1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN – những vấn đề lý luận và thực tiễn

20 292 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 40,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tranh chấp kinh tế phát sinh giữa các quốc gia được xem là lĩnh vực phức tạp. Nếu các tranh chấp kinh tế không giải quyết thỏa đáng thì mối quan hệ giữa các bên sẽ bị ảnh hưởng xấu, trong khi Cộng đồng ASEAN đặt mục tiêu nỗ lực hướng tới xây dựng Cộng đồng kinh tế vào năm 2020. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra một cơ chế giải quyết các mâu thuẫn là vô cùng cần thiết. Vì vậy, các quốc gia thành viên của ASEAN đã nỗ lực hoàn thành điều đó

Trang 1

MỤC LỤC

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ CỦA CÁC

NƯỚC ASEAN 1

1 Khái niệm về cơ chế giải quyết tranh chấp 1

2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 2

II NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ASEAN 3

1 Phạm vi giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 3

2 Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 4

2.1 Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) 4

2.2 Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp (SEOM) 5

2.3 Ban Thư kí 6

2.4 Ban Hội thẩm Panel 6

2.5 Cơ quan phúc thẩm 7

3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 8

3.1 Giai đoạn tham vấn, trung gian hòa giải 8

3.2 Giai đoạn hội thẩm 10

3.3 Giai đoạn phúc thẩm 11

4 Thi hành phán quyết SEOM hoặc AEM 11

III THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ASEAN 12

1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế của các nước ASEAN 12

2 Đánh giá việc áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 15

2.1 Ưu điểm cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế 15

2.2 Nhược điểm cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế 16

3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong quá trình tham gia phát triển kinh tế khu vực, các nước ASEAN khó tránh khỏi những bất đồng căng thẳng trong việc giải quyết quyền lợi của các bên thực hiện các giao kết thuộc lĩnh vực kinh tế

Mặt khác, các tranh chấp kinh tế phát sinh giữa các quốc gia được xem là lĩnh vực phức tạp Nếu các tranh chấp kinh tế không giải quyết thỏa đáng thì mối quan hệ giữa các bên sẽ bị ảnh hưởng xấu, trong khi Cộng đồng ASEAN đặt mục tiêu nỗ lực hướng tới xây dựng Cộng đồng kinh tế vào năm 2020

Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra một cơ chế giải quyết các mâu thuẫn là vô cùng cần thiết Vì vậy, các quốc gia thành viên của ASEAN đã nỗ lực hoàn thành điều đó Việc nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN không chỉ có

ý nghĩa trong nghiên cứu lý luận mà còn có ý nghĩa trong việc áp dụng thực tiễn giải quyết tranh chấp và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp pháp lý

quốc tế Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để tìm hiểu kĩ và rút ra

những hiểu biết mới liên quan đến vấn đề này

B NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ASEAN

1 Khái niệm về cơ chế giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và thủ tục giải quyết tranh chấp cũng như thi hành phán quyết của

cơ quan giải quyết tranh chấp trong ASEAN1

Theo khoa học luật quốc tế Việt Nam, các nhà nghiên cứu luật có quan điểm cho rằng: “Tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ ASEAN chủ yếu được phân hóa thành hai loại, đó là tranh chấp kinh tế và tranh chấp chính trị - pháp lý Đối với

1 Trần Thị Thu Trà, Luận văn Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của hiệp hội các nước Đông Nam Á, tr 17

Trang 3

mỗi loại tranh chấp, ASEAN có các điều ước quốc tế chuyên môn để cơ quan thẩm quyền giải quyết2

Đặc biệt, với tranh chấp kinh tế của các quốc gia ASEAN, việc nghiên cứu tổng thể thống nhất các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình tự, thủ tục giải quyết được giải quyết theo Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/1/2004

2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp truyền thống của ASEAN là các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên phải được giải quyết bằng biền pháp hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau trên cơ sở hợp tác hiệu quả giữa các bên, tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận, kiềm chế không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng

vũ lực khi có tranh chấp3

Nhìn chung, các văn kiện của ASEAN về biện pháp giải quyết tranh chấp đều khuyến khích các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng thiện chí, quyết tâm để ngăn ngừa các diễn biến xấu

Theo Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali năm

1976 hay viết tắt là TAC) quy định về nguyên tắc chung khi có tranh chấp phát sinh, Hiệp ước Bali khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng trước khi lựa chọn các biện pháp khác Các bên tranh chấp có thể giải quyết bằng các biện pháp như đàm phán; trung gian hòa giải; trọng tài…

Trong Hiến chương ASEAN, các biện pháp giải quyết tranh chấp khá đa dạng Các bên có thể sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác nhau như đề nghị bên thứ ba, hòa giải, trung gian hoặc trọng tài Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tùy thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp

Ngoài ra, các bên có thể viện dẫn các hình thức giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc hoặc các văn bản luật quốc tế khác mà các quốc gia thành viên ASEAN là bên tranh chấp tham gia miễn là các

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Quốc tế (2013), NXB Công an Nhân dân

3 Trần Thăng Long, Về một số cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12/2006, tr.67

Trang 4

phương thức giải quyết quyết tranh chấp này đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của ASEAN là giải quyết bằng hòa bình

Theo đó, Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc quy định “Các bên đương sự

trong cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án,

sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình.”

Việc áp dụng giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN cũng tuân thủ quy định Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc Các biện pháp giải quyết tranh chấp kinh tế bao gồm giải quyết tranh chấp theo kênh tài phán và giải quyết theo kênh ngoài tài phán quy định cụ thể trong Nghị định thư năm 2004 Trong đó, các biện pháp giải quyết theo kênh ngoài tài phán thường được áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại – đầu tư ở các nước (chủ yếu là thương lượng, trung gian, hòa giải) theo quy định của Nghị định thư năm 2004

II NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH

TẾ CỦA CÁC NƯỚC ASEAN

1 Phạm vi giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN

Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/1/2004 đã xác định rõ phạm vi áp dụng giải quyết tranh chấp theo quy định tại Khoản 1 Điều

1 như sau: “Các quy định và thủ tục của Nghị định thư này được áp dụng đối với

các tranh chấp phát sinh theo các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của Hiệp định cũng như các hiệp định được nêu tại Phụ lục I và các hiệp định kinh

tế ASEAN trong tương lai (“các hiệp định liên quan”) Phạm vi giải quyết tranh

chấp của asean được quy định là những tranh chấp kinh tế thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN

Điều 24 Khoản 3 Hiến chương ASEAN quy định: “Nếu không có quy định

cụ thể khác, các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các hiệp định kinh tế ASEAN sẽ được giải quyết theo Nghị định thư ASEAN về Tăng cường

Cơ chế Giải quyết Tranh chấp.”

Trang 5

Nội dung quy định tại Điều 1 Nghị định thư 2004 về phạm vi giải quyết tranh chấp hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 24 Khoản 3 Hiến chương ASEAN Phạm vi giải quyết tranh chấp của Nghị định thư 2004 khá rộng, bao trùm các quan hệ kinh tế- thương mại đã quy định trong các hiệp định cụ thể như Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Hiệp định khung về dịch vụ (AFTA)…

Tuy nhiên, các Hiệp định kinh tế ASEAN có thể quy định giải quyết tranh chấp đến vấn đề liên quan sẽ xung đột với quy định của Nghị định thư Nghị định thư 2004 đã dự liệu 2 loại xung đột trong việc giải quyết tranh chấp giữa Nghị định thư 2004 và các hiệp định kinh tế khác và cách giải quyết như sau4:

Thứ nhất, nếu có sự khác biệt giữa các quy tắc và thủ tục Nghị định thư năm

2004 và các quy định về giải quyết tranh chấp (nếu có) được quy định trong các hiệp định kinh tế - thương mại ASEAN thì sẽ áp dụng các quy định của các hiệp định kinh tế - thương mại

Thứ hai, nếu có sự khác biệt giữa các cơ chế giải quyết tranh chấp, đặc biệt

trong hai hoặc nhiều hiệp định ghi ở Phụ lúc I thì các bên tranh chấp sẽ thương lượng với nhau để lựa chọn cơ chế phù hợp

2 Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN

Tại Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/11/2004 thì hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế của ASEAN bao gồm: Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM, Hội nghi quan chức kinh tế cao cấp SEOM, Ban Thư ký ASEAN Trong trường hợp cần thiết, ASEAN có thể lập một

cơ quan giúp việc có tính chất adhoc là Ban Hội thẩm Panel

2.1 Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM)

Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN là cơ quan có chức năng chuyên môn cao nhất Các phiên họp của AME được thực hiện thường niên Trường hợp cần

4 Ths Lê Minh Tiến, Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN, Tạp chí Luật học số 9/2007, tr.72

Trang 6

thiết, AEM có thể triệu tập bất thường nhằm chỉ đạo việc hợp tác trong khuôn khổ ASEAN

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định thư năm 2004 thì hội nghị AEM có thẩm quyền thành lập cơ quan phúc thẩm gồm 3 thành viên trong số 7 thành viên của Cơ quan phúc thẩm thường trực do AEM bổ nhiệm với nhiệm kì 4 năm

Chức năng của cơ quan phúc thẩm này là giải quyết các kháng cáo đối với các tranh chấp mà Ban hội thẩm đã xem xét Cơ quan có chức năng phúc thẩm này tạo điều kiện cho việc xem xét, giải quyết tranh chấp được toàn diện, khách quan, đảm bảo sự công bằng trong các phán quyết

Như vậy, AEM không phải là cơ quan chuyên trách về giải quyết tranh chấp, chức năng này được AEM kiêm nhiệm với tư cách là cơ quan chỉ đạo các hoạt động hợp tác kinh tế trong ASEAN5 Đồng nghĩa với điều này, AEM không phải là

cơ quan trực tiếp giải quyết kháng cáo mà việc giải quyết các kháng cáo của các bên tranh chấp thuộc về Cơ quan phúc thẩm do AEM thành lập Vì vậy, vai trò của

cơ quan AEM không thực sự rõ ràng trong việc giải quyết tranh chấp

2.2 Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp (SEOM)

Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp là cơ quan của tổ chức ASEAN được thành lập nhằm thực hiện các nhiệm vụ hợp tác kinh tế giữa các quốc thành viên (cơ quan chấp hành) theo đúng đường lối chỉ đạo và chính sách kinh tế chung được AEM thông qua trong lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa các quốc gia là thành viên

Trong giải quyết các tranh chấp linh vực kinh tế của ASEAN, Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp sẽ là một trong những cơ quan giải quyết Theo quy định tại Điều 2 Đoạn 1 Nghị định thư 2004 thì:

“1 SEOM sẽ giám sát việc thi hành Nghị định thư này và các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của các hiệp định liên quan, trừ khi có quy định khác trong hiệp định liên quan đó Theo đó, SEOM có quyền thành lập Ban Hội thẩm, thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, giám sát việc

5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN (2012), NXB Công an nhân dân, tr.365

Trang 7

thi hành các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm đã được SEOM thông qua và cho phép tạm ngừng ưu đãi và các nghĩa

vụ khác theo các hiệp định liên quan.”

Như vậy, SEOM sẽ có các thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp như thành lập Ban hội thẩm; Thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm; Giám sát việc thực hiện các phán quyết đã được SEOM thông qua; Cho phép hoãn thi hành các nhượng bộ hay các nghĩa vụ khác theo các hiệp định của ASEAN

Từ góc độ pháp lý, SEOM cũng không được xem là cơ quan chuyên trách giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các quốc gia của ASEAN mà chỉ là cơ quan

có chức năng thực hiện các nhiệm vụ phối hợp trong nhiệm vụ giải quyết tranh chấp kinh tế Việc SEOM tiến hành thủ tục thành lập Ban hội thẩm còn gặp vướng mắc vì trong trường hợp SEOM không tiến hành họp sẽ mất nhiều thời gian hơn, ảnh hưởng đến thời gian giải quyết tranh chấp

2.3 Ban Thư kí

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp năm 2004 thì Ban thư kí có các trách nhiệm sau:

- Trợ giúp cho Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm trong các vấn đề về pháp

lý, lịch sử, thủ tục có liên quan đến vấn đề được giải quyết cũng như những trợ giúp về mặt thư ký, kỹ thuật;

- Trợ giúp cho SEOM trong việc giám sát và theo dõi việc thực hiện các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm đã được SEOM thông qua

- Ban Thư ký là nơi tiếp nhận và xử lý tất cả các tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp

- Trên cơ sở tham vấn với SEOM, Ban Thư ký sẽ cập nhật danh mục các hiệp định có liên quan quy định tại Phụ lục I khi cần thiết Ban Thư ký sẽ thông báo cho các nước thành viên về các thay đổi đó

2.4 Ban Hội thẩm Panel

Trang 8

Thành phần Ban Hội thẩm do SEOM thánh lập theo quy định tại Điều 2 Khoản 1 Nghị định thư năm 2004, bao gồm những cá nhân có trình độ, tính độc lập

và có kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực thuộc các cơ quan chính phủ và phi chính phủ, những người đang tiến hành điều tra hoặc đệ trình vụ việc tranh chấp lên Ban hội thẩm, những người đang làm việc trong Ban thư ký, những người giảng dạy hoặc xây dựng luật, chính sách thương mại quốc tế, cũng có thể là quan chức chính sách thương mại cấp cao của các nước thành viên

Công dân của các nước thành viên có liên quan tranh chấp không được tham gia vào Ban hội thẩm giải quyết tranh chấp đó, trừ trường hợp có sự đồng ý của các bên liên quan trong tranh chấp (Phục lục II Mục I Điều 1 Nghị định thư 2004)

Ban Hội thẩm gồm 3 thành viên Trong vòng 10 ngày từ ngày thành lập Ban hội thẩm, nếu các bên tranh chấp đồng ý, Ban hội thẩm có thể bao gồm 5 thành viên (Phụ lục II Mục I Điều 5 Nghị định thư 2004)

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, những thành viên trong ban hội thẩm chỉ tham gia với tư cách cá nhân, không phải là đại diện cho bất kỳ chính phủ hay

tổ chức khác Vì thế, các quốc gia thành vi không thể gây ảnh hưởng đến định hướng của từng cá nhân trong Ban Hội thẩm

Chức năng của Ban Hội thẩm là đánh giá khách quan toàn bộ nội dung vụ tranh chấp được đệ trình gồm sự kiện, tình tiết và khả năng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp (Điều 7 Nghị định thư năm 2004)

2.5 Cơ quan phúc thẩm

Cơ quan phúc thẩm có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế của các quốc gia ASEAN Thành viên của cơ quan phúc thẩm ASEAN gồm 7 người Mỗi vụ tranh chấp giải quyết theo quy trình phúc thẩm sẽ được một Hội đồng gồm

3 thành viên thụ lí và giải quyết theo trình tự phúc thẩm (Điều 12 Khoản 1 Nghị định thư năm 2004)

Nhiệm kì các thành viên được bổ nhiệm của cơ quan phúc thẩm là 4 năm Mỗi thành viên có thể tái bổ nhiệm một lần Trong trường hợp người được bổ nhiệm thay thế một thành viên của Cơ quan Phúc thẩm trước khi thành viên đó kết

Trang 9

thúc nhiệm kỳ sẽ làm việc trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ của người tiền nhiệm (Điều 12 Khoản 2 Nghị định thư năm 2004)

Thành viên của Cơ quan Phúc thẩm là những người có năng lực được thừa nhận, có kiến thức chuyên môn về luật thương mại quốc tế và về các vấn đề của các hiệp định liên quan đến tranh chấp kinh tế, thương mại

Phạm vi hoạt động của Cơ quan phúc thẩm còn hẹp và chưa rõ ràng Chức năng chính của Cơ quan phúc thẩm chỉ là xem xét việc áp dụng và giải thích pháp luật của Ban hội thẩm chứ không xem xét toàn bộ vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp (Điều 12 Đoạn 6 Nghị định thư năm 2004)

Khi phát hiện ra các tình tiết phát sinh mà chưa được Ban hội thẩm xem xét

mà tình tiết này liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hoặc khi phát hiện kết luận của Ban hội thẩm chưa thật sự chính xác và đủ căn cứ thì Cơ quan phúc thẩm không có đủ thẩm quyền để xử lý Phạm vi hoạt động của Cơ quan Phúc thẩm gây ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại

3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế của các nước ASEAN

Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Nghị định thư 2004 bao gồm 4 giai đoạn là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết

3.1 Giai đoạn tham vấn, trung gian hòa giải

a) Quá trình tham vấn

Tham vấn được coi là giai đoạn sơ bộ của quá trình giải quyết tranh chấp thương mại, giai đoạn này giúp các bên tranh chấp tránh được những va chạm căng thẳng, tranh chấp của họ được giải quyết thông qua một giải pháp thỏa đáng

Liên quan đến các vấn đề ảnh hưởng tới việc thực hiện, giải thích hay áp dụng hiệp định và các hiệp định có liên quan, các nước thành viên ASEAN hoàn toàn có cơ hội tiến hành tham vấn theo Nghị định thư năm 2004 ASEAN cũng khuyến khích các nước thành viên của mình giải quyết tranh chấp thương mại thông qua giai đoạn tham vấn và Nghị định thư năm 2004 cũng quy định các nước thành viên giải quyết tranh chấp của họ trong hòa bình kịp thời, nhanh chóng

Mọi yêu cầu tham vấn phải được thông báo cho SEOM Đây là một điểm mới so với Nghị định thư năm 1996 và kể từ khi các bên tranh chấp có nghĩa vụ

Trang 10

thông báo cho SEOM về việc sử dụng cách thức tham vấn để giải quyết tranh chấp, các bên có thể xác định chính xác thời gian khi giai đoạn tham vấn bắt đầu và kết thúc

Mỗi nước thành viên khi nhận được yêu cầu tham vấn sẽ phải trả lời yêu cầu tham vấn trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn Các bên tranh chấp sẽ tiến hành tham vấn trong thời hạn 30 ngày nhằm đạt được giải pháp thỏa đáng cho cả hai bên Nếu không giải quyết được tranh chấp, trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, tranh chấp sẽ được đưa lên SEOM nếu bên khiếu nại đề nghị thành lập Ban hội thẩm

b) Quá trình trung gian hòa giải

Bên cạnh đó, các nước thành viên ASEAN cũng có thể giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp khác như trung gian hòa giải hoặc dàn xếp ở bất cứ thời điểm nào Theo thỏa thận của các bên tranh chấp, thủ tục này có thể được tiến hành song song với quá trình xem xét của Ban hội thẩm (Điều 4 Nghị định thư 2004)

Trung gian hòa giải được thực hiện bởi Tổng thư kí ASEAN trong quyền hạn đương nhiệm của mình có thể tiến hành trung gian hòa giải để giúp các nước thành viên giải quyết tranh chấp (Điều 4 Đoạn 3 Nghị định thư 2004) Giai đoạn giải quyết tranh chấp bằng còn đường trung gian hòa giải được cung cấp sự hỗ trợ cho các bên tranh chấp khác biệt so với giải quyết bằng tham vấn

Nghị định thư năm 2004 đưa ra các biện pháp như tham vấn, trung gian hòa giải hoặc dàn xếp trong hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN đã thay thế được biện pháp kiện tụng tốn kém Những phương pháp này được sử dụng rất phổ biến trong giai đoạn đầu của hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ở các tổ chức thương mại khác Các cách giải quyết tranh chấp khác nhau thể hiện sự linh hoạt trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong lĩnh vực kinh tế- thương mại, cho phép các quốc gia khác có thể lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu của mình

Tuy nhiên, các quy định về tham vấn trong Nghị định thư năm 2004 cũng bộc lộ hạn chế như tính linh hoạt đôi khi có thể làm suy yếu thẩm quyền của các cơ

Ngày đăng: 07/06/2021, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w