định pháp luật một số nước trên thế giới 42
1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn 43
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG LY HÔN 46
Trang 32.1 Căn cứ ly hôn 46
2.2 Các trường hợp ly hôn 59
2.2.1 Thuận tình ly hôn 59
2.2.2 Ly hôn theo yêu cầu của một bên 63
2.3 Tình hình ly hôn và nguyên nhân ly hôn ở nước ta hiện nay 65
2.3.1 Tình hình ly hôn 65
2.3.2 Những nguyên nhân dẫn đến ly hôn 67
CHƯƠNG 3 NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN 74
3.1 Những vướng mắc khi áp dụng căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn trong công tác xét xử của Toà án 74
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 82
3.2.1 Cần quy định chế định ly thân 82
3.2.2 Cần quy định trình tự và thủ tục cho công tác hoà giải 83
3.2.3 Cần thành lập Toà chuyên trách về HN & GĐ 85
3.2.4 Cần nâng cao hiệu quả xét xử của Toà án đối với các vụ án ly hôn 86
3.2.5 Cần quy định người có lỗi gây nên sự đổ vỡ của quan hệ hôn nhân phải gánh chịu trách nhiệm 87
3.2.6 Cần có những quy định pháp luật cụ thể và chặt chẽ hơn để giải quyết hậu quả của ly hôn 88
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
7 HN & GĐ: Hôn nhân và gia đình
8 TAND: Toà án nhân dân
9 TANDTC: Toà án nhân dân tối cao
10 VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
11 VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
12 XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách con người mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”
Thực trạng của quan hệ HN & GĐ không chỉ phát triển theo chiều hướng thuận theo ý tưởng và mong muốn của chúng ta, sự tan vỡ của những gia đình cũng là hiện tượng thực tế của xã hội đặt ra một chiều hướng ngược lại mà mọi ngành khoa học xã hội, trong đó có ngành khoa học luật phải nghiên cứu Việc chia tay của nhiều cặp vợ chồng bằng ly hôn với những nguyên nhân nào đó có ảnh hưởng lớn tới mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, làm tổn hại trực tiếp tới mỗi con người, đặc biệt là ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của con trẻ và trong nhiều trường hợp không đủ điều kiện để đảm bảo đời sống tinh thần và vật chất cho chúng
Việc thiết lập gia đình bắt đầu bằng hôn nhân và hôn nhân đã trở thành hiện tượng xã hội mang tính tất yếu khách quan Nếu kết hôn là hiện tượng xã hội bình thường thì ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, nhưng lại không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Ly hôn được coi là biện pháp giải phóng cá nhân khỏi quan hệ vợ chồng để họ thoát khỏi những xung đột khi hôn nhân đã thực sự tan vỡ, đây cũng là biện pháp nhằm loại bỏ các quan
hệ hôn nhân không còn sức sống, không còn lành mạnh để góp phần củng cố các quan hệ gia đình trên cơ sở vững chắc hơn
Hậu quả của ly hôn không chỉ là việc chấm dứt các quan hệ nhân thân, tình cảm giữa vợ và chồng mà còn làm phát sinh hàng loạt các vấn đề về tài sản, về con cái, về cấp dưỡng… tất cả những vấn đề đó đều có tác động và phần nào ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội; do đó, nếu không có sự điều chỉnh
Trang 6luật HN & GĐ thì tình trạng ly hôn như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển chung của xã hội
Hơn nữa, ly hôn còn là một vấn đề xã hội và thời đại, việc nghiên cứu
nó ở mọi lúc, mọi khía cạnh luôn là cần thiết, nhất là ngày nay, do những điều kiện kinh tế, xã hội, người ta đề cao cá nhân, đề cao cái cá thể thì ly hôn lại càng nổi lên như một vấn đề đáng được quan tâm
Luật HN & GĐ năm 2000 có hiệu lực từ ngày 1/1/2001, đã quy định:
“Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Toà án quyết định cho ly hôn Trong trường hợp vợ chồng của người bị Toà án tuyên
bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”(Điều 89) Tuy nhiên, việc áp dụng trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc Việc đi sâu nghiên cứu “căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ năm 2000” sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng các căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn giúp cho các Toà án giải quyết các vụ ly hôn được chính xác, góp phần củng cố gia đình và xã hội Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định việc nghiên cứu đề tài này cũng góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài: “Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ năm 2000” chưa được đề cập một cách toàn diện và đầy đủ trong một công trình chuyên khảo nào ở nước ta Cũng có nhiều sách, tạp chí, các bài báo công trình khác nghiên cứu về ly hôn trong đó có đề cập đến căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn nhưng những bài báo, công trình cũng chỉ nghiên cứu hay xem xét ở một khía cạnh nào đó hay một giai đoạn nào đó như: Luận văn thạc sĩ luật học: “Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hằng, Luận văn thạc sĩ luật học: “Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Trang 7tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Hồng Quang hay Luận văn thạc sĩ luật học: “Căn cứ pháp lý và thủ tục giải quyết các vụ ly hôn tại Toà án Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tuý Hoa hoặc bài viết: “Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Vân đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2005 Và rất nhiều khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu về ly hôn, cũng như hậu quả pháp lý của ly hôn trong đó có đề cập đến căn cứ ly hôn, nhưng chưa có một công trình nào đề cập một cách toàn diện và đầy đủ về căn
cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn như ở đề tài này
III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ về mặt lý luận các căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ năm 2000 cũng như tìm hiểu những quy định này theo tiến trình phát triển của lịch sử, đưa ra được bức tranh toàn cảnh về căn cứ ly hôn
và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ Việt Nam;
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn và các trường hợp
ly hôn và nhu cầu hoàn thiện pháp luật cũng như hoạt động xét xử của Toà án;
- Góp phần nâng cao nhận thức lý luận và kinh nghiệm xét xử các vụ án ly hôn của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Toà án
2 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
2.1 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn như khái niệm: “căn cứ ly hôn”, căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn qua các giai đoạn lịch sử, so sánh với căn cứ ly hôn của một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu những quy định của Luật HN & GĐ năm 2000 về căn cứ
ly hôn và các trường hợp ly hôn
Trang 8- Nghiên cứu thực tiễn giải quyết ly hôn của TAND từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn
2.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Xác định và phân tích căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Việt Nam kể từ khi có pháp luật thành văn, có so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới;
- Đánh giá và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án ly hôn của TAND
IV PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài: “Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ năm 2000” được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, có sự phân tích tổng hợp, so sánh và phương pháp nghiên cứu
lý luận kết hợp với thực tiễn Lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận
V CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này có Phần mở đầu, 3 chương, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ
CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN 1.1 Khái niệm căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn
Hôn nhân là sự liên kết giữa vợ và chồng Sự liên kết đó không chỉ riêng hai vợ chồng mà Nhà nước và xã hội đều mong muốn nó bền chặt Nhưng nếu sau khi kết hôn giữa vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm yêu thương
đã hết, mục đích hôn nhân nhằm tạo lập cho xã hội những gia đình - tế bào của xã hội tốt đẹp đã không thể đạt được thì khi đó việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là giải pháp cuối cùng và tất yếu, là điều có thể công nhận theo trình tự do pháp luật quy định Sự liên kết giữa hai vợ chồng ở mỗi chế độ hôn nhân khác nhau là khác nhau và điều này cũng tác động đến ly hôn Ly hôn bị tác động bởi kinh tế - xã hội, văn hoá, đạo đức, tôn giáo đặc biệt là pháp luật bởi pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của giai cấp thống trị nói khác đi là của Nhà nước Tuy nhiên ly hôn là một vấn đề mang tính xã hội nên khi điều chỉnh chúng ngoài những yếu tố kể trên, pháp luật muốn điều chỉnh được còn phải xem xét những yếu tố thuộc về tâm sinh lý con người Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, tôn giáo ảnh hưởng đến pháp luật
và cũng ảnh hưởng đến tâm sinh lý con người Như vậy, có thể nói khi quy định ly hôn và những căn cứ cho ly hôn mà nhà làm luật lựa chọn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá, đạo đức và chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm sinh lý con người
Dưới chế độ phong kiến, pháp luật và tục lệ có nhiều quy phạm mang tính luân lý, Nho giáo đặc biệt là quy phạm về HN & GĐ Theo đó, người phụ
nữ phải sống theo thuyết tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Cuộc đời người phụ nữ gắn với công việc gia đình, với chồng con
Trang 10xướng, phụ tuỳ”, người chồng là chúa tể trong gia đình, người vợ chỉ là công
cụ biết nói thuộc sở hữu của người chồng Do lễ giáo phong kiến không có sự bình đẳng giữa nam và nữ nên nhiều phụ nữ mặc dù không còn tình cảm với chồng và cuộc sống chung chỉ mang lại đau khổ cho họ mà họ vẫn không được phép ly hôn
Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa và thời kỳ đầu sau Cách mạng tư sản, do tác động của tư tưởng Cách mạng tư sản là tự do và bình đẳng nên pháp luật nói chung và các quy định pháp luật trong lĩnh vực ly hôn nói riêng cũng không nằm ngoài xu hướng đó Các nhà luật gia tư sản cho rằng tự do ly hôn phải được thừa nhận như một quyền pháp định Trong thời kỳ này những quan hệ về HN & GĐ cũng có sự phát triển đáng kể với những quy định như
tự do yêu đương, hôn nhân một vợ một chồng, tự do ly hôn… Tuy nhiên, nhìn vào bản chất vấn đề, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư tưởng của giai cấp tư sản do bị ràng buộc bởi những quy định ngăn cấm của nhà làm luật Vì vậy, những quy định này dù rất tiến bộ nhưng rất khó thực hiện trên thực tế và chỉ mang tính hình thức Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua quy định về căn cứ ly hôn: việc ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương
sự Lỗi là yếu tố quyết định cuộc hôn nhân đó có thể tồn tại được hay không
và ai là người có quyền xin ly hôn Như vậy, không cần quan tâm tới tình trạng cuộc hôn nhân, cuộc sống của một gia đình trong một thời gian dài đã diễn ra như thế nào, chỉ cần một bên có lỗi, cuộc hôn nhân đó có căn cứ chấm dứt Như vậy, ly hôn đã không phản ánh đúng bản chất của nó Nhưng xã hội
tư sản luôn phát triển và pháp luật tư sản cũng có những thay đổi để thích ứng với sự phát triển đó Trong những thập kỷ gần đây, pháp luật tư sản đã tập trung điều chỉnh hài hoà lợi ích của cá nhân và gia đình, điều này thể hiện ở việc quy định căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn Ở một số nước phát triển hiện nay người ta quy định ly hôn dựa vào ý chí của các bên trong quan
hệ chứ không hẳn phải do lỗi của một trong hai người cũng như không quan
Trang 11tâm đến thực trạng của cuộc hôn nhân đó như thế nào, có còn hay đã chết Điều này cũng dễ lý giải khi mà đời sống kinh tế xã hội phát triển đến một mức độ nhất định dẫn đến sự thay đổi và nảy sinh những quan niệm mới về
HN & GĐ Ngày nay người ta đề cao cái tôi cá nhân, thì những gì thuộc về cá nhân phải được ưu tiên hàng đầu Người ta chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân
mà không để ý đến dư luận xã hội Ly hôn cũng vậy, người ta có thể kết hôn khi nào cảm thấy cần thiết và ly hôn khi muốn Sự điều chỉnh pháp luật ở đây chỉ là thủ tục và những ràng buộc pháp lý khác liên quan đến hậu quả của ly hôn Ngày nay, ở các nước phương Tây tỷ lệ ly hôn rất cao và càng ngày càng tăng nhanh Hầu như trung bình cứ hai đôi kết hôn thì một đôi đưa nhau ra toà
ly hôn… Nếu như ly hôn dựa vào lỗi là giai đoạn đầu, ly hôn dựa vào thực trạng của cuộc hôn nhân là bước tiếp theo thì ly hôn dựa vào ý chí tự nguyện của các bên trong quan hệ vợ chồng được coi là bước phát triển cao nhất, dường như đó là một xu hướng phát triển tất yếu khi giá trị của gia đình không còn quan trọng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện đại với sự ra đời
và hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn hoá cao và sự đóng góp của nhiều thiết chế xã hội hỗ trợ gia đình như giáo dục, y tế, dịch vụ nội trợ, dịch
vụ giải trí… đã thay thế dần những chức năng mà trước đây chỉ gia đình mới đảm nhiệm được và pháp luật phải điều chỉnh phù hợp với xu hướng đó Điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần khái quát một số nét về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn của pháp luật một số nước trên thế giới trình bày ở phần sau
Trong chế độ xã hội, khi pháp luật là ý chí của số đông trong xã hội, quy định về ly hôn đã phản ánh đúng bản chất của vấn đề Nếu như hôn nhân là sự kết tinh của tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ thì ly hôn là một lối thoát khi cuộc hôn nhân mà họ đã chọn là thực sự sai lầm Cũng do tác động của những yếu tố kể trên, quan niệm về ly hôn trong xã hội XHCN dựa
Trang 12vỡ rồi, pháp luật không hàn gắn lại mà chỉ công nhận sự đổ vỡ đó Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, hôn nhân trong đó có ly hôn là hiện tượng
xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Thông thường thì hôn nhân là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng, bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính của hai bên nam và nữ nhằm gắn bó và thoả mãn những tình cảm trong đời sống gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững Tuy nhiên, tính chất suốt đời của hôn nhân vẫn có những trường hợp ngoại lệ, tức là sau khi kết hôn, trong thời gian chung sống giữa vợ và chồng phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được và cả hai hoặc một trong hai bên vợ chồng không thể tiếp tục sống chung được thì pháp luật quy định cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn Khoa học pháp
lý coi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi hai người còn sống Còn pháp luật quy định, muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân khi vợ chồng còn sống phải được TAND cho ly hôn bằng bản án hoặc bằng quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn
Theo Điều 8 khoản 8 Luật HN & GĐ năm 2000 thì: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng” Ly hôn là sự chấm dứt hôn nhân khi cả hai vợ chồng còn sống do ý chí đơn phương của một bên hoặc do sự thoả thuận của hai bên trước pháp luật Như vậy, chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là kết quả của ý chí vợ và chồng, ngoài ra không một người nào khác có thể yêu cầu ly hôn được, vì quyền ly hôn là quyền nhân thân đã được quy định trong BLDS (Điều 42 BLDS 2005) Bên cạnh đó, Nhà nước ta kiểm soát việc ly hôn bằng chế định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho mỗi người, cho xã hội và bảo đảm các nguyên tắc của hôn nhân XHCN Theo quy định hiện hành của Nhà nước ta chỉ có TAND mới có quyền cho ly hôn vì ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó đụng chạm đến tình cảm vợ chồng, đến lợi ích gia đình và xã hội
Trang 13Ly hôn là một mặt của hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là quan hệ bất bình thường, là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân
đã thực sự tan vỡ, trong trường hợp đó thì ly hôn là giải pháp cần thiết cho cả hai vợ chồng
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như sau: “Ly hôn là việc TAND quyết định hoặc công nhận khi có yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định nhằm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ, chồng”
1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn
Quan điểm của nhà nước ta là cho phép vợ chồng có quyền được tự do ly hôn, nhưng như vậy không có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện theo nguyện vọng của vợ chồng Giải quyết ly hôn một mặt phải bảo đảm lợi ích của vợ chồng mặt khác là lợi ích của con cái, của các thành viên khác trong gia đình
và lợi ích xã hội, do đó Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cách xác định những điều kiện cần và đủ để cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật
Nghiên cứu Luật HN & GĐ và Luật dân sự của một số nước trên thế giới cũng như trong khu vực về vấn đề ly hôn và căn cứ để cho ly hôn, thì thấy mỗi quốc gia có quan điểm về vấn đề ly hôn có khác nhau, do vậy cũng có những quy định khác nhau về căn cứ ly hôn
Pháp luật của nhiều nước quy định giải quyết ly hôn là dựa vào lỗi của
vợ chồng Nhà nước tư sản coi hôn nhân như hợp đồng dân sự nên việc chấm dứt hôn nhân cũng như chất dứt hợp đồng là dựa vào lỗi của các bên… Giải quyết vấn đề ly hôn ở các nước này là dựa vào hình thức của quan hệ hôn nhân, do vậy việc xét xử của Toà án là việc làm hết sức rập khuân, máy móc Nhà nước XHCN có quan điểm giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất
Trang 14không do ý chí chủ quan của cán bộ Toà án hay của các đương sự và do đó, giải quyết không dựa vào lỗi của vợ chồng Trên quan điểm giải quyết “ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã
“chết”, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối.Đương nhiên, không phải
sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân,
mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tuỳ thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của các bên hữu quan… Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất, hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi Việc Toà án cho phép xoá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó” [17, tr. 234, 235]
Từ quan điểm trên cho thấy, Nhà nước XHCN Việt Nam quy định căn cứ
ly hôn mang tính khoa học, phản ánh thực chất mối quan hệ vợ chồng đã bị phá vỡ và việc Toà án giải quyết cho họ được ly hôn chính là công nhận một thực tế đã và đang tồn tại trong mối quan hệ vợ chồng là không thể cải thiện được Với những căn cứ ly hôn như vậy sẽ đảm bảo khi Toà án cho phép vợ chồng ly hôn là hoàn toàn phù hợp với thực tế mâu thuẫn thực trong đời sống
vợ chồng Cho phép vợ chồng ly hôn trong những trường hợp này là giải phóng cho cả vợ và chồng và cho cả xã hội Có căn cứ đúng cũng chứng tỏ rằng giải quyết ly hôn đúng với thực chất mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng, đấy chính là việc bảo vệ quyền lợi cho họ
Luật HN & GĐ năm 2000 quy định căn cứ ly hôn như sau: “Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho
ly hôn
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án quyết định cho ly hôn”(Điều 89)
Trang 15Như vậy, căn cứ ly hôn được quy định trong Luật HN & GĐ năm 2000 mang tính kế thừa và phát triển của Luật HN & GĐ năm 1986 Xét về tổng thể, các căn cứ cho ly hôn do các Luật HN & GĐ của nước ta quy định qua các thời kì khác nhau vẫn bảo đảm bản chất thống nhất là tình trạng trầm trọng của mâu thuẫn vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Với các phân tích trên cơ sở các quy định của pháp luật nước ta, có thể hiểu: “Căn cứ ly hôn là những yếu tố để xác định đúng tình trạng tan vỡ thực
sự về tình cảm, đời sống vợ chồng, mục đích của hôn nhân từ đó Toà án cho phép vợ chồng ly hôn”
1.1.3 Khái niệm các trường hợp ly hôn
Pháp luật cho phép và dự liệu các trường hợp mà vợ chồng có thể lựa chọn để yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết cuộc hôn nhân của mình bằng giải pháp cuối cùng là ly hôn Các trường hợp ly hôn khác với các căn cứ ly hôn Căn cứ ly hôn là những điều kiện mà pháp luật quy định để xác định tình trạng của cuộc hôn nhân còn tồn tại hay không tồn tại và dựa vào các điều kiện đó để Toà án cho phép vợ chồng ly hôn hay hoà giải mong
họ đoàn tụ Còn các trường hợp ly hôn là cách thức mà các bên có thể lựa chọn theo quy định của pháp luật để yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình
Do trình độ và kỹ thuật lập pháp, pháp luật thời kỳ nhà nước phong kiến coi các căn cứ ly hôn cũng là những trường hợp ly hôn Những trường hợp ly hôn ở đây là những sự việc, duyên cớ cụ thể mà dựa vào đó đương sự có thể yêu cầu ly hôn Có những duyên cớ mà đương sự phải bắt buộc ly dị (ly hôn bắt buộc), có những duyên cớ mà hai vợ chồng có thể thuận tình ly hôn và có những duyên cớ mà việc ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng mà không có quyền yêu cầu của người vợ (rẫy vợ) Những trường hợp ly hôn ở đây mang tính áp đặt chứ không phải là cách thức lựa chọn của đương sự, vì nó xuất
Trang 16cho cùng phân biệt các trường hợp ly hôn ở đây cũng là để minh chứng rõ hơn ý đồ của nhà làm luật khi bảo vệ lễ giáo phong kiến
Pháp luật một số nước trên thế giới cũng quy định lồng ghép các trường hợp ly hôn trong các căn cứ ly hôn Với căn cứ ly hôn nào thì được phép thuận tình ly hôn, với căn cứ ly hôn nào thì một trong hai bên có thể kiện đòi
ly hôn, bởi pháp luật nhiều nước quy định ly hôn có thể dựa vào lỗi của các bên, nếu một bên có lỗi thì bên kia có thể viện dẫn để kiện đòi ly hôn
Pháp luật HN & GĐ nước ta theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, quy định tự do ly hôn, nhưng chỉ cho ly hôn khi cuộc hôn nhân đó đã
“chết” và phải loại bỏ Để Toà án giải quyết các vụ ly hôn thì phải có yêu cầu của các bên và cách thức mà các bên yêu cầu Toà án chính là các trường hợp
ly hôn Luật HN & GĐ năm 2000 quy định có hai trường hợp ly hôn là thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên Ở đây không có sự áp đặt của nhà làm luật mà là do cách thức lựa chọn của đương sự được pháp luật cho phép Và dù thuận tình ly hôn hay ly hôn do yêu cầu của một bên thì khi xem xét Toà án vẫn phải xuất phát từ các căn cứ ly hôn theo luật định để có cơ sở đánh giá về cuộc hôn nhân đó có còn tồn tại hay không tồn tại
Thuận tình ly hôn là việc cả hai vợ chồng cùng yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn
Ly hôn theo yêu cầu của một bên là việc vợ hoặc chồng yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn
Tuy pháp luật quy định các trường hợp ly hôn nhưng thuận tình ly hôn hay ly hôn theo yêu cầu của một bên thì vẫn đều phải do yêu cầu của một trong hai bên vợ chồng hoặc của cả hai vợ chồng chứ không thể là yêu cầu của một bên thứ ba nào khác, xuất phát từ quyền ly hôn là một quyền nhân thân gắn với bản thân vợ chồng không thể chuyển giao cho người khác được
Trang 17Từ những phân tích trên có thể hiểu: “Các trường hợp ly hôn là cách thức
mà vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng lựa chọn được pháp luật cho phép để yêu cầu giải quyết việc ly hôn”
1.2 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn qua các giai đoạn phát triển
1.2.1 Thời kỳ nhà nước phong kiến
Từ thế kỷ XV, dưới ảnh hưởng của Nho giáo thì đạo tề gia là cơ sở của đạo trị quốc Các mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em là ba trong số các mối quan hệ cơ bản của xã hội Với sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức và sau này là Luật Gia Long, pháp luật HN & GĐ đã bắt đầu đề cập về ly hôn một cách khá rõ nét
Người Việt Nam, về đạo lý luôn luôn mong muốn cuộc hôn nhân lâu dài, bền vững Tuy nhiên, pháp luật phong kiến cũng thừa nhận việc chấm dứt hôn nhân do những nguyên nhân khác nhau
Trong cổ luật Việt nam, các căn cứ ly hôn thường được biết tới dưới tên gọi “duyên cớ ly hôn” hay “các trường hợp ly hôn”
Các duyên cớ ly hôn thời kỳ này thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Nho giáo, nghĩa là chúng được qui định dựa trên sự bất bình đẳng giữa vợ chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, gia tộc hơn là quyền lợi cá nhân nên chúng được chia làm ba loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình
* Rẫy vợ:
Rẫy vợ là việc người chồng được đơn phương bỏ vợ ngoài tầm kiểm soát của tất cả các thiết chế xã hội Điều 310 Bộ luật Hồng Đức qui định, nếu người vợ phạm phải một trong các điều “thất xuất” thì chồng phải bỏ vợ, không bỏ sẽ bị tội biếm Tuy Bộ luật Hồng Đức không thống kê rõ các trường hợp nào được coi là “thất xuất”, nhưng Hồng Đức thiện chính thư (Đoạn 161)
và Bộ luật Gia Long (Điều 108) đã nêu rõ, đó là bảy trường hợp sau: không
có con, dâm đãng, không thờ bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và
Trang 18Trong quan niệm của xã hội Việt Nam truyền thống, việc hôn nhân không đơn thuần là việc hai cá nhân tạo lập một gia đình mà hơn thế, nó là việc của hai bên gia tộc Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích của hôn nhân là
để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên Trong hoàn cảnh ấy, việc không có con được coi là bất hiếu với cha mẹ, gây thiệt hại cho lợi ích gia tộc và vì cớ
ấy, người chồng được phép đơn phương rẫy bỏ vợ mình Cũng trong lợi ích (về mặt tinh thần) của cộng đồng gia tộc mà việc người vợ ghen tuông hay dâm đãng, nếu người chồng không bỏ thì bại hoại gia đạo; người vợ phạm tội trộm cắp mà không bỏ thì vạ lây đến chồng; vì lý do người vợ bị ác tật, khi có việc tế tự sẽ không làm được xôi hay cỗ, ảnh hưởng tới lợi ích gia đình, người chồng cũng phải bỏ Có thể nói, với bảy lý do mà người chồng được đơn phương rẫy vợ các luật gia phong kiến đã hy sinh lợi ích của các cá nhân để đặt lên trên lợi ích gia đình Năm trong số bảy duyên cớ rẫy vợ nói trên tuy có phần lỗi của người vợ dù chúng không hẳn nghiêm trọng nhưng vì lợi ích gia đình, người chồng được quyền đơn phương ly hôn không cần biết đến ý kiến người vợ cũng như không cần xét đâu là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm lỗi của người vợ Hai duyên cớ còn lại, không có con và bị ác tật, dù người phụ nữ không hề có lỗi nhưng nhà lập pháp cũng coi là duyên cớ ly hôn, cũng
là vì mục đích để bảo vệ quyền lợi gia đình Sự hy sinh quyền lợi cá nhân vợ chồng để bảo vệ quyền lợi gia đình còn được các nhà lập pháp hướng Nho đẩy xa đến mức mô phỏng hoàn toàn qui định của pháp luật Trung Hoa, theo
đó, nếu người chồng không bỏ vợ trong trường hợp “thất xuất”, chính bản thân người chồng sẽ bị xử tội biếm (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức, Đoạn 166 Hồng Đức chính thiện thư)
Bên cạnh các trường hợp “thất xuất”, cổ luật Việt Nam còn qui định ba trường hợp mà người chồng không được bỏ vợ, dù rằng người vợ đã phạm phải “thất xuất”, đó là: vợ đã để tang nhà chồng được 3 năm; khi vợ chồng lấy nhau nghèo hèn, sau trở nên giàu có; khi vợ chồng lấy nhau, vợ còn bà con họ
Trang 19hàng, khi bị bỏ, vợ không còn nơi nương tựa (tam bất khứ) Nếu vợ nằm trong trường hợp “thất xuất” nhưng nại được trường hợp “tam bất khứ” mà chồng vẫn bỏ vợ, thì chồng bị phạt nhẹ hai trật và hai vợ chồng phải đoàn tụ lại Tuy
nhiên, “tam bất khứ ” sẽ không có hiệu lực nếu người vợ phạm phải tội thông
gian Như vậy, “rẫy vợ” không phải là căn cứ để người vợ xin ly hôn Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng
* Ly hôn bắt buộc:
Ngoài các trường hợp “thất xuất”, cổ luật Việt Nam còn qui định khi việc kết hôn vi phạm các điều kiện thiết yếu của hôn nhân thì vợ chồng bị buộc phải ly dị Luật không qui định bằng cách thống kê đâu là các điều kiện thiết yếu của hôn nhân cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ chồng, mà luật chỉ can thiệp khi có sự vi phạm các điều kiện hay nghĩa vụ này Và ly hôn bắt buộc được coi như một “hình phạt ” cho sự vi phạm ấy Ví dụ, về sự vi phạm nghĩa vụ chung sống giữa hai vợ chồng, Điều 308 Bộ luật Hồng Đức qui định: “Chồng bỏ lửng vợ trong 5 tháng thì mất vợ” Điều 108 lệ Gia Long cũng qui định: “Nếu người chồng mất tích hoặc bỏ trốn ba năm không về, thì người vợ được trình quan xin phép cải giá và nhà vợ không phải hoàn lại đồ
sính lễ ” Quy định này thể hiện quyền yêu cầu ly hôn của người vợ Trường
hợp này người vợ được trình quan sở tại và xã quan làm chứng và thực hiện quyền li dị của mình Quyền yêu cầu li dị của vợ còn được ghi nhận ở Điều
333 Bộ luật Hồng Đức: “Nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ
vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly dị” Điều này chứng tỏ địa vị của người chồng không làm mất năng lực pháp lý của người vợ Người vợ được coi là ngang hàng với người chồng Ly hôn bắt buộc cũng áp dụng khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau (Điều 308 Bộ luật Hồng Đức), hay trong trường hợp kết hôn giả mạo, lừa dối; mất trật tự thê thiếp; mệnh phụ vi phạm quy định để tang; cưới người cùng họ, cùng tôn ti, trong thân thuộc; kết hôn
Trang 20vợ chồng phạm phải điều “nghĩa tuyệt” thì buộc phải ly hôn “Nghĩa tuyệt” có thể do lỗi của vợ (vợ mưu sát chồng), hoặc lỗi của chồng (chồng bán vợ làm
nô lệ, cho thuê vợ, hay cầm vợ), nhưng cũng có thể là lỗi của hai vợ chồng (người chồng đem người vợ ngoại tình gả bán cho nhân tình của vợ) Riêng trường hợp nếu vợ phạm phải “nghĩa tuyệt” mà chồng không bỏ, thì chồng cũng bị phạt 80 trượng Nghĩa là, ở các trường hợp “nghĩa tuyệt”, dù người phụ nữ cũng được quyền ly hôn trong một số tình huống, địa vị pháp lý của
họ vẫn không được bình đẳng với chồng Có thể nói, với các trường hợp ly hôn bắt buộc, cổ luật Việt Nam chưa phân biệt sự khác nhau giữa chế định ly hôn với huỷ hôn nhân trái pháp luật
* Thuận tình ly hôn:
Pháp luật thành văn đầu tiên về việc thuận tình ly hôn có từ thời Hồng Đức, theo đó, hai vợ chồng bất hoà thuận nguyện xin ly dị, thì tờ ly hôn phải tay viết tay ký, mà niên hiệu cùng là giáp lai khép lại thành một tờ Tờ hợp đồng ly hôn ấy phải làm thành hai bản, vợ chồng mỗi người cầm một bản, rồi mỗi người phân chia một nơi Dưới chữ niên hiệu và ngày, chồng ký họ tên,
vợ điểm chỉ; trong họ hoặc muốn mượn người viết thay cũng được Ngoài ra
kể đến sự chia nhau đồng tiền, chiếc đũa, cùng là người ngoài viết hộ ly hôn thư, mà lời lẽ không hợp phép, đều cho tờ ly hôn ấy vô hiệu, lại bắt phải đoàn
tụ làm vợ chồng [4]
Điều 284 Luật Gia Long quy định thuận tình ly hôn như sau: “Nếu vợ chồng trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn ly dị, tình thì không hợp, ân đã lìa thì không thể nào hoà lại được, cho phép họ ly dị, không bị tội”
Có thể nói, khác với luật đương đại Việt Nam chỉ chấp nhận một căn cứ
ly hôn duy nhất dựa trên thực chất sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, trong cổ luật Việt Nam, căn cứ ly hôn được qui định không đơn nhất mà đa dạng: hoặc người chồng có thể tự ý ly hôn theo ý chí đơn phương của mình khi vợ phạm phải một trong các điều “thất xuất”, hoặc hai vợ chồng có thể thuận tình ly
Trang 21hôn, cũng có khi hai vợ chồng bị bắt buộc ly hôn khi bên kia vi phạm một trong các điều kiện thiết yếu của hôn nhân hay vi phạm các nghĩa vụ giữa vợ chồng Điều quan trọng là, một khi những điều kiện của các căn cứ ly hôn nói trên hội đủ, các đương sự được phép đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của mình vì các duyên cớ ly hôn nói trên đặt trên cơ sở trật tự thiên nhiên đoàn thể vợ chồng chỉ có thể giao hoà với thiên nhiên khi liên hệ giữa hai vợ chồng được phát khởi bằng tình yêu, kết chặt bằng nghĩa vụ và duy trì bằng lễ giáo Mất một trong ba điều kiện này, trật tự thiên nhiên không còn nữa và đoàn thể
vợ chồng sẽ mất căn bản Quan niệm này đã giải thích rõ các quy định trong luật về duyên cớ ly hôn: trường hợp thất xuất bắt nguồn ở lễ giáo; trường hợp thuận tình ly hôn căn cứ vào sự thiếu tình thương yêu giữa hai vợ chồng và trường hợp ly hôn bắt buộc là sự tuyệt nghĩa phu phụ [15, tr 91]
Thứ hai, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hưởng đậm nét bởi tư tưởng Nho giáo, nếu như việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia đình, thì khi huỷ bỏ hôn nhân, cũng là do các quyền lợi của gia đình bị chi phối hơn là do mối quan hệ giữa bản thân người vợ và người chồng Nói cách khác, ý chí cá nhân của vợ chồng bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập hôn nhân của chính họ, mà còn khi cuộc hôn nhân của họ bị huỷ bỏ, để thay thế vào đó là lợi ích gia đình, gia tộc Ly hôn vì lý do “thất xuất” hay “nghĩa tuyệt” là sự phản ánh triệt để quan niệm này
Thứ ba, cũng dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đề cao đức trị mà những qui định về duyên cớ ly hôn đã được thiết lập trên cơ sở đạo đức và nhân cách cá nhân để rồi bằng cách ấy chúng đã xoá nhoà ranh giới giữa đạo đức và pháp luật Ly hôn vì lí do không kính trọng cha mẹ chồng hoặc vì sự lắm điều của vợ chính là được qui định dưới ánh sáng của quan niệm này Thứ tư, duyên cớ ly hôn trong cổ luật thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ
và chồng, trong đó số phận người phụ nữ phụ thuộc vào ý chí người chồng và
Trang 22tắc này Ngay cả trong trường hợp thuận tình ly hôn, cũng không có bất cứ sự bảo đảm nào cho phụ nữ [47, tr.61]
Tóm lại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã lấy tư tưởng Nho giáo làm
tư tưởng thống trị và duyên cớ ly hôn trong cổ luật Việt Nam cũng không thoát khỏi sự ảnh hưởng này
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc:
Năm 1858 thực dân Pháp mở đầu xâm lược nước ta, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Cùng với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến còn lợi dụng chế độ
HN & GĐ phong kiến đã tồn tại và được duy trì từ nhiều thế kỷ ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng Với chính sách chia để trị, chúng chia nước
ta thành 3 miền và mỗi miền áp dụng một bộ luật cụ thể:
- Tại Bắc Kỳ áp dụng DLBK 1931
- Tại Trung Kỳ áp dụng TKHL 1936
- Tại Nam kỳ áp dụng DLGY 1883
Pháp luật thời Pháp thuộc quy định chỉ có Toà án mới có quyền cho ly hôn khi có các duyên cớ ly hôn mà pháp luật đã quy định Hai vợ chồng hoặc một trong hai vợ chồng có thể xin ly hôn (Điều 116, 117 DLBK và Điều 115,
- Người vợ có thể xin ly hôn chồng vì các duyên cớ sau đây:
+ Chồng không làm những nhiệm vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi nấng vợ con tuỳ theo kế sinh nhai;
Trang 23+ Chồng bỏ nhà đi quá 2 năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng vợ con;
+ Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình;
+ Chồng làm trái trật tự vợ chính, vợ thứ (Điều 119 DLBK và Điều 118 TKHL)
- Ngoài những duyên cớ cho chồng hoặc vợ xin ly hôn nói trên, pháp luật còn quy định một số duyên cớ để cả vợ và chồng cùng có thể xin ly hôn, đó là:
+ Bên nọ quá khắc hành hạ, chửi rủa thậm tệ đối với bên kia, hoặc với
tổ phụ bên kia;
+ Vì một bên can án trọng tội;
+ Vì một bên vô hạnh làm nhơ nhuốc đến nỗi bên kia không thể ở chung được;
+Vì một bên bị tâm thần mà ai cũng biết hoặc phải ở suốt đời trong bệnh viện (Điều 120 DLBK và Điều 119 TKHL)
Vợ có thể xin ly hôn mà không cần chồng cho phép Việc tự rẫy vợ bị cấm (Điều 116 DLBK, Điều 115 HLTK)
DLGY năm 1883 cũng quy định những duyên cớ ly hôn của người chồng, người vợ và của cả hai vợ chồng, nhưng đối với việc tự rẫy vợ thì quy định không rõ ràng Thiên thứ IV quy định: “Tất cả các cuộc hộ nhân chỉ chấm dứt do vợ hay chồng chết hoặc do ly hôn” và tiếp theo là các duyên cớ
ly hôn Nhưng ở cuối thiên thứ V, khi nói về hiệu lực của giá thú lại có quy định: “Người chồng chỉ có thể rẫy vợ trong các trường hợp được luật dự liệu”, vậy có phải là DLGY vẫn giữ các duyên cớ “thất xuất” của Luật Gia Long? Phù hợp với chính sách “chia để trị”, thực chất DLGY đã sao chép một cách máy móc BLDS Napoleon của Pháp nên không phản ánh thực trạng của xã hội Việt Nam và những phong tục truyền thống của người Việt, do vậy, ảnh hưởng của nó trên thực tế là hết sức hạn chế
Trang 24Cả ba bộ luật đều quy định “ngoại tình của người vợ” là duyên cớ để người chồng xin ly hôn
DLGY năm 1883 vẫn giữ quy định “tam bất khứ” của Luật Gia Long, nhưng lại trừ trường hợp “vợ ngoại tình, bị phạt về trọng tội hay tự ý bỏ nhà chồng”
Về thuận tình ly hôn, Điều 121 DLBK quy định phải có điều kiện là đã chung sống với nhau 2 năm Riêng Điều 120 TKHL quy định điều kiện trên
là 5 năm và nếu cha mẹ là người ưng thuận việc kết hôn mà còn sống vào lúc
vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì chỉ khi cha mẹ đồng ý thì vợ chồng mới được xin thuận tình ly hôn
Theo DLGY năm 1883 thì không được xin thuận tình ly hôn, nếu:
- Chưa sống đủ 2 năm hoặc đã qua 20 năm;
- Người chồng dưới 25 tuổi hay người vợ dưới 21 tuổi hoặc đã quá 45 tuổi;
- Không có sự thuận tình của bố mẹ;
Bình luận về duyên cớ ly hôn, một luật gia người Pháp cho rằng DLBK,
sự bất bình đẳng giữa vợ chồng có “bớt lộ liễu hơn DLGY năm 1883”[33, tr 40]
Tuy nhiên, trong cả ba Bộ luật mà thực dân Pháp ban hành ở nước ta thì người ta chú ý hơn cả đến Bộ DLBK, vì đây là Bộ luật phản ánh một phần các phong tục tập quán của người Việt, kỹ thuật lập pháp khá tinh vi, với cách thể hiện nôm na, dễ hiểu Bởi ở Bắc kỳ, thực dân Pháp thi hành chính sách cải luơng và nhận thấy rằng pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã được thi hành một cách nề nếp, vững chắc, nên chỉ dựa vào đó mà thay đổi dần dần cho phù hợp với sự thống trị của chúng
Như vậy, mặc dù ba Bộ luật đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng do hoàn cảnh chính trị- xã hội lúc bấy giờ nên chúng cũng có những hạn chế nhất định đó là: Quy định hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập
Trang 25quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; quy định xét xử ly hôn dựa trên
cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng, các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất hôn nhân đã tan vỡ Việc xét xử của Toà án rất thụ động, hoàn toàn do ý chí của đương sự quyết định
1.2.3 Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
1.2.3.1 Giai đoạn 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử HN & GĐ nước ta Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về HN & GĐ đã được ban hành nhằm củng cố và hoàn thiện các quan hệ gia đình tiến bộ Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi phương diện Điều 9 của Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ hôn nhân phong kiến, đặt cơ sở cho chế độ HN & GĐ tiến bộ, dân chủ
Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ của giai đoạn Cách mạng mới sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật Sắc lệnh khẳng định, xoá bỏ tính cách phong kiến, cửa quyền, gia trưởng cũ quá ràng buộc và
áp bức cá nhân trái với mục đích giải phóng con người của một nền pháp luật dân chủ Cũng trong năm này, Nhà nước lại ban hành Sắc lệnh 159/SL, ngày 17/11/1950 quy định về ly hôn Theo đó,đã xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên
cớ ly hôn giữa vợ và chồng Tại Điều 2, Sắc lệnh quy định: Toà án cho phép
ly hôn trong những trường hợp sau: ngoại tình; một bên can án phạt giam; một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi; một bên bỏ đi quá 2 năm mà không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được nữa Tuy đề ra được một
Trang 26số nguyên tắc chung tiến bộ trong giải quyết những vấn đề về HN & GĐ, nhưng hai Sắc lệnh này cũng còn những hạn chế nhất định
Sắc lệnh 159/SL đã xoá bỏ những duyên cớ ly hôn được quy định trong các bộ dân luật cũ thể hiện quan hệ bất bình đẳng của vợ chồng khi ly hôn Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, Sắc lệnh 159/SL quy định vấn đề ly hôn cũng mới chỉ nhằm đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, xoá bỏ quyền gia trưởng… nên Sắc lệnh còn có những hạn chế nhất định Mặc dù Sắc lệnh đã quy định căn cứ ly hôn áp dụng chung cho
cả vợ và chồng và đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn của cả vợ và chồng, song Sắc lệnh còn dựa vào lỗi của vợ chồng để làm căn cứ cho việc giải quyết ly hôn mà chưa xét đến bản chất là sự tan rã thực sự của hôn nhân Xét cho cùng thì những duyên cớ đó chỉ là lý do dẫn đến sự tan rã của hôn nhân mà thôi Sau hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ Cách mạng XHCN Quan hệ sản xuất mới XHCN được xác lập và là cơ sở vững chắc của chế độ HN & GĐ mới Để xoá bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ
HN & GĐ phong kiến việc ban hành đạo luật mới về HN & GĐ đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc nước ta Chính vì thế, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, ngày 29/12/1959 Luật HN & GĐ được thông qua và được công bố ngày 13/1/1960
Luật HN & GĐ năm 1959 xây dựng trên 4 nguyên tắc: Hôn nhân tự do tiến bộ; hôn nhân 1 vợ 1 chồng; nam nữ bình đẳng trong bảo vệ hạnh phúc gia đình và bảo vệ quyền lợi của con cái Trong đó, nguyên tắc cơ bản nhất là nam nữ bình đẳng Các vấn đề về HN & GĐ đã được quy định khá hệ thống như vấn đề kết hôn; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ vợ chồng và đặc biệt
là ly hôn và hậu quả của nó đã được quy định trong một chương riêng (Chương V)
Trang 27Luật HN & GĐ năm 1959 đã công nhận quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn, xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng Luật HN & GĐ năm 1959 không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt, mà quy định căn cứ ly hôn duy nhất cho mọi trường hợp là tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Về các trường hợp ly hôn Điều 25 và Điều 26 Luật HN & GĐ năm 1959 cũng đã quy định có hai trường hợp ly hôn là thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu
Điều 25 Luật HN & GĐ năm 1959 quy định: “Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin ly hôn, TAND sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn” Việc điều tra để xét đúng hai bên tự nguyện ly hôn ở đây thể hiện quyền tự do ly hôn của các bên trong quan hệ hôn nhân đồng thời cũng thể hiện quan điểm giải quyết về mặt ly hôn của Nhà nước ta Việc ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án
xử cho ly hôn là sự phản ánh thực tế khách quan cuộc sống chung giữa vợ chồng không còn nữa chứ không phải thể hiện ý chí của người xét xử Ở đây
“tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” không chỉ đơn giản là giữa hai vợ chồng không còn tình yêu mà nó muốn nói đến việc nuôi dạy con cái… và nếu tiếp tục duy trì cuộc sống đó thì nó không thể là cơ sở để xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc Do vậy, Toà án xử cho ly hôn chỉ là công nhận về mặt luật pháp với thực trạng là cuộc hôn nhân đã chết
Tại Thông tư số 690 – DS ngày 29/4/1960 của TANDTC hướng dẫn xử
lý việc ly hôn và các vấn đề có liên quan đã quán triệt đường lối xử lý việc ly hôn là phải bảo đảm thực hiện tự do ly hôn cũng như cần phải giải quyết vấn
đề ly hôn một cách chính xác, không gò bó, đồng thời không khinh xuất Đối với xử lý việc hai bên xin thuận tình ly hôn thì khi xử lý Toà án phải
Trang 28thẩm tra tính chất tự nguyện xin ly hôn của cả hai bên để bảo vệ quyền tự do
ly hôn chân chính của các đương sự
Đối với xử lý việc ly hôn do một bên xin Thông tư cũng hướng dẫn rất triệt để có tính đến hoàn cảnh lịch sử lúc đó, đó là để xử lý cho ly hôn hoặc không cho ly hôn được chính xác, chẳng những Toà án điều tra, nghiên cứu
cơ sở tình cảm, tình trạng mâu thuẫn và khả năng chung sống giữa hai vợ chồng mà còn phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc của Luật HN & GĐ và đạo đức cách mạng để nhận xét và giải quyết yêu cầu của đương sự thì xử lý mới được đúng với chính sách tiến bộ
Ngoài ra, TANDTC đã ban hành các Thông tư, Chỉ thị hướng dẫn các Toà án cấp dưới giải quyết ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn như:
- Thông tư 01 ngày 6/1/1964 của TANDTC hướng dẫn giải quyết cấp dưỡng nuôi con;
- Công văn số 53 – NCPL ngày 18/1/1965 của TANDTC về việc cấp dưỡng con trong các vụ xử bác đơn xin ly hôn;
- Chỉ thị số 8 - DS ngày 19/9/1967 của TANDTC hướng dẫn xử lý việc
ly hôn một bên bị tập trung cải tạo;
- Chỉ thị 69, ngày 24/12/1979 của TANDTC hướng dẫn giải quyết về nhà
ở đảm bảo chỗ ở cho đương sự sau ly hôn
Đây là những văn bản pháp luật quan trọng hướng dẫn việc thực hiện Luật HN & GĐ năm 1959 nhằm đảm bảo tính đúng đắn của pháp luật Đồng thời, cũng nhằm đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn
Có thể nói trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ của đất nước việc xử lý ly hôn vô cùng phức tạp bởi tính chất phức tạp vốn có của vấn đề cũng như trong bối cảnh lịch sử việc thực thi và áp dụng pháp luật còn bị chi phối nhiều hơn bởi yếu tố chính trị và cách mạng do đó Thông tư 690 - DS còn hướng dẫn đường lối xử lý việc ly hôn trong từng trường hợp cụ thể như
Trang 29xử lý việc ly hôn trong vùng Thiên chúa giáo, xử lý việc ly hôn vì chế độ đa thê… Như vậy Luật HN & GĐ năm 1959 cũng như các Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn của TANDTC đã đáp ứng được yêu cầu giải quyết về ly hôn trong điều kiện hoàn cảnh lúc bấy giờ
Ở miền Nam trong những năm đầu dưới sự thống trị của chế độ gia đình Diệm – Nhu, tiếp sau là chế độ ngụy quyền Sài Gòn, luôn có sự trợ giúp của các quan thầy Mỹ cùng tìm cách chọn lựa những chính sách cai trị phản động, trong đó không loại trừ pháp luật về HN & GĐ Từ năm 1954 đến năm 1975
đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã ban hành một số văn bản pháp luật áp dụng trong các quan hệ HN & GĐ như Luật Gia đình ngày 2/1/1959 (Luật 1/59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm; Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ dân luật
1972 của chính quyền Nguỵ Sài Gòn
- Luật Gia đình (2/1/1959) thời Ngô Đình Diệm: Cho phép ly thân mà cấm ly hôn Tại Điều 55 đã quy định cấm vợ chồng không được ly hôn trừ trường hợp đặc biệt, Tổng thống có thể quyết định Ly thân khác ly hôn vì ly thân thì quan hệ vợ chồng vẫn còn tồn tại, hai bên vẫn phải thực hiện tất cả nhiệm vụ của vợ chồng trừ nghĩa vụ chung sống với nhau
Về duyên có ly thân: Theo Điều 55 Luật Gia đình, người vợ cũng như người chồng có thể xin ly thân, khi có một trong 3 duyên cớ sau đây, song duyên cớ ấy phải phạm tới bổn phận của nghĩa vụ vợ chồng đến nỗi sự ở chung với nhau không thể nào tiếp tục được nữa:
1 Phạm gian tại bất cứ nơi nào
2 Ngược đãi hay bạo hành
3 Điếm nhục thậm từ
Sắc luật 15/64 và Bộ Dân luật 1972 có quy định chế định ly hôn Tuy nhiên, giải quyết ly hôn cũng dựa trên những duyên cớ, thực chất là lỗi của vợ chồng
Trang 30Về duyên cớ ly hôn cũng là duyên cớ ly thân, Điều 63 Sắc luật 15/64 và Điều 170 Bộ dân luật 1972 cùng qui định các duyên cớ sau:
1 Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu
2 Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội
3 Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ, có tính cách thậm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa
4 Vì có án văn xác định sự biệt tích của người phối ngẫu đã thất tung
5 Vì người phối ngẫu bỏ phế gia đình sau khi có án văn nhất định xử phạt người phạm lỗi
Trong đó, ngoại tình, án trọng hình về thường tội là những duyên cớ quyết nhiên tức là trong trường hợp này Toà án không có quyền thẩm lượng, một khi các chứng cứ về các sự kiện trên có đầy đủ, Toà án bắt buộc phải tuyên phán cho ly hôn Trường hợp ngược đãi, bạo hành, nhục mạ được gọi là duyên cớ ly hôn nhiệm ý Trong trường hợp này, Toà án có quyền thẩm định
và chỉ tuyên xử cho ly hôn nếu xét rằng các duyên cớ này quan trọng đến nỗi hai vợ chồng không thể tiếp tục sống chung được [26, tr 207]
Sau khi quy định ly hôn, Sắc luật 23/7/1964 và Bộ dân luật 20/12/1972 cũng quy định sự ly thân và sự cải hoán ly thân sang ly hôn Cũng như Bộ dân luật Pháp và bộ DLGY, Sắc luật 15/64 và Bộ dân luật 1972 đã coi sự ly thân như một phương pháp tương đối thuận lợi cho các đương sự và gia đình hơn
là ly hôn để giải quyết những mối bất hoà giữa hai vợ chồng Có khi ly thân sau ít lâu, các đương sự nhận thức rõ những hậu quả trầm trọng của sự chia rẽ
mà tái hợp với nhau Trái lại, nếu sự ly thân kéo dài quá 3 năm, đương sự có thể xin cải hoán thành ly hôn như một bước đường không thể tránh được sau một thời gian thử thách
- Theo Sắc luật số 15/64 Toà án giải quyết yêu cầu ly hôn của vợ chồng
mà không cần phải qua thủ tục ly hôn Nếu hoà giải bất thành hai lần thì xét
Trang 31xử cho ly hôn Nếu một bên vợ chồng yêu cầu thì căn cứ để giải quyết cho ly hôn là dựa trên cơ sở lỗi
- Đối với trường hợp thuận tình ly hôn Bộ Dân luật (12/1972) của Việt Nam cộng hoà quy định: Vợ chồng có thể thuận tình ly hôn nếu hôn thú đã được lập trên 2 năm và không quá 20 năm (giống quy định trong DLGY 1883) Nếu một bên vợ, chồng yêu cầu thì căn cứ ly hôn là dựa trên cơ sở lỗi Hậu quả pháp lý của ly hôn là vợ chồng chấm dứt hoàn toàn quan hệ vợ chồng, người vợ chỉ có thể lấy chồng sau 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm dứt
Có thể nói, chế độ HN & GĐ ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng
là chế độ HN & GĐ phong kiến tư sản với tính chất lạc hậu, như bản chất của nhà nước thực dân phong kiến Các văn bản pháp luật này chính là công cụ của Nhà nước phản động, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân lao động nên
sự sụp đổ của bọn bù nhìn bán nước, xoá bỏ chế độ HN & GĐ tư sản, phong kiến lạc hậu là tất yếu
1.2.3.2 Giai đoạn 1975 đến nay
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
“Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất, tiến hành Cách mạng XHCN tiến nhanh, mạnh, vững chắc lên CNXH” [1]
Quốc hội khoá VI trong kỳ họp thứ nhất đã đổi tên nước ta thành “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” Nhà nước XHCN thống nhất đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật XHCN thống nhất trên cả hai miền Nam Bắc Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 76/CP quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất trong cả nước, trong đó có Luật HN & GĐ năm
1959 Như vậy, theo quy định của Hội đồng Chính phủ trong Nghị quyết 76/CP từ ngày 25/3/1977, Luật HN & GĐ năm 1959 được áp dụng trên cả hai
Trang 32phạm vi cả nước ngoài nhiệm vụ xoá bỏ chế độ HN & GĐ của chế độ cũ ở miền Nam còn nhằm xây dựng gia đình mới trên đất nước ta
Trong những chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, Luật HN
& GĐ năm 1959 vẫn được tiếp tục duy trì và thực hiện thống nhất trong cả nước Nhưng với sự ra đời của Hiến pháp 1980 cùng với những quy định mới
về nguyên tắc xây dựng chế độ HN & GĐ, đòi hỏi Luật HN & GĐ phải có những quy định để cụ thể hoá những nguyên tắc này Sau hơn 30 năm thực hiện, Luật HN & GĐ năm 1959 đã có một số quy định không còn phù hợp nữa Điều này đòi hỏi phải có Luật HN & GĐ mới đáp ứng sự biến đổi của xã hội Ngày 29/12/1986 Luật HN & GĐ mới đã được Quốc hội thông qua gồm
10 chương và 57 điều
Những nguyên tắc chủ yếu của Luật HN & GĐ 1986 là: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; hôn nhân 1 vợ 1 chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái; bảo vệ bà mẹ và trẻ em Nhiều quy định của Luật
HN & GĐ năm 1959 được nhắc lại như điều kiện hạn chế ly hôn, căn cứ ly hôn… nhưng nhiều vấn đề được quy định cụ thể và chi tiết hơn trước cho phù hợp với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội Chẳng hạn, chế độ tài sản của vợ hoặc chồng, vấn đề cấp dưỡng sau ly hôn…
Tại chương VII Luật HN & GĐ năm 1986 quy định về ly hôn (từ Điều
40 đến Điều 45) cũng giống như Luật HN & GĐ năm 1959 Luật HN & GĐ năm 1986 quy định các trường hợp ly hôn, căn cứ ly hôn cơ bản giống Luật
HN & GĐ năm 1959 Tuy nhiên, theo Luật HN & GĐ năm 1986, thủ tục hoà giải được đưa ra và coi là thủ tục pháp lý bắt buộc phải có trong việc giải quyết án kiện ly hôn dù hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn hay chỉ có một bên vợ, chồng yêu cầu
Theo quy định tại Điều 40 của Luật HN & GĐ năm 1986, ly hôn có thể
do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu hoặc do cả hai bên cùng làm đơn xin ly hôn Nếu ly hôn do một bên yêu cầu, căn cứ để Toà án cho ly hôn là “tình
Trang 33trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng xin ly hôn, Toà án
ra quyết định cho thuận tình ly hôn nếu xét thấy là cả hai bên thực sự tự nguyện
Trong cả hai trường hợp, Toà án đều phải tiến hành hoà giải Khi hoà giải không thành, Toà án ra quyết định hoà giải không thành, rồi sau đó đưa
vụ án ra xét xử hoặc ra quyết định thuận tình ly hôn tuỳ theo từng trường hợp Quá trình hoà giải cho phép xem xét một cách thận trọng cơ sở tình cảm giữa
vợ và chồng còn thương yêu nhau hay đã chấm dứt Giai đoạn này cần thiết ngay cả đối với trường hợp vợ chồng tự nguyện ly hôn Yếu tố tự nguyện ở đây chỉ là căn cứ ban đầu Về bản chất, Toà án vẫn cần xem xét các yếu tố bên trong nhằm làm sáng tỏ thực chất của sự tự nguyện này Chỉ khi đó mới
đủ các yếu tố cần thiết để Toà ra quyết định thuận tình ly hôn hay không
Về trình tự ly hôn, Luật HN & GĐ năm 1986 cũng quy định cụ thể hơn Theo đó, ly hôn chỉ được công nhận bằng một bản án có hiệu lực của TAND, còn các bên vợ hoặc chồng chỉ có quyền đề nghị Khi các cặp vợ chồng xin ly hôn, Toà án sẽ tiến hành điều tra, hoà giải hai bên Chỉ khi xét thấy hôn nhân
đã thực sự tan vỡ, hạnh phúc gia đình không còn, Toà án mới quyết định cho hai bên vợ chồng được ly hôn
Thực tế, pháp luật cũng không thể đưa ra một công thức nhất định cho phép Toà án xử cho ly hôn hay không Do vậy, niềm tin nội tâm có được từ năng lực, kinh nghiệm và lương tâm người Thầm phán có vai trò quan trọng khi đưa ra một bản án ly hôn hay quyết định công nhận cho thuận tình ly hôn Điều luật chỉ là cơ sở, là nguyên tắc để người Thẩm phán vận dụng vào thực
tế phức tạp và tế nhị của từng cặp vợ chồng khi xin ly hôn Xác định được tình yêu, hạnh phúc gia đình giữa họ còn tồn tại hay không, có thể cứu vãn được hay không, đó là nhiệm vụ nặng nề mà người Thẩm phán phải làm
Trang 34Để bám sát tình hình thực tiễn nhằm hướng dẫn các cấp Toà án giải quyết các vụ kiện về ly hôn một cách đúng đắn, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện luật, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã ban hành một số văn bản hướng dẫn bổ sung Đó là: Nghị quyết 01/HĐTP – TANDTC ngày 20/1/1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN & GĐ; Pháp lệnh HN & GĐ giữa công dân Việt Nam
và người nước ngoài ngày 2/12/1993 của Hội đồng Nhà nước…
Mặc dù có nhiều điểm tiến bộ, song sau 13 năm áp dụng, Luật HN & GĐ năm 1986 đã bộc lộ một số nhược điểm nhất định đó là:
- Nhiều quy định còn mang tính nguyên tắc đòi hỏi phải được cụ thể hoá bằng các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các Thông tư liên tịch giữa Toà án và các cơ quan có liên quan
- Các quy định còn thiếu cụ thể, nên khi xét xử các tranh chấp về HN &
GĐ, Toà án phải vận dụng các Nghị quyết của HĐTP, thậm chí các báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án hằng năm
- Hơn nữa, Luật HN & GĐ năm 1986 được xây dựng và ban hành trong thời kỳ Nhà nước ta bước đầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ bao cấp sang thị trường Vì vậy, không thể dự liệu được các ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường tới quan hệ HN & GĐ
Chính những điểm hạn chế của Luật HN & GĐ năm 1986 nên cần phải thay đổi cho phù hợp Trong hoàn cảnh đó, Luật HN & GĐ mới đã được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000 gồm 13 chương, 110 điều Luật HN & GĐ năm 2000 đã đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội hiện nay, nó được kế thừa, phát triển và mở rộng hơn, cụ thể hơn, chi tiết hơn so với Luật
HN & GĐ năm 1986 Nhiều vấn đề được quy định đã phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đổi mới của đất nước ta hiện nay
Chế định ly hôn được quy định đầy đủ, cụ thể tại chương X Căn cứ ly hôn được quy định thành một điều riêng (Điều 89) với nội dung cũng tương
Trang 35tự như trong quy định của Luật HN & GĐ năm 1959 và Luật HN & GĐ năm
1986 Tuy nhiên, Luật HN & GĐ năm 2000 còn quy định một căn cứ ly hôn nữa đó là trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn Đây là một điểm tiến bộ của Luật HN & GĐ năm 2000 so với các Luật HN & GĐ trước đó về cả nội dung
và kỹ thuật lập pháp
Luật HN & GĐ năm 2000 không đặt ra vấn đề công nhận hôn nhân thực
tế để giải quyết việc ly hôn; khuyến khích hoà giải ở cơ sở, quy định việc hoà giải ở Toà án ngay cả đối với trường hợp thuận tình ly hôn; thu hẹp phạm vi hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng
Về các trường hợp ly hôn thì cũng không có gì khác với những Luật HN
& GĐ trước đó khi quy định ly hôn có thể do một bên yêu cầu hoặc là thuận tình ly hôn Như vậy, dù đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần nhưng Luật HN &
GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay quy định về căn cứ xin ly hôn vẫn giữ nguyên quan điểm là dựa vào thực trạng của cuộc hôn nhân để công nhận tính không thể tồn tại, tự hôn nhân đã đổ vỡ của pháp luật
Tóm lại, căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn đã được quy định trong pháp luật HN & GĐ của Nhà nước ta trong suốt cả quá trình lịch sử từ thời kỳ Nhà nước phong kiến cho đến tận ngày nay Điều đó cho thấy tầm quan trọng
và ảnh hưởng rất lớn của pháp luật HN & GĐ nói chung và các quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn nói riêng trong đời sống
xã hội của nhân dân ta
1.3 Khái quát một số nét về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật một số nước trên thế giới
Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật một số nước trên thế giới có nhiều điểm giống và cũng có nhiều điểm khác với pháp luật Việt Nam, tuỳ thuộc vào truyền thống gia đình, điều kiện kinh tế, xã hội, tâm lý
Trang 361.3.1 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Thái Lan
Ở Thái Lan, pháp luật quy định các căn cứ để đương sự kiện đòi ly hôn
và cũng là những căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào để giải quyết việc ly hôn Tuy nhiên không phải căn cứ nào đương sự đưa ra để kiện đòi ly hôn Toà án cũng chấp nhận, nếu như “lỗi” mà một bên đưa ra đã được bên kia chấp chấp nhận hoặc đồng loã, như người chồng đã nuôi dưỡng hoặc thờ phụng một người đàn bà như vợ mình hoặc người vợ có ngoại tình mà bên kia đã bỏ qua thì không thể kiện đòi ly hôn đồng nghĩa với việc Toà án không giải quyết việc ly hôn
Trong các căn cứ trên luật của Thái Lan cũng quy định ly thân là một căn
cứ để kiện đòi ly hôn trong rất nhiều căn cứ có thể kiện đòi ly hôn Khi vợ chồng đã tình nguyện sống ly thân trong hơn 3 năm mà vẫn không thể quay
về với nhau để chung sống hạnh phúc hoặc sống ly thân hơn 3 năm theo quyết định của Toà án thì có thể ly hôn Giống như quy định của pháp luật nhiều nước khác, điều này chúng ta cần học tập và nên được quy định trong Luật
HN & GĐ để điều chỉnh vấn đề này khi nó đang tồn tại và là một thực trạng cần giải quyết trong đời sống HN & GĐ ở nước ta hiện nay
Pháp luật Thái Lan cũng quy định khi vợ hoặc chồng bị tuyên là mất tích, hoặc đã bỏ nơi cư trú của mình hơn 3 năm và không biết chắc chắn người đó còn sống hay đã chết thì người vợ hoặc người chồng của người đó
có quyền xin ly hôn Điều này là hoàn toàn hợp lý khi sự mất tích của người
vợ hoặc người chồng đó sẽ không thể duy trì được cuộc sống vợ chồng và mục đích của hôn nhân không đạt được thì cần phải cho họ ly hôn để giải phóng tình trạng đó
Pháp luật Thái Lan cũng quy định về các trường hợp ly hôn: đó là ly hôn
do yêu cầu của một bên (vợ hoặc chồng có thể kiện đòi ly hôn khi có những căn cứ quy định tại Điều 1516 BLDS và TM Thái Lan) và trường hợp thuận tình ly hôn (ly hôn có sự đồng ý của cả hai bên) Trong trường hợp ly hôn có
Trang 37sự đồng ý của cả hai bên, thì hai vợ chồng phải có một thoả thuận bằng văn bản về việc thực thi quyền bố mẹ đối với mỗi đứa con Nếu không có sự thoả thuận này, hoặc không đạt được sự thoả thuận nào về việc nuôi con thì vấn đề
đó sẽ do Toà án quyết định Trong trường hợp ly hôn theo phán quyết của Toà
án, thì Toà án nơi xét xử vụ ly hôn đó đồng thời cũng ra quyết định về quyền của bố mẹ đối với mỗi đứa con thuộc về bên này hay bên kia Nếu trong quá trình xét xử nhận ra rằng phải tước quyền bố mẹ của người vợ hoặc người chồng thì Toà án có thể ra quyết định tước quyền bố mẹ của người vợ hoặc người chồng đó và chỉ định một người thứ ba làm người giám hộ có tính đến hạnh phúc và quyền lợi của đứa trẻ[29, tr 412] Tuy nhiên, cũng vì quyền lợi
và hạnh phúc của đứa trẻ quy định này của pháp luật không cứng nhắc khi người thực thi quyền bố mẹ hoặc người giám hộ có cách cư xử không xứng đáng hoặc có sự thay đổi hoàn cảnh sau khi chỉ định thì Toà án có quyền ra quyết định chỉ định người giám hộ mới, có tính đến hạnh phúc và quyền lợi của đứa trẻ Quy định này của pháp luật Thái Lan có điểm giống với quy định của pháp luật nước ta trong trường hợp thuận tình ly hôn đối với vấn đề con cái đó là nếu thuận tình ly hôn nhưng không thoả thuận được vấn đề con cái thì vấn đề đó sẽ do Toà án giải quyết Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của trẻ em khi bố mẹ ly hôn Nhưng cũng có điểm khác là trong khi xét xử Toà án nhận ra rằng phải tước quyền bố mẹ của người vợ hoặc người chồng thì Toà án sẽ quyết định và chỉ định một người thứ ba làm người giám hộ có tính đến hạnh phúc và quyền lợi của đứa trẻ Điều này chưa được quy định trong pháp luật nước ta nhưng ta cũng có thể lưu ý để học tập trong quá trình hoàn thiện pháp luật của mình, bởi lẽ khi bố mẹ chia tay nhau, điều bất hạnh nhất phải kể đến là những đứa con Chúng không còn được sống cùng một nhà với cả bố và mẹ nữa, mà phải chia lìa có thể sống với bố hoặc
mẹ nhưng thậm chí những người bố, người mẹ trong cuộc chia tay đó cũng
Trang 38giảm bớt những bất hạnh của những đứa trẻ ấy Chúng đã không được ở với
bố hoặc mẹ nữa nhưng nếu những người bố hoặc mẹ này không còn đủ tư cách nữa thì tước luôn quyền bố mẹ của họ để thay thế bằng quyền giám hộ của người thứ ba, như vậy quyền lợi của đứa trẻ có khi được bảo đảm hơn
1.3.2 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật của Pháp
Theo Điều 229 BLDS Pháp có thể giải quyết ly hôn trong các trường hợp sau:
-Vợ chồng thuận tình ly hôn;
- Vợ chồng chấp nhận nguyên tắc chấm dứt hôn nhân;
- Cuộc sống chung hoàn toàn chấm dứt;
- Ly hôn do lỗi
Về căn cứ ly hôn, Điều 233 BLDS Pháp quy định: “Vợ hoặc chồng hoặc
cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn nếu họ chấp nhận nguyên tắc chấm dứt hôn nhân mà không cần tính đến các sự việc dẫn đến ly hôn Nếu có cơ sở xác định rằng vợ và chồng đều tự nguyện chấp nhận nguyên tắc chấm dứt hôn nhân thì Thẩm phán cho ly hôn và quyết định các hệ quả của việc ly hôn” Ở đây người ta không quan tâm đến thực trạng của cuộc hôn nhân mà chỉ dựa vào ý chí của các bên trong quan hệ, cái chính là thể hiện việc đề cao cái tôi cá nhân như đã nói ở trên Quy định này khác với quy định về căn cứ ly hôn ở nước ta Quan điểm của Nhà nước ta cho phép vợ chồng có quyền được tự do ly hôn khi có căn cứ xác định rằng cuộc hôn nhân của họ là đã “chết”, sự tồn tại chỉ là bề ngoài, hình thức Do đó căn cứ xin ly hôn theo pháp luật nước ta xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân khi
“tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” thì cho ly hôn
Một căn cứ mà BLDS Pháp quy định đó là ly hôn do chấm dứt hoàn toàn cuộc sống chung Điều 237 BLDS Pháp quy định: “Vợ hoặc chồng có quyền
Trang 39yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn nếu cuộc sống chung giữa vợ chồng đã hoàn toàn chấm dứt”
Cuộc sống chung giữa vợ chồng được coi là hoàn toàn chấm dứt khi hai
vợ chồng đã sống riêng biệt từ hai năm trở lên, tính đến thời điểm có quyết định triệu tập ra Toà để giải quyết việc ly hôn [28, tr.177 ] Nói cách khác đây chính là sự cải hoán ly thân thành ly hôn đã được nói tới trong Bộ dân luật
1972 của Chính quyền Nguỵ Sài Gòn
Theo pháp luật của Pháp, vợ chồng có thể ly hôn do lỗi Lỗi ở đây được định nghĩa là “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hoặc vi phạm nhiều lần các nghĩa vụ hôn nhân, khiến cho đời sống chung giữa vợ chồng không thể kéo dài” [28, tr.178] Lỗi ở đây có thể là lỗi của một trong hai bên hoặc cả hai bên
vợ chồng
Và ngay cả người có lỗi cũng có quyền yêu cầu ly hôn Điều 245 BLDS Pháp quy định: “Dù người vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn là người có lỗi thì yêu cầu ly hôn của của người đó vẫn được xem xét; tuy nhiên, lỗi này có thể làm giảm bớt tính chất nghiêm trọng của các sự việc mà người đó viện dẫn để quy kết cho người kia làm căn cứ cho yêu cầu ly hôn
Lỗi này cũng có thể do bên kia nêu ra trong yêu cầu phản tố Nếu cả hai yêu cầu cùng được thụ lý thì Toà án sẽ xử cho ly hôn do lỗi của cả hai bên” Như vậy, lỗi của các bên đều có thể được Toà án thụ lý trong đơn yêu cầu ly hôn của họ Căn cứ ly hôn của pháp luật HN & GĐ nước ta không quy định yếu tố lỗi là căn cứ ly hôn, bởi lỗi trong quan hệ hôn nhân chưa phải là yếu tố dẫn đến cuộc hôn nhân đã “chết” và phải loại bỏ
Luật của Pháp quy định về sự thuận tình ly hôn của vợ chồng như sau: Nếu vợ chồng đã thoả thuận với nhau về việc chấm dứt hôn nhân và hệ quả của việc chấm dứt hôn nhân, thì có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn
và phê chuẩn thoả thuận giải quyết các hệ quả của việc ly hôn Thẩm phán
Trang 40định rằng vợ và chồng thực sự muốn ly hôn và quyết định thuận tình ly hôn của họ là hoàn toàn tự nguyện [28, tr.175] Thẩm phán chỉ có thể từ chối phê chuẩn thoả thuận của các bên và không giải quyết ly hôn nếu thoả thuận này không đảm bảo lợi ích của con hoặc của một trong hai bên Quy định này vừa
có điểm giống vừa khác so với quy định của pháp luật nước ta Trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật nước ta, nếu không thoả thuận được các vấn
đề về tài sản, con cái hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án sẽ quyết định những vấn đề này như giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên chứ không từ chối phê chuẩn thoả thuận và không giải quyết ly hôn theo như luật của Pháp Bởi lẽ họ không thể thoả thuận được hoặc thoả thuận không hợp lý thì giúp họ đạt được sự công bằng mà chính cũng là để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em chứ cuộc hôn nhân của họ thực sự là đã “chết” cần phải giải phóng cho họ về tất cả các phương diện
1.3.3 Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Nhật Bản
Điều 170 BLDS Nhật Bản quy định: “Chồng hoặc vợ chỉ có quyền kiện đòi ly hôn trong những trường hợp sau đây:
1 Nếu một trong hai người bị bên kia ngược đãi, hành hạ thậm tệ
2 Một trong hai người có hành vi không chung thuỷ
3 Nếu một trong hai người trong ba năm liền không rõ còn sống hay đã chết
4 Một trong hai người bị bệnh tâm thần mà không có khả năng chữa trị 5.Tồn tại lý do dẫn đến các bên không thể tiếp tục hôn nhân.”
Tuy nhiên pháp luật Nhật Bản cũng quy định nếu vợ hoặc chồng kiện đòi ly hôn với bốn trường hợp quy định tại khoản 1 đến khoản 4 nói trên mà Toà án xét thấy việc tiếp tục hôn nhân là đúng khi căn cứ vào mọi hoàn cảnh thì Toà án có thể không thụ lý đơn kiện đòi ly hôn, nghĩa là các đương sự không thể ly hôn Điều này giống quy định của pháp luật nước ta Giải quyết