1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ấn Độ Việt Nam (1).Doc 2.Doc

39 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ từ 1991 đến nay
Tác giả Lê Cảnh Đôn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Phương Lan
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP QUAN HỆ HỢP TÁC AN NINH QUỐC PHÒNG GIỮA VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ TỪ 1991 ĐẾN NAY GVHD TS NGUYỄN PHƯƠNG LAN HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN LÊ CẢNH ĐÔN MSSV 1922290100008 LỚP[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

QUAN HỆ HỢP TÁC AN NINH QUỐC PHÒNG

GIỮA VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ TỪ 1991 ĐẾN NAY

GVHD TS : NGUYỄN PHƯƠNG LAN

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : LÊ CẢNH ĐÔN

MSSV : 1922290100008 LỚP : D19OH01

BÌNH DƯƠNG NGÀY THÁNG NĂM 2023

Trang 2

PHẦN MỞ ĐAU 4

PHẦN NỘI DUNG 6

I : NHỮNG YẾU TỐ TẠO LẬP NỀN TẢNG QUAN HỆ HỢP TÁC QUÂN SỰ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 6

1 BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG AN NINH KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU 6

II: HỢP TÁC QUÂN SỰ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ : 14

1.NHU CẦU HỢP TÁC QUÂN SỰ CỦA ẤN ĐỘ VỚI VIỆT NAM 14

2 XÂY DỰNG CƠ CHẾ HỢP TÁC QUỐC PHÒNG AN NINH SONG .26

3.KÝ KẾT CÁC HỢP ĐỒNG MUA BÁN TRANG THIẾT BỊ QUÂN 30

PHẦN KẾT LUẬN 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay bức tranh châu Á hiện lên đầy biến động cả về kinh tế và chínhtrị Thế kỉ XXI được dự báo là thế kỉ của châu Á, trung tâm quyền lực đangtừng bước chuyển dịch sang châu Á Mĩ không còn giữa vị trí đơn cực và ởchâu Á giờ đây đã và đang diễn ra sự “trỗi dậy” mạnh mẽ của hai cường quốc

đó là Trung Quốc và Ấn Độ Cùng với quá trình trỗi dậy đó là hàng loạt cácchuỗi hành động nhằm tìm kiếm vị trí trong châu lục cũng như trên thế giới.Trung Quốc để phục vụ cho sự lớn mạnh của mình đã thực hiện “bànhtrướng” trên biển và cả đất liền Đố trọng phía bên kia bán cầu là Mĩ nhằmkìm hãm Trung Quốc và bảo vệ vị trí và quyền lợi của mình ở châu Á đã đưa

ra chính sách “xoay trục” “tái cân bằng” Còn Ấn Độ trước những động tháicủa Trung Quốc đã không thể yên lặng và dần đi tìm vị trí xứng đáng tại khuvực châu Á – Thái Bình Dương Trước những biến đổi của môi trường anninh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có nhiều hoạt động đểgiải quyết thách thức an ninh mới Việt Nam nằm trong vòng xoáy đó vàtrước các hoạt động của Trung Quốc tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam.Việt Nam đã và đang tìm kiếm giải pháp để bảo về chủ quyền biển đảo và đốiphó với thách thức an ninh mới Và một trong các hoạt động của Việt Nam đó

là thiết lập mối quan hệ hợp tác quân sự với các nước lớn trong đó có Ấn Độ

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tư liệu:

- Các bài báo trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử có liên quan đến đề tài

- Những công trình khoa học đã được công bố

* Phương pháp nghiên cứu:

- Về phương pháp luận : quan điểm của Đảng để nhìn nhận và đánh giávấn đề

- Về phương pháp cụ thể đề tài sử dụng một số phương pháp sau:

+ Phương pháp logic: để rút ra nhận xét, đánh giá nghiên cứu vấn đề.+ Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương

Trang 4

lịch sử, cấu trúc hệ thống, đối chiếu, so sánh, thống kê định lượng… để giảiquyết vấ đề đặt ra.

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I : NHỮNG YẾU TỐ TẠO LẬP NỀN TẢNG QUAN HỆ HỢP TÁC QUÂN SỰ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

1 BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG AN NINH KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU

1.1 sự trổi dậy của trung quốc về kinh tế và quân sự :

Sự trỗi dậy của Trung Quốc được đánh giá như một hiện tượng nổi bậtcủa thế kỉ XXI, thu hút sự quan tâm của các nước trong khu vực và thế giới.Đối với Đông Nam Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc đã và đang tác động trựctiếp đến khu vực nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Không những thế, quátrình trỗi dậy của Trung Quốc đang trở thành một thách thức không nhỏ đốivới các quốc gia trong khu vực đặc biệt là khu vực Đông Nam Á Nhưng sựtrỗi dậy đó sẽ diễn ra như thế nào vẫn là một câu hỏi mở Và các nước lớn sẽhành động như thế nào để duy trì vị thế trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Về kinh tế : kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa năm 1978,

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã kiên trì thực hiện chiến lược quốcgia: “Thao quang dưỡng hối” (韜 韜 韜 韜) hay “Ẩn mình chờ thời” do ôngĐặng Tiểu Bình khởi xướng, hạn chế tối đa xung đột với bên ngoài, tập trungnâng cao tiềm lực và đạt được sự phát triển vượt trội vào hai thập niên đầucủa thế kỉ XXI.[1; tr1] Xem xét sự trỗi dậy của Trung Quốc, trước tiên phánđoán này được thể hiện qua các chỉ số kinh tế, hơn nữa có thể được khái quát

cơ bản thành “kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, liên tục trong một khoảngthời gian” Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, thực lực kinh tế của TrungQuốc có xu thế tăng trưởng nhanh

Trung Quốc chính thức thay thế Nhật Bản để trở thành quốc gia đứng thứ haithế giới về kinh tế, chỉ sau Mỹ Theo bảng xếp hạng của Ngân hàng Thếgiới (WB), Trung Quốc từ nước có mức thu nhập thấp được đưa vào danh sáchnhững nước có thu nhập thấp trung bình.[14]

Về chính trị : ngoại giao: vị thế của Trung Quốc trên thế giới đang ngày càng

Trang 6

một trong hai ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc có tiềmlực kinh tế hàng đầu thế giới Các hoạt động đối ngoại như: tham gia vào hơn

20 lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, tham gia giải quyếtvấn đề hạt nhân ở Triều Tiên, Iran và các xung đột sắc tộc ở châu Phi… TrungQuốc còn tích cực tham gia vào nhiều diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tếnhư đồng sáng lập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải – SCO (2001) nhằm thúc đẩyhợp tác với các nước Trung Á, lập ra diễn đàn châu Á Bác Ngao (Boao Forumfor Asia - BFA) thu hút sự tham gia ngày càng nhiều của các quốc gia ở châulục này Trung Quốc cũng đã đưa ra khái niệm An ninh mới (New Concept ofSecurity - NCS 1998) chủ trương xây dựng một trật tự thế giới đa cực và đềcao vai trò của Liên Hợp Quốc trong việc giải quyết các tranh chấp thôngqua đàm phán Trong quan hệ với các nước đang phát triển, Trung Quốc nêu

ra nguyên tắc hợp tác “cùng thắng”, theo đó các quốc gia tham dự đều có

thể hưởng lợi từ kết quả hợp tác và điều này đã nhận được sự phản ứng tíchcực từ các nước, kể cả các nước ASEAN Chính những hoạt động đó đã giúpTrung Quốc có thể tiếp tục con đường tiến lên phía trước mà không cần gây ranhững xung đột, va chạm như các cường quốc mới nổi trước đây từng gặpphải

Trang 7

Về quân sự: sức mạnh được thể hiện cả trong và ngoài nước Trung

Quốc có lực lượng quân đội hùng hậu có trên 2 triệu lính Trong vài thập kỷgần đây, Trung Quốc đã có những bước tiến dài trong việc mở rộng các căn

cứ quân sự, trang bị máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm (J-20) và mở rộng quy

mô hạm đội tàu ngầm hạt nhân cũng như tàu ngầm nhỏ có thể chở vũ khí hạtnhân Bên cạnh đó, Trung Quốc là một trong ba cường quốc hàng đầu về vũtrụ (cùng Mỹ và Nga), tiềm lực quân sự ngày càng vượt trội với chi phi ngânsách tăng cao trong những năm gần đây cũng khiến thế giới không thể khôngquan tâm, lo ngại Mặc dù Trung Quốc luôn trấn an dư luận bằng việc đưa ra

thông điệp “sức mạnh mềm” và sự “trỗi dậy hòa bình”, không làm phương

hại đến tình hình an ninh của khu vực cũng như toàn cầu, nhưng cũng khôngthể phủ nhận được sự gia tăng sức mạnh quân sự và chính trị của Trung Quốc

trong những năm gần đây luôn là nỗi “ám ảnh” của rất nhiều quốc gia

1.2 những thách thức an ninh mới đối với asean :

Đầu thế kỉ XXI châu Á xuất hiện sự trỗi dậy của một số cường quốc đầytính ganh đua Các cường quốc này hình thành cán cân chiến lược mới doquan hệ đối tác và liên minh giữa các quốc gia thay đổi Cuộc cạnh tranhquyền lực ở châu Á chủ yếu giữa Mĩ và Trung Quốc trên đại dương Cạnhtranh giữa Mĩ – Trung Quốc đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hìnhchính trị thế giới, trong đó khu vực Đông Nam Á không phải là ngoại lệ Haicường quốc đang cạnh tranh gay gắt để giành lợi thế địa chính trị Hiện Mĩđang tập trung vào chính sách kiềm chế Trung Quốc Sự đối đầu giữa hai siêucường trải dài từ khu vực Trung Đông, khu vực Đông Nam Á tới khu vực Bắc

Á Vai trò lãnh đạo của Mĩ đang bị suy giảm về mặt tài chính và kinh tế cònTrung Quốc ngày càng phát triển “Theo nguồn tin của tổ chức OECD vàonăm 2030 kinh tế của Trung Quốc cộng với Ấn Độ sẽ vượt kinh tế của Mĩ,

EU và Nhật Bản cộng lại Trung tâm sự tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ chuyển

Trang 8

sang châu Á còn châu Âu chìm đắm trong cuộc khủng hoảng nợ khổng lồ Mĩmất đi vai trò kinh tế đầu tàu Nếu không có sự can thiệp của Chính Phủ ở cả

Trang 9

châu Âu và Mĩ thì kinh tế và ngân hàng của các nước này sẽ bị suy thoái”.[1]Hiện nay lịch sử đã lặp lại Mĩ muốn các nước còn lại của châu Á trở thànhcăn cứ quân sự để chống lại Trung Quốc Tiếp đó trên đất liền là cuộc cạnhtranh giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Ấn Độ Nhật Bản và Ấn Độ đang cónhưng quan ngại về vị thế của mình trước Trung Quốc ở khu vục châu Á –Thái Bình Dương và điều đó đã làm tạo điều kiện cho mối quan hệ Ấn Độ -Nhật Bản gắn kết hơn trong tương quan hậu thuẫn ngầm là Mĩ Thực tế này cóthể làm tăng thêm những cạnh tranh chiến lược, thậm chí là xung đột giữaTrung Quốc và Nhật Bản, Ấn Độ và xa hơn là với Mĩ.

Ở khu vực Đông Nam Á môi trường an ninh diễn ra hết sức phức tạp Sựtrỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc cùng với đó là tham vọng “bành trướng”

và tâm điểm chính là khu vực Biển Đông Năm 2009, Trung Quốc tuyên bốchủ quyền với “đường chữ U” (hay “đường 9 đoạn”, “đường lưỡi bò”) trên biểnĐông mở ra cuộc tranh chấp biển đảo giữa “5 nước, 6 bên” đó là: Trung Quốc,Việt Nam, Philippines, Brunie, Malaysia, Đài Loan Cuộc tranh chấp ngàycàng gay gắt khi Trung Quốc đã thực hiện các hành động khẳng định chủquyền và quyền kiểm soát thực tế, đặc biệt là sau các sự kiện ở bãi cạnScarborough và việc Trung Quốc thành lập “cái gọi là thành phố giàn khoanHD-981 tại khu vực thuộc thuộc Vùng Đặc quyền kinh tế Việt Nam Độcchiếm biển Đông là một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách đốingoại của Trung Quốc Vì vậy Trung Quốc đang là mối đe dọa trực tiếpkhông chỉ với các quốc gia có lợi ích trên biển Đông mà còn nhiều các quốcgia khác có lợi ích liên quan như: Mĩ, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Nga, EU.Trong bức tranh chính trị này, Trung Quốc hiện lên như một nhân tốchính và chi phối sự vận động của quan hệ quốc tế và khu vực,

Trước những biến đổi của Môi trường an ninh khu vực ASEAN đã làm

gì để ứng phó với những biến đổi đó? ASEAN thúc đẩy vai trò trung tâm của

Trang 10

mình trong các vấn đề an ninh tại Đông Nam Á chủ yếu bằng đối thoại và cácbiện pháp xây dựng lòng tin (CBMs).

ASEAN vốn là một tổ chức mang tính cộng đồng nhiều hơn ASEANthường không ra quyết định thông qua các tiến trình trình luật pháp hay thểchế cứng nhắc, mà qua các cuộc thảo luận thân mật giữa các quốc gia thànhviên Thực tế rằng ASEAN, giống các tổ chức khu vực khác như Tổ chức hợptác Thượng Hải, Liên minh châu Phi, Tổ chức hợp tác Hồi giáo và Hiệp hộihợp tác khu vực Nam Á, đem lại cho các nước sự linh hoạt trong các hệ thốngchính trị và kinh tế khi gia nhập tổ chức đóng vai trò là một cửa ngõ thuậntiện cho từng nước đơn lẻ ở giai đoạn đầu Tuy nhiên, trong dài hạn, sự linhhoạt đó tạo ra những khác biệt mà sẽ cản trở thành công của tổ chức này [20]Mỗi quốc gia, hoặc nhóm các quốc gia nên nỗ lực để giải quyết các vấn

đề riêng của mình trước khi đưa ra ASEAN Các nhân tố cấp nhà nước làthách thức lớn nhất đối với việc phát triển sự đoàn kết ASEAN trong vấn đềBiển Đông Bởi nguyên nhân sâu xa là sự khác biệt giữa các nước ASEAN vềtình hình phát triển kinh tế và xã hội và sự ngờ vực tiếp sau đó giữa các nước,điều dẫn đến các định hướng chính sách đối ngoại khác nhau Do tác độngbên ngoài và những lợi ích khác nhau, các nước ASEAN có những quan điểmkhác nhau trong vấn đề Biển Đông Thậm chí các như Việt Nam, Philippines,Malaysia và Brunei đôi khi cũng không có tiếng nói chung

Việt Nam và Philippines là hai quốc gia có nhiều “va chạm” nhất với

Trung Quốc ở Biển Đông Do đó, cả hai đều là những quốc gia chủ động nhấtkêu gọi sự đoàn kết ASEAN trong vấn đề Biển Đông Kể từ khi Mỹ tuyên bốchiến lược “tái cân bằng châu Á”, Philippines đã tự tin hơn, đưa ra các sángkiến mới tại các diễn đàn của ASEAN

Mặc dù các thành viên ASEAN có những lợi ích khác nhau tại BiểnĐông, nhưng tất cả đều có lợi ích chung trong việc bảo đảm tự do hàng hải,hòa bình, ổn định khu vực, tôn trọng luật quốc tế, cũng như duy trì đoàn kết

và vai trò trung tâm của ASEAN Mười nước thành viên ASEAN đều đã tham

Trang 11

gia đàm phán và ký kết Tuyên bố Ứng xử (DOC) năm 2002 và hiện đều cóquan điểm chung muốn thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) vớiTrung Quốc nhằm quản lý hiệu quả các tranh chấp và thúc đẩy hòa bình, hợptác khu vực.

Căng thẳng tại Biển Đông là sản phẩm của những yêu sách và hành động

từ phía Trung Quốc Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông chủ yếu là bởi hoạtđộng xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo tại Quầnđảo Trường Sa và vòng xoáy “ăn miếng trả miếng” tạo nên bởi chương trìnhFONOPs của Mỹ và phản ứng của Trung Quốc Theo đó, ASEAN với tư cách

là một tổ chức (khác với các quốc gia thành viên) sẽ không đứng về bên nàotrong cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ tại Biển Đông ASEAN,với chủ trương ủng hộ cho một giải pháp hoà bình cho tranh chấp biển dựatrên luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS, sẽ bám vào lập trường rằng tất cả

Trang 12

tranh chấp phải được giải quyết mà không được dùng đến đe doạ hay sử dụng vũlực và phải dựa trên luật pháp quốc tế Nhìn chung, các thành viên ASEAN nhấttrí rằng việc để tranh chấp tại Biển Đông trở thành tuyến đầu cho cạnh tranhchiến lược Mỹ và Trung Quốc là điều không nằm trong lợi ích chung của họ.

Đối mặt với những hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ởBiển Đông, các quốc gia yêu sách ASEAN, đặc biệt là Việt Nam vàPhilippines, đã áp dụng một chính sách tương đối toàn diện để bảo vệ nhữnglợi ích quốc gia, đồng thời cố gắng gìn giữ môi trường hòa bình bên ngoài.Chính sách này kết hợp giữa việc: sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Côngước Luật Biển, để bảo vệ những yêu sách và quyền lợi của mình; phản đốiviệc khai thác chung với Trung Quốc ở những khu vực bên trong vùng đặcquyền kinh tế được quốc tế công nhận; đưa vấn đề Biển Đông ra các diễn đànkhu vực để thảo luận với sự tham gia các cường quốc bên ngoài khác; hợp táccùng các thành viên của ASEAN trong can dự Trung Quốc nhằm thực thiDOC và hướng tới một bộ quy tắc ứng xử mới; và đàm phán trực tiếp vớiTrung Quốc để giảm bớt căng thẳng và giải quyết các vấn đề song phươngcòn tồn tại

Đối phó với yêu sách Đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông, hầuhết các nước ASEAN đều có quan điểm phê phán Đường lưỡi bò của TrungQuốc Các nước tranh chấp trong ASEAN đang cố gắng phân tách vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa tính từ đất liền (hay từ các đảo không tranhchấp gần bờ) và khu vực tranh chấp ở Biển Đông Để tối thiểu hóa khu vựctranh chấp, các nước ASEAN lựa chọn cách diễn giải UNCLOS, đặc biệt làĐiều 121 về “quy chế đảo” theo một cách thức hạn chế Các nước này trựctiếp hoặc gián tiếp không coi bất kỳ thực thể đang tranh chấp nào ở BiểnĐông là đảo, như định nghĩa trong Điều 121 của UNCLOS, do đó chúng

Trang 13

không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà chỉ có tối đa là lãnh hải

12 hải lý Đ iều này đồng nghĩa với việc các nước này giới hạn phạm vitranh chấp chỉ là các đảo đá và lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo đá này

II: HỢP TÁC QUÂN SỰ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ :

1.NHU CẦU HỢP TÁC QUÂN SỰ CỦA ẤN ĐỘ VỚI VIỆT NAM

Trang 14

1.1 hợp tác quân sự như một chính sách của ấn độ :

Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chính sách “Hướng Đông” đã rađời Thuật ngữ chính sách “Hướng Đông” được chính thức sử dụng lần đầutiên trong Báo cáo thường niên 1995 - 1996 của Bộ Ngoại giao Ấn Độ Songphải tới Báo cáo thường niên 2006 - 2007, Bộ Ngoại giao Ấn Độ mới khẳngđịnh rằng, chính sách “Hướng Đông” ra đời vào năm 1992 (gắn với sự kiện

Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại từng phần của ASEAN) Với mục tiêu lớnnhất là biến Ấn Độ trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự không chỉ ởkhu vực Châu Á mà còn trên phạm vi toàn thế giới, cụ thể:

Một là, Chính sách Hướng Đông hướng tới việc duy trì mức tăng trưởng

cao và ổn định của nền kinh tế Ấn Độ thông qua các mối quan hệ kinh tế chặt

chẽ với Đông Á, đặc biệt là thương mại “Ấn Độ tin rằng, Đông Á nắm giữ

chiếc chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế ổn định của Ấn Độ, đặc biệt khi cáchoạt động kinh tế quốc tế ngày càng trở nên quan trọng đối với tăng trưởng

Trang 15

của Ấn Độ trong bối cảnh các khu vực khác đang có xu hướng tăng trưởngchậm lại cũng như gia tăng chính sách bảo hộ”

Hai là, hội nhập kinh tế với khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á

-Thái Bình Dương nói chung là một mục tiêu quan trọng trong Chính sáchHướng Đông Mục tiêu này nhấn mạnh đến việc xây dựng Hiệp định Thươngmại tự do (FTA), Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện/Hiệp định Đối tác kinh

tế toàn diện (CECA/CEPA) giữa Ấn Độ với khu vực

Ba là, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở tám bang vùng

Đông Bắc của Ấn Độ, những bang kém phát triển về kinh tế - xã hội và bất ổn

an ninh, cũng là một mục tiêu quan trọng của Chính sách Hướng Đông Ủyban Đông Bắc (NEC) xác định rằng, một trong những lợi thế của khu vực là

“gần kề với một trong những khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới, là cácnền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á”

Chính sách hướng Đông được triển khai một cách toàn diện trên các lĩnhvực chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, an ninh - quân sự và hợp tác trênnhiều lĩnh vực

Về chính trị - ngoại giao: thời gian vừa qua nhiều nguyên thủ quốc gia

của Ấn Độ đã có nhiều chuyến thăm cấp cao đến khu vực châu Á - Thái BìnhDương như: Thủ tướng Ấn Độ Vishwanath Pratap Singh đã có chuyến công

du đến Malaysia (1990); Tổng thống Ramaswamy Venkataraman thăm NhậtBản (1990), Philippin (1991), Trung Quốc (1992) Thủ tướng NarasimahaRao có chuyến thăm tới Nhật Bản (1992), Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan(1993), Singapore, Việt Nam (1994), Malaysia (1995) Thủ tướng Atal BihariVajpayee đã tiến hành hàng loạt chuyến công du tới các nước Đông Nam Á

và Đông Bác Á như Việt Nam, Indonesia (1/2001), Malaysia (5/2001), NhậtBản (10/2001), Campuchia, Singapore (2/2002) Hội nghị cấp cao ASEAN -

Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức tại Phnom Penh vào tháng 11/2002 Để tiến

Trang 16

sâu hơn vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ đã chính thức thamgia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) ở Đông Nam Á vào năm 2003.Chỉ trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi Chính phủ của Thủ tướng Modi nhậmchức, Ngoại trưởng Sushma Swaraj đã thăm khu vực Đông Nam Á 3 lần: tớiMyanmar, Singapore và Việt Nam Trong chuyến thăm Singapore, Bộ trưởng

Bộ Ngoại giao Ấn Độ Sushma Swaraj đã khẳng định: “Hướng Đông khôngcòn phù hợp, giờ đây chúng tôi cần Hành động phía Đông” Nước này đang

nỗ lực biến các tuyên bố và cam kết thành hành động để nâng quan hệ đối tácvới khu vực Đông Nam Á và Đông Á lên một tầm cao hơn Thủ tướngNarendra Modi đã bắt đầu chuyến đi tới khu vực Đông Nam Á, với điểm đếnđầu tiên là Myanmar (ngày 11/11/2014), Thủ tướng Modi muốn chuyển đimột thông điệp rằng Chính phủ của ông sẽ thực hiện các cam kết và hànhđộng theo các tuyên bố đối tác lâu dài với khu vực, vốn đang mong muốnhoàn thành việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 Với mụcđích xây dựng và tăng cường quan hệ trên nhiều lĩnh vực với các nước này

rên lĩnh vực an ninh - quân sự: nhiều người cho rằng, Ấn Độ đã triển

khai các hoạt động ngoại giao quân sự ở khu vực Trên thực tế, thuật ngữ

“ngoại giao quân sự” chỉ mới xuất hiện chính thức trong chính sách an ninhcủa Ấn Độ và năm 1999, dưới thời của Thủ tướng Atal Bihari Vajpayee Ngoại giao quân sự của Ấn Độ gồm nhiều hoạt động như: đối thoại an ninh;tập trận chung; đào tạo; các chuyến thăm cấp cao; xuất khẩu vũ khí Ngoạigiao quân sự của Ấn Độ được triển khai ở cấp độ song phương và đaphương Cấp độ song phương phổ biến nhất là những cuộc tập trận chunggiữa Ấn Độ với các nước thứ hai, là các chuyến thăm của tàu chiến Ấn Độ tớicác nước, là hợp tác đào tạo quân nhân hay xuất khẩu vũ khí của Ấn Độ sangmột nước khác Ở cấp độ đa phương là các diễn đàn an ninh khu vực, các thỏathuận hợp tác liên quan đến quân sự khu vực Sauk hi tiến hành các chuyến

Trang 17

thăm tới các nước châu Á - Thái Bình Dương Ấn Độ đã xây dựng được khuônkhổ hợp tác quân sự với các nước này Năm 1993, Ấn Độ - Malaysia ký Bảnghi nhớ về hợp tác quốc phòng Và đến năm 1994, Bản ghi nhớ về hợp tácquốc phòng cũng được ký kết giữa Việt Nam và Ấn Độ Kể từ năm 1993, Ấn

Độ và Singapore đã tiến hành các cuộc tập trận Hải quân chung thường niên.Bên cạnh đó Ấn Độ cũng có hoạt động tập trận với các thuộc khu vực ĐôngBắc Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vào năm 2007 Ấn Độ cũngdần tham gia vào cơ chế an ninh đa phương của khu vực Đông Nam Á Năm

1996 Ấn Độ tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) Năm 2003, Ấn

Độ và ASEAN ký thuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế.Tháng 10/2010, Bộ trưởng bộ quốc phòng Ấn Độ tham gia Hội nghị Bộtrưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) tại Hà Nội

Về kinh tế: Độ trở thành Đối tác đối thoại từng phần của ASEAN năm

1992, “Ấn Độ đã khởi động đối thoại kinh doanh với ASEAN vào năm 1993” Sau những thành công trong hợp tác kinh tế, đặc biệt là hoạt động trao

đổi thương mại với các nền kinh tế lớn của ASEAN, Ấn Độ bước sang quántrình hội nhập kinh tế khu vực thông qua các Hiệp định Thương mại tự do(FTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) và Hiệp định Kinh tế toàndiện (CECA) Năm 2002, Ấn Độ đề xuất thành lập Khu vực mậu dịch tự do

Ấn Độ - ASEAN Năm 2003, Ấn Độ tiếp tục đề xuất xây dựng Cộng đồngkinh tế châu Á… Với khu vực Đông Bắc Á Ấn Độ có các hoạt động tăngcường hợp tác kinh tế với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc VìNam Á và Đông Á chiếm hơn 55% thương mại của Ấn Độ vì Ấn Độ đã kýkết các Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản, Hàn Quốc và đangđàm phán Hiệp định khu vực thương mại tư do với Đài Loan, Hiệp địnhthương mại ưu đãi với Trung Quốc, nên Ấn Độ ưu tiên đẩy mạnh các

lĩnh vực thương mại, đầu tư và thị trường

Trang 18

Ngoại giao văn hóa: là một phần đặc trưng của ngoại giao Ấn Độ, gắn

liền với tư tưởng “thế giới đại đồng” Đối với ASEAN, ngoại giao văn hóa

của Ấn Độ được thể hiện trên các lĩnh vực như phát triển nguồn nhân lực,phát triển công nghệ thông tin, du lịch, khoa học và kỹ thuật, trao đổi học giả

và các bài diễn thuyết ASEAN

Sự gia tăng về thực lực bên trong và môi trường quốc tế thuận lợi đã tạo

cơ hội cho Ấn Độ tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước, vị thếkhu vực và quốc tế của Ấn Độ ngày càng được nâng cao Ấn Độ cũng mongmuốn có ảnh hưởng ở Biển Đông và biển Hoa Đông như một phần của chiếnlược đối trọng Với tư cách là “một phần sống còn” (vital part) của chính sáchđối ngoại của Ấn Độ, như lời của Bộ trưởng Quốc phòng Pranab Mukherjee:

“Chính sách hướng Đông còn hơn cả một mệnh lệnh kinh tế Đó là sự chuyểnhướng quan trọng trong nhìn nhận của Ấn Độ về thế giới và vị trí của nướcnày trong bối cảnh toàn cầu thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh” Vậy hợp tácquân sự chỉ là một trong những công cụ để Ấn Độ thực hiện được “chính sáchhướng Đông” Đến tháng 9 năm 2014, Thủ tướng Narendra Modi đã tuyên bốquyết định đổi tên chính sách “Hướng Đông” thành “Hành động ở phíaĐông” Điều đó thể hiện việc ông Modi sẽ chủ động và hành động có mụcđích trong khu vực hơn những người tiền nhiệm để khẳng định vai trò lớnhơn, xứng đáng hơn của Ấn Độ với vị thế của một cường quốc ở khu vực vàthế giới

1.2 nhu cầu hợp tác quân sự việt nam - ấn độ giai đoạn sau chiến tranh lạnh đến nay :

Mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đã có bề dày lịch sử lâu đời Sau khi Ấn

Độ giành được độc lập, Thủ tướng Jawaharlal Nehru đã giành nhiều ủng hộcho Chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc kháng chiến chống Pháp của ViệtNam Trong kháng chiến chống Mỹ, Ấn Độ - một trong những quốc gia sáng

Trang 19

lập Phong trào Không liên kết - đã nhiều lần ủng hộ Việt Nam trên các diễnđàn quốc tế Năm 1972, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ Nhờ cólịch sử quan hệ thân thiết lâu đời nên trong chính sách “Hành động hướngĐông” (Act East Policy), Ấn Độ đ ã n h ấ n m ạ n h r ằng Việt Nam là một trongnhững đối tác quan trọng nhất Tháng 7/2007 Việt Nam và Ấn Độ chính thứcthiết lập quan hệ đối tác chiến lược, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữahai nước ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu đặc biệt là trên lĩnh vực anninh quốc phòng Nhu cầu cấp thiết của Việt Nam hiện nay là nâng cao nănglực quốc phòng để dự phòng cho những bất ổn có khả năng xảy ra, nhất làxung đột cục bộ trên biển.

1.3 Thực trạng năng lực quân sự Việt Nam và Ấn Độ

Năm 2015, trang Global Firepower đã đưa ra 50 yếu tố để tính tổng điểmChỉ số Sức mạnh quân sự (Power Index) của 126 nước trên thế giới Nhữngyếu tố này cho phép các nước nhỏ với công nghệ hiện đại có thể sánh ngangvới các quốc gia lớn và phát triển Chỉ số sức mạnh của Việt Nam đứng thứ21/126 quốc gia tham gia xếp hạng Chỉ số quân sự Ấn Độ (năm 2015) đứngthứ 4/126 quốc gia sau Mĩ, Nga, Trung Quốc Vậy tương quan so sánh các chỉtiêu sức mạnh quân sự của Việt Nam và Ấn Độ ra sao

Bàng 1 So sánh các chỉ tiêu: Các hệ thống bộ binh, sức mạnh không

quân, hải quân giữa Việt Nam và Ấn Độ năm 2015

Các hệ thống

bộ binh + Xe tăng: 1470 chiếc+ Xe bọc thép (AFV): 3150

chiếc+ Pháo tự hành (SPG): 524

tổ hợp+ Pháo thông thường (xe

+ Xe tăng: 6464 chiếc+ Xe bọc thép (AFV): 6704chiếc

+ Pháo tự hành (SPG): 290

tổ hợp+ Pháo phản lực phóng loạt

Ngày đăng: 20/03/2023, 03:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Anh Đức (2016), Ấn Độ tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á – hái Bình Dương và những tác động tới Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á – há Bình Dương và những tác động tới Việt Nam
Tác giả: Trần Anh Đức
Năm: 2016
2. Cao Xuân Phổ (1997), Ấn Độ xưa và nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ xưa và nay
Tác giả: Cao Xuân Phổ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Sudhir Devare dịch Lê Thị Sinh Hiền (2015), Ấn Độ - Đông Nam Á: hướng đến nền an ninh chung, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ - Đông Nam Á: hướngđến nền an ninh chung
Tác giả: Sudhir Devare dịch Lê Thị Sinh Hiền
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
4. Võ Xuân Vinh (2013), ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ, NXB khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ
Tác giả: Võ Xuân Vinh
Nhà XB: NXB khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2013
5. Mỹ Anh dịch, “C h âu Á đ a n g p h ả i đ ố i p h ó v ới m ố i n g u y cơ rõ rà n g v à hi ệ n h ữ u ” , 28/11/2012, h tt p : / /n g h i e n c u ub i e n don g . v n , 07h10, 18/1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Á đang phải đối phó với môi trường rõ ràng và hiện hữu
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w