Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1 Khái n.
Trang 1Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
1.1 Khái niệm nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của mộthoạt động nào đó Hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật là những hoạt động thựctiễn có tính khoa học, nên cũng phải tuân theo các nguyên tắc pháp luật nhất định Đó
là những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, xuyên suốttoàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là giám sát, kiểm tra tính hợppháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng,đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể tiến hành tốtụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước, một trong những hoạt độngthực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND Mục đích của hoạtđộng KSVTTPL trong TTDS là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thểtiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sựđược thực hiện theo quy định của pháp luật Nội dung hoạt động KSVTTPL trongTTDS là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quyđịnh để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tốtụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hànhnghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền vàlợi ích hợp pháp của các đương sự
Như vậy, có thể rút ra được định nghĩa của nguyên tắc này như sau: “Nguyên
tắc KSVTTPL trong tố tụng dân sự là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình TTDS; là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) do chủ thể duy nhất là VKSND thực hiện thông qua việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do pháp luật TTDS quy định đề ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ
Trang 2việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.” 1
1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Việc ghi nhận KSVTTPL trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa TTDS có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở các nội dung sau đây:
Một là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là sự cụ thể hóa quy định của Hiến
pháp năm 2013 về nhiệm vụ và chức năng của VKSND
Hai là, Nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là một hình thức kiểm soát việc
thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hoạt động tư pháp giải quyết các vụ việcdân sự Đồng thời là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) bảo đảm cho việc giải quyết
vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợiích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Hoạt động KSVTTPLtrong TTDS góp phần phát hiện và đẩy lùi sự lạm quyền, những tiêu cực, vi phạmtrong quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, người tiến hành tố tụng và ngườitham gia tố tụng, qua đó bảo vệ tính tối thượng của pháp luật, đảm bảo cho pháp luậtđược thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Ba là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS thể hiện sự can thiệp của nhà nước
vào lĩnh vực TTDS trong đó có việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý củaVKSND
Bốn là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là nền tảng, định hướng, cơ sở cho
việc xây dựng các quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn và các biện pháp màVKSND tiến hành KSVTTPL đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng, người tham gia tố tụng trong quá trình TTDS giải quyết vụ việc dân sự
Năm là, việc vi phạm nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS có thể là căn cứ để
huỷ bỏ phán quyết của Toà án
2 Cơ sở của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Việc ghi nhận nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS xuất phát từ những cơ sở lýluận sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các cơ
1 Phạm Vũ Ngọc Quang (2013), Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ học,
Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 3quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Với bất kì cơ quan nhà nước nào cũng đều tồn tại các bộ phận quản lý, kiểm tra,giám sát cơ quan đó, chúng ta thường gọi đó là cơ chế tự kiểm tra, giám sát từ bêntrong của hệ thống Tuy nhiên, cơ chế này luôn tồn tại những yếu tố chủ quan, khókiểm soát được hoạt động của chính mình dẫn đến sự lạm quyền, vi phạm pháp luật
Để khắc phục tình trạng này, cần có một bên giám sát từ bên ngoài do một cơ quanchuyên trách thực hiện để thể hiện được sự công bằng, phân mình trong giám sát, kiểmtra
Hoạt động TTDS giải quyết các vụ việc dân sự của TAND là một trong nhữnghoạt động tư pháp thực hiện quyền lực Nhà nước và hoạt động này có ảnh hưởng trựctiếp đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân Những sai sót, vi phạm trong hoạt độnggiải quyết các vụ việc dân sự luôn có khả năng hạn chế quyền của các đương sự, gâythiệt hại cho người khác, làm giảm niềm tin của nhân dân vào công lý Chính vì vậy,
để hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự có hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời, đúngpháp luật, thì hoạt động này cần thiết phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chếkhác nhau, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong và cơ chế kiểm tra, giám sát từbên ngoài Đặc biệt phải thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên, cótính chuyên nghiệp cao Trong điều kiện cụ thể của nước ta, cơ chế đó chính là hoạtđộng KSVTTPL trong TTDS của VKSND
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu pháp chế và chức năng, nhiệm vụ của VKSND do
pháp luật quy định
Ở nước ta, một trong những hình thức của cơ chế kiểm tra, giám sát từ bênngoài đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức đó là hoạt động KSVTTPL củaVKSND Sự ra đời, tồn tại và phát triển của VKSND ở nước ta gắn với quá trình xâydựng và phát triển nhà nước Việt Nam và xuất phát từ quan điểm của Lênin về Nhànước và Pháp luật Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, mặc dù chức năngcủa VKS có sự điều chỉnh, song, yêu cầu kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung vàtrong lĩnh vực tư pháp dân sự nói riêng luôn đặt ra và được pháp luật ghi nhận.KSVTTPL trong TTDS xuất phát từ chức năng KSVTTPL, kiểm sát các hoạt dộng tưpháp và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của VKSND
Việc ghi nhận nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là xác định cơ chế kiểm soátquyền lực tư pháp để tránh sự lạm quyền, tiêu cực của Tòa án trong quá trình giảiquyết vụ việc dân sự; bảo đảm việc tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quyền tố tụng củađương sự; bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của đương sự, nhất là trường hợp đương sự làngười yếu thế (người mất năng lực hành vi, người có nhược điểm thể chất, tâm thần,
Trang 4người chưa thành niên ), không thể tham gia tố tụng (trường hợp 15 tuyên bố mộtngười đã chết hoặc mất tích) hoặc kém hiểu biết về luật pháp KSVTTPL trong TTDScòn là cơ chế bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa quyền tự định đoạt của đương sự và sựcan thiệp của nhà nước đế bảo vệ công lý
Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm chế độ chính trị và nguyên tắc tổ chức thực hiện
quyền lực nhà nước ở nước ta
Đối với hoạt động tư pháp, bao gồm các lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự, tốtụng dân sự, tố tụng hành chính giải quyết các vụ án hình sự (khởi tố, điều tra, giam,giữ, truy tố, xét xử ), các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và thi hành án, Quốc hộiphân công cho VKS thực hiện KSVTTPL, bảo đảm cho pháp luật trong lĩnh vực hoạtđộng tư pháp được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Do đó, kiểm sát các hoạtđộng tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (quyền giám sát) do Quốc hộigiao cho VKS Vì vậy, chừng nào còn thừa nhận chế độ nhất nguyên về chính trị vớivai trò lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, vận dụng nguyêntắc quyền lực nhà nước là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,thì việc quy định VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp nóichung và KSVTTPL trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói riêng với tính cáchmột nguyên tắc của TTDS là phù hợp và rất cần thiết
Thứ tư, xuất phát từ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng,
hoàn thiện bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN, mà một trong những nội dung cốt lõi chính là sự quản lý nhà nước và
xã hội bằng pháp luật, sự tuân theo pháp luật triệt để của các cơ quan nhà nước, các tổchức và công dân phải đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật Nội dung này đặt ranhiều yêu cầu nặng nề, mà một trong những nhiệm vụ đó là phải xây dựng một cơ chếbảo đảm sự tuân thủ pháp luật và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật, bảo vệquyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm sự an toàn và môi trường pháp lý đáng tin cậytrong mọi hoạt động của đời sống xã hội Trong các cơ chế để bảo đảm thực hiện yêucầu nêu trên, thì cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nướcđóng một vai trò rất quan trọng Tại Điều 107 Hiến pháp 2013 đã quy định VKSND là
cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nguyên tácKSVTTPL được ghi nhận chính là sự cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, đường lối củaĐảng về cải cách tư pháp cũng như làm rõ được nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND
2.2 Cơ sở thực tiễn của việc ghi nhận nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Trang 5Ngoài cơ sở lý luận trên đây, việc quy định nguyên tắc KSVTTPL trong tố tụngdân sự còn xuất phát từ những cơ sở thực tiễn sau:
Thứ nhất, xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể của nước ta
Nền kinh tế nước ta có xuất phát điểm chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạchậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, vừa thoát ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, đờisống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sự hiểu biết về pháp luật của người dâncòn thấp, đặc biệt là nhân dân ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Khitrình độ dân trí còn hạn chế thì người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứngminh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án và với thu nhập của
đa số người dân còn thấp nên họ không có điều kiện mời Luật sư bảo vệ quyền lợi chomình khi có tranh chấp Trong điều kiện như vậy, cần phải có cơ chế kiểm tra, giámsát từ bên ngoài hệ thống để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự nhanhchóng, kịp thời, đúng pháp luật, nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, đặc biệt là những người yếu thế, không thể tham gia tố tụng và hiểu biết vềpháp luật kém Một trong những cơ chế hữu hiệu, đó chính là hoạt động KSVTTPLtrong TTDS của VKS
Thứ hai, kế thừa và phát huy thành tựu đã đạt được của VKS qua hơn 61 năm
xây dựng và trưởng thành
Mục tiêu quán xuyến của hoạt động KSVTTPL trong TTDS là bảo vệ quyền sởhữu hợp pháp về tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân và tổ chức trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh thương mại, lao động Hiện nay, thực hiện BLTTDS năm 2015, hoạt độngkiểm sát tập trung kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, chủ động nắm các khiếu nạicủa đương sự đối với việc thu thập chứng cứ của Tòa án để yêu cầu xác minh; công táckháng nghị được chú trọng Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việcdân sự, Viện kiểm sát đã ban hành hàng nghìn bản kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phụccác vi phạm Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS đã gópphần quan trọng vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, đấu tranh bảo vệ tính nghiêm minhcủa pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo
vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và
tổ chức
Thứ ba, xuất phát từ các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng và phức tạp,
trong khi đó việc giải quyết của Tòa án còn nhiều sai sót cần phải có cơ chế giám sát,kiểm sát
Trang 6Trong giai đoạn đất nước thực hiện các công cuộc đổi mới, toàn hiện và hộinhập quốc tế, nền kinh tế chuyển đổi dẫn đến sự gia tăng của các tranh chấp dân sự vàngày càng phức tạp hơn Cùng với đó thì vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức và bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời
và đúng pháp luật là yêu cầu quan trong trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách
tư pháp, đặc biệt là bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ những người yếu thế và ngườihiểu biết pháp luật kém Trong khi đó trong thực tiễn cho thấy, tình trạng các vụ việcdân sự bị xử lý thiếu khách quan, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tỷ lệ bản án,quyết định dân sự của Tòa án bị hủy, bị sửa do có sai sót ngày càng tăng Những hạnchế này xuất phát từ cả về nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan Chính
vì vậy, cần thiết phải ghi nhận nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS theo hướng mở rộngphạm vi tham gia và thẩm quyền của VKSND, tạo cơ chế thuận lợi để VKSND bảo vệ
có hiệu quả lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức, kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm của Tòa án trong quá trình giảiquyết vụ việc dân sự
II NỘI DUNG NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Tòa án cấp sơ thẩm
1.1 Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự và trả lại đơn kiện
Quyền khởi kiện vụ án dân sự hay yêu cầu giải quyết việc dân sự là quyền tốtụng quan trọng của các chủ thể để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trướcToà án Từ việc thực hiện quyền này của các chủ thể sẽ dẫn đến việc Tòa án có thẩmquyền nhận được hồ sơ vụ việc dân sự Tuy nhiên, điều đó chưa có nghĩa là vụ việcdân sự đã phát sinh tại Tòa án Để vụ việc dân sự này thực sự thuộc trách nhiệm giảiquyết của Tòa án thì Tòa án phải tiến hành một loại hoạt động, được gọi là thụ lý vụviệc dân sự
Thụ lý vụ việc dân sự là hoạt động TTDS do TAND tiến hành nhằm xác địnhcác điều kiện cần thiết của việc khởi kiện, yêu cầu (đơn khởi kiện vụ án dân sự, đơnyêu cầu giải quyết việc dân sự) để vào sổ thụ lý vụ việc dân sự theo quy định của phápluật Nếu không có hoạt động thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án thì sẽ không có cáchoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình tố tụng Việc thụ lý vụ việc dân sự có ý nghĩarất quan trọng, thể hiện ở chỗ: Thời điểm thụ lý vụ việc dân sự là thời điểm tính các
Trang 7thời hạn tố tụng; bảo đảm việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các chủthể.2
Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từngày thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn,
bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết
vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự Văn bảnthông báo phải có đầy đủ các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 196 BLTTDS.Kiểm sát việc thụ lý là trách nhiệm của VKSND đã được pháp luật quy định trước khi
có BLTTDS Tại khoản 2 Điều 27 Luật tổ chức VKSND 2014 đã quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát vụ việc dân sự đó là “Kiểm sát việc thụ lý,
giải quyết vụ án, vụ việc” Kiểm sát thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án là hoạt động đầu
tiên của Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS
Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiệncủa Tòa án, KSV, cán bộ phải vào sổ thụ lý theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo thụ lýtheo những nội dung được quy định tại Điều 196 BLTTDS năm 2015; lập phiếu kiểmsát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án các vi phạm về thời hạn gửithông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định chuyển vụ án của Toàán; xem xét kiến nghị với Chánh án Tòa án về việc trả lại đơn khởi kiện theo quy địnhtại Điều 194 BLTTDS năm 2015 Trường hợp Toà án không gửi, chậm gửi thông báothụ lý hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự cho VKS hoặc nội dung, hìnhthức thông báo không đúng quy định của pháp luật thì VKS có quyền yêu cầu hoặckiến nghị với Toà án khắc phục vi phạm
Hoạt động thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án được tiến hành bởi nhiều thủ tục,trong đó có việc trả lại đơn Ở BLTTDS năm 2015 đã có một số thay đổi nhất địnhkhắc phục được phần nào hạn chế của Bộ luật cũ, phục vụ hiệu quả cho công tác kiểm
tra, đánh giá sau này Theo Khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015 thì: “Khi trả lại
đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.”.
Việc sao chụp là lưu tại Tòa án đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trảlại cho người khởi kiện sẽ giúp cho VKS dễ dàng hơn trong việc kiểm sát căn cứ trả lạiđơn của Tòa án, kịp thời phát hiện vi phạm và thực hiện quyền yêu cầu hoặc kiến nghịkhắc phục vi phạm (nếu có) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi
2 Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
Trang 8kiện, người yêu cầu; mặt khác đảm bảo việc thụ lý, giải quyết của Tòa án đúng quyđịnh của pháp luật Bên cạnh đó BLTTDS năm 2015 đã kéo dài thời hạn VKS cóquyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện là 10 ngày làm việc (trước đây quyđịnh là 03 ngày làm việc) Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lạiđơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giảiquyết khiếu nại, kiến nghị Và trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phâncông, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị Phiênhọp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện VKS cùngcấp3 Trong thời hạn 10 ngày (trước đây quy định là 07 ngày làm việc), kể từ ngàynhận được quyết định trả lời kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán,VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giảiquyết Bộ luật này còn bổ sung quy định sau: Trường hợp có căn cứ xác định quyếtđịnh giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định có vi phạm phápluật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyềnkhiếu nại, VKS có quyền kiến nghị với Chánh án TAND cấp cao nếu quyết định bịkhiếu nại, kiến nghị là của Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc với Chánh án TAND tối caonếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án TAND cấp cao.4
Như vậy, kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự là thẩm quyền và trách nhiệm củaVKS Việc Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp về việc thụ lý vụviệc dân sự để kiểm sát việc thụ lý là nghĩa vụ của Tòa án Kiểm sát việc thụ lý có ýnghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động của Tòa án được chính xác vàxác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án; là điều kiện để KSV nắm bắt kịpthời nội dung, tình tiết, chứng cứ ban đầu của vụ việc dân sự; ngăn chặn kịp thời, hạnchế vi phạm, sai sót có thể xảy ra ngay từ hoạt động đầu tiên của quá trình TTDS giảiquyết vụ việc dân sự từ đó tránh được tình trạng phải tiến hành các thủ tục tố tụng kéodài, không cần thiết, tiết kiệm được thời gian, tiền của, bảo vệ quyền lợi chính đángcủa các bên đương sự Tuy nhiên, quy định của BLTTDS về kiểm sát việc thụ lý chưathực sự bảo đảm cho VKS thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát, bởi một mặt quyđịnh quyền hạn của VKS như vậy nhưng pháp luật TTDS lại không quy định mangtính ràng buộc đối với Tòa án Vì thế, quy định về việc thông báo thụ lý vụ việc dân sựthiếu những ràng buộc cụ thể khi Tòa án không chuyển hoặc chuyển chậm cho VKSthông báo thụ lý Có thể nói quy định kiểm sát thụ lý trong chừng mực nào đó cònmang tính hình thức
3 Điều 194 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
4 Khoản 7 Điều 194 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trang 91.2 Kiểm sát các hoạt động chuẩn bị xét xử
1.2.1 Kiểm sát các quyết định của Tòa án
Để đảm bảo việc ra quyết định của Tòa án trong trong thời gian chuẩn bị xét xử
có căn cứ và đúng pháp luật, BLTTDS quy định các văn bản này phải được gửi kịpthời cho VKS để thực hiện chức năng Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bao gồm:
- Quyết định nhập hoặc tách vụ án dân sự phải được gửi ngay cho VKS cùngcấp (Khoản 3 Điều 42 BLTTDS năm 2015) VKSND có trách nhiệm kiểm sát tính cócăn cứ và tính hợp pháp của quyết định tách hoặc nhập vụ án
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời gửi ngaycho VKS sau khi ra quyết định (Khoản 2 Điều 139 BLTTDS năm 2015)
Trong quá trình giải quyết vụ việc, đôi khi Tòa án phải quyết định áp dụng mộthoặc một số biện pháp cần thiết để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệtính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạnghiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ
án hoặc việc thi hành án Các biện pháp này được gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 139 của BLTTDS năm 2015 quy định về Hiệu lực của quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thì VKSND không có quyền yêu cầu Tòa
án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà VKS chỉ kiểm sát quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, trên cơ sở đó nếu phát hiện
có sai sót thì VKS kiến nghị với Chánh án tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này chỉ mang tínhhình thức mà không có sự ràng buộc nào đối với Tòa án, vì thế làm hạn chế quyềnnăng của VKSND trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, khiến choVKS bị bị động khi phát hiện những hành vi xâm hại đến lợi ích của đương sự trongquá trình tham gia TTDS
- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải gửi cho VKS cùngcấp trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định (Khoản 1 Điều 212BLTTDS năm 2015)
Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyếttrong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này chưa có giá trị pháp
lý, mà mới chỉ là văn bản xác định sự kiện các đương sự thỏa thuận và là cơ sở để Tòa
án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự BLTTDS quy định dànhcho các đương sự thời gian cần thiết để họ suy nghĩ, cân nhắc lại những nội dung đãthỏa thuận Hết thời hạn đó mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Tòa án mới
Trang 10ra quyết định công nhận sự thỏa thuận Quyết định này phải gửi cho VKS cùng cấptrong thời hạn 05 ngày làm việc.5
VKS có trách nhiệm kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự Điều này được thể hiện ở chỗ VKS kiểmtra, xác định xem các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết một phần haytoàn bộ vụ án (vì Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án); nộidung thỏa thuận có thuộc trường hợp không được hòa giải không; Sự thỏa thuận có dođương sự bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội không
Do quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay,nên thông qua hoạt động kiểm sát, nếu phát hiện quyết định đó là trái pháp luật thìVKS chỉ có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì hoạt động kiểm sát quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự của VKS cấp sơ thẩm gặp phải không ít khókhăn trong thực tế Bởi vì, trong xu thế các quan hệ dân sự ngày càng chồng chéo, đanxen các mối quan hệ dẫn đến các vụ án dân sự tăng thêm tính chất phức tạp, nếu chỉkiểm sát Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự dựa trên việc nghiêncứu Quyết định này, nhiều khi, VKS cấp sơ thẩm không thể phát hiện được có thiếusót, vi phạm đủ làm căn cứ để báo cáo cấp trên thực hiện quyền kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm
- Quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Tạm đình chỉ và đình chỉ là những quyết định quan trọng bởi việc Tòa án đìnhchỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng có thể sẽ làm ảnh hưởng tới quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy VKS có trách nhiệm kiểm sát quyết định tạmđình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Theo quy định tạiKhoản 2 Điều 214 BLTTDS năm 2015 thì quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ phải đượcgửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định6
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ ánquy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tụcgiải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhânkhởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sựhết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự Tòa án
5 Khoản 1 Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
6 Khoản 2 Điều 214, Khoản 3 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trang 11tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân
xử tại phiên tòa Quyết định đưa vụ án ra xét xử được gửi cho VKS để thực hiện kiểmsát thời hạn ra quyết định và nội dung quyết định Theo BLTTDS năm 2015 đã quyđịnh thời hạn đưa ra quyết định này tại Khoản 2 Điều 220, đó là trong thời hạn 03ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi cho VKS cùng cấp
1.2.2 Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ việc dân sự
Nhiệm vụ của VKSND trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là tiến hành kiểm sátcác hoạt động tố tụng của Tòa án về lập hồ sơ vụ án trên cơ sở các tài liệu mà Tòa ántập hợp được trong hồ sơ bao gồm: các biên bản hoạt động của Tòa án, các chứng cứcủa vụ án đã được thu thập và các tài liệu khác có liên quan Mục đích của việc kiểmsát lập hồ sơ của VKS nhằm bảo đảm việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa ánđược đầy đủ, chính xác và khách quan, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ ándân sự Khi nhận được hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển đến, KSV tham gia phiên tòaphải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ để nắm bắt đầy đủ nội dung vụ án, các quy định phápluật có liên quan theo trình tự sau:
Thứ nhất, làm rõ và hiểu được nội dung vụ án, xác định các vấn đề như yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, tính chất và nội dung tranh chấp
Thứ hai, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, người tham
gia tố tụng
Thứ ba, kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ có trong hồ sơ
1.3 Kiểm sát thủ tục tiến hành phiên tòa, phiên hợp sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân
1.3.1 Kiểm sát phiên tòa sơ thẩm
* Những vụ án dân sự phải có đại diện của VKS
Khoản 2 Điều 21 BLTTDS quy định: “Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ
thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến
7 Điều 216 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trang 12hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này”.
- Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 BLTTDS Tòa án cóthẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,thương mại và lao động Tuy nhiên, VKSND không tham gia tất cả các phiên tòa sơthẩm giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do phápluật quy định Điều 21 BLTTDS, Thông tư liên tịch số 02/2016, Quy chế kiểm sát dân
sự ban hành kèm theo Quyết định 364/QĐ-VKSNDTC và phải hiểu rõ bản chất cácquy định về các trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa Cụ thể:
Trường hợp thứ nhất, Vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ
Trong trường hợp này, bất cứ vụ án dân sự nào Tòa án tiến hành thu thập chứng
cứ thì VKS có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa Việc thu thập chứng cứ để giảiquyết vụ án dân sự có nhiều cách thức khác nhau như: Tòa án thu thập theo yêu cầucủa đương sự hoặc thu thập theo yêu cầu của VKS hoặc Tòa án tự thu thập khi xétthấy cần thiết Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án có thể thông qua một hoặc một sốbiện pháp quy định tại Điều 97 và được quy định cụ thể từ Điều 98 đến Điều 106BLTTDS 2015
Trường hợp thứ hai, Vụ án mà đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở
- Đối tượng tranh chấp là tài sản công: tài sản công là tài sản thuộc hình thức sởhữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệpcông lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được hình thành từ nguồn dongân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
- Đối tượng tranh chấp là lợi ích công cộng: Lợi ích công cộng là những lợi íchvật chất hoặc tinh thần liên quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư
Trang 13- Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật, đó làcác tranh chấp về quyền sử dụng đất (ai là người có quyền).
- Đối tượng tranh chấp là nhà ở: Đây là tranh chấp về sở hữu, đối tượng làquyền sở hữu về nhà ở (ai có quyền sở hữu căn nhà)
- Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặcnhà ở
KSV, KTV khi tiến hành công tác kiểm sát lưu ý: Đối với tranh chấp về hợpđồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, nhưng quyền sử dụng đất hoặcnhà ở đó không phải là đối tượng của hợp đồng, thì không thuộc trường hợp VKS phảitham gia phiên tòa sơ thẩm
Ví dụ: A vay ngân hàng B số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp chongân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị 1 tỷ đồng Đến thời hạn trả nợ, Akhông thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp
để thu hồi nợ nhưng không xử lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch,không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêucầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ Trong vụ án dân sự này,đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng chứ không phải là quyền sử dụngđất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp VKS phải tham giaphiên tòa
- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở;
- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là những
Trang 14người yếu thế, hạn chế về khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vìvậy, đối với những vụ án dân sự có một bên đương sự là những người này thì VKSNDphải tham gia phiên tòa nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Trường hợp thứ tư, Vụ án dân sự chưa có điều luật để áp dụng
Vụ án chưa có điều luật để áp dụng đó là những vụ án mà người khởi kiện yêucầu Tòa án giải quyết những tranh chấp đó chưa có điều luật điều chỉnh
Ví dụ: Tranh chấp về việc bốc mộ, chăm sóc mồ mả hay kiện đòi các giấy tờliên quan đến quyền sở hữu, quyền nhân thân, những tranh chấp này không thuộc quyđịnh tại Điều 26, 28, 30 và Điều 32 BLTTDS, trước đây Tòa án không giải quyết,nhưng đến nay, cho dù chưa có điều luật điều chỉnh, nhưng Tòa án vẫn phải thụ lý giảiquyết Đối với trường hợp này, VKS bắt buộc phải tham gia phiên tòa
Tại Điều 4 BLTTDS năm 2015 Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, trong đó Khoản 2 quy định rõ:“Tòa án không được từ chối giải quyết vụ
việc dân sự vì lí do chưa có điều luật để áp dụng” Vụ việc dân sự chưa có điều luật để
áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tạithời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tòa án giảiquyết chưa có điều luật để áp dụng Đây là trường hợp mà các nhà làm luật chưa dựliệu được để cụ thể hóa trong bộ luật, vì vậy có thể đây sẽ là những trường hợp có tínhchất phức tạp, khó khăn, nếu không được xem xét kỹ thì trong không ít vụ việc quyền
và lợi ích hợp pháp của người dân sẽ không được bảo vệ đúng đắn Thậm chí, có thểtạo nên những điều kiện phát sinh tiêu cực Do đó, đối với những vụ việc còn khá
“nhạy cảm” như vậy, việc VKS tham gia phiên tòa là rất cần thiết, nhằm đảm bảo việcxét xử được kịp thời và đúng pháp luật
* Hoạt động của VKS tại phiên tòa sơ thẩm
- Trước khi mở phiên tòa, trường hợp VKSND phải tham gia phiên tòa sơ thẩm
thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản của Tòa án cấp sơthẩm thông báo việc thụ lý vụ án dân sự, VKS phải gửi cho Tòa án văn bản phân côngKSV, KSV dự khuyết (nếu có) tham gia phiên tòa Khoản 2 Điều 232 BLTTDS năm
2015 quy định trong trường hợp KSV chính thức không thể tiếp tục tham gia phiên tòa
vì lý do nào đó hoặc bị thay đổi mà có KSV dự khuyết có mặt tại phiên tòa ngay từđầu thì KSV dự khuyết thay thế và phiên tòa được tiếp tục Bên cạnh đó, trong nhữngtrường hợp cần thiết như vụ án phức tạp, vụ án lớn dự định phải xét xử nhiều ngày thì
Trang 15ngoài KSV chính thức, Viện trưởng VKS còn có thể cử KSV dự khuyết để có thể thaythế KSV chính thức khi người này vì lý do nào đó mà không thể tiếp tục tham giaphiên tòa hoặc bị thay đổi
- Tại phiên tòa, VKS mà đại diện tham gia phiên tòa là KSV có nhiệm vụ Kiểmsát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia
tố tụng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa KSV đề nghị hoãn phiên tòa khi
có căn cứ do BLTTDS quy định Nếu phát hiện có sự vi phạm về thủ tục tố tụng tạiphiên tòa thì yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục kịp thời
Tham gia hỏi tại phiên tòa để góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án Thực tế
cho thấy, việc hỏi của Hội đồng xét xử có thể sẽ phiến diện theo nhận định chủ quancủa các thành viên Hội đồng xét xử, từ đó dẫn tới việc đánh giá thiếu khách quan, toàndiện về các tình tiết cần làm sáng tỏ của vụ án Mặc dù pháp luật cũng quy định cácđương sự có thể hỏi nhau sau khi Hội đồng xét xử hỏi nhưng do hạn chế về trình độ,kiến thức pháp luật nên đôi khi đương sự không thể biết hết được tình tiết nào cần làm
rõ và phải hỏi cách nào để thu nhận được những thông tin hữu ích nhất để bảo vệ tối
ưu quyền và lợi ích hợp pháp Thẩm quyền hỏi của KSV được quy định tại các Điều
249, 257 BLTTDS 2015
Phát biểu của KSV tại phiên tòa sơ thẩm là một thủ tục bắt buộc Phát biểu của
KSV tại phiên tòa giải quyết các vụ án dân sự là kết quả của hoạt động Kiểm sát việctuân theo pháp luật của VKS trong việc giải quyết các vụ án dân sự từ khi thụ lý vụ ánđến trước khi nghị án Vì vậy, tại phiên tòa, phát biểu của KSV chính là hình ảnh, làtiếng nói thể hiện quyền năng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tưpháp
Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy địnhcủa Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; đồng thờikhắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định tại Điều 234 của BLTTDS năm
2004, Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về phátbiểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ
án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến
về việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 262 Bộ luật TTDS và hướng dẫn tại
Trang 16Điều 28 của Thông tư liên tịch số; 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016.”8
Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, sau khi những người tham gia tốtụng trình bày, giải thích, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giảiquyết việc dân sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 369 BLTTDS
- Sau phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản,
có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải được gửi cho Tòa án trong thờihạn 05 ngày làm việc, và ngay sau khi kết thúc phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ việc dân
sự Việc này đòi hỏi KSV phải lập luận chặt chẽ, nội dung thống nhất và đề xuất chínhxác Trường hợp phải gửi ngay sau khi phiên tòa kết thúc, KSV sẽ không kịp bổ sung,hoàn thiện bài phát biểu cả về hình thức và nội dung, quan điểm giải quyết vụ án
* Kiểm sát kết quả (bản án, quyết định) của phiên tòa sơ thẩm
- Bản án sơ thẩm phải được gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn mười ngày,
kể từ ngày tuyên án.9
Bản án của Tòa án là văn bản áp dụng pháp luật, phản ánh kết quả giải quyết vụ
án dân sự của Tòa án Dù có tham gia hay không tham gia phiên tòa sơ thẩm thì Tòa
án vẫn phải gửi bản án sơ thẩm cho VKS VKS có trách nhiệm kiểm sát để bảo đảmtính có căn cứ và hợp pháp của bản án Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại như quy định hiệnhành về kiểm sát bản án (VKSND chỉ đọc bản án của Tòa án mà không được tiếp cận
hồ sơ hoặc không tiếp cận được biên bản phiên tòa trừ những trường hợp tham giaphiên tòa theo quy định của pháp luật TTDS) thì rất khó phát hiện vi phạm pháp luậtcủa Tòa án trong việc giải quyết vụ án
- Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án phải được gửi ngay cho VKS cùng cấptheo quy định tại Khoản 2 Điều 268 BLTTDS năm 2015
1.3.2 Kiểm sát phiên họp sơ thẩm
Pháp luật quy định sự tham gia của KSV tại phiên họp giải quyết việc dân sự lànhằm đảm bảo tính khách quan và tránh sự lạm quyền trong việc ra quyết định giảiquyết việc dân sự bởi do tính chất đặc thù của một số việc dân sự nên phiên họp có thể
không có mặt của tất cả các bên đương sự Tại BLTTDS năm 2015 quy định:“VKS
tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự” Như vậy VKSND được
tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự Về sự có mặt của KSV,
8 Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
9 Khoản 2 Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.