Trong các lĩnh vực hợp tác, hợp tác an ninh quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam là nội dung q2.5uan trọng. Ấn Độ luôn thể hiện rõ cam kết hiện đại hóa lựclượng an ninh quốc phòng cho Việt Nam thông qua mở rộng các chương trình
đào tạo. tập trận chung, chia sẻ kinh nghiệm và cung cấp các trang thiết bị quốc phòng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ủng hộ hải quân Ấn Độ tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông thông qua sự hiện diện của các tàu chiến Ấn Độ ở Việt Nam.
Hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam bao gồm: các chuyến thăm trao đổi đoàn cấp cao, đối thoại chính sách quốc phòng hàng năm, giao lưu cấp quân chủng, các chuyến thăm của hải quân hai nước, đóng tàu, huấn luyện và xây dựng năng lực, hỗ trợ bảo quản trang thiết bị quân sự…
2.1 Đối ngoại cấp Thứ trưởng quốc phòng
Từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX đến nay, hầu như hàng năm hai bên đều trao đổi đoàn cấp cao như Bộ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ
Hai nước đã đẩy mạnh quan hệ trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng thông qua trao đổi các chuyến thăm cấp Bộ trưởng, trong đó đặc biệt là chuyến thăm Việt Nam của Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Ấn Độ do Bộ trưởng Quốc phòng A.K.Antony dẫn đầu (từ ngày 16 đến 19/12/2007). Nhận định chung của các chuyên gia an ninh và giới truyền thông về chuyến thăm là đã “mở chương mới trong hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam.
Từ năm 2010, hai bên duy trì thường niên Đối thoại Quốc phòng cấp Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thư ký Bộ Quốc phòng Ấn Độ và
hiện tại đang nghiên cứu khả năng nâng cấp thành Đối thoại cấp Bộ trưởng Quốc phòng. Đối ngoại cấp Thứ trưởng quốc phòng giữa hai nước nhằm mục đích trao đổi các vấn đề an ninh hai bên cùng quan tâm. Cơ chế đối thoại chiến lược quốc phòng được tổ chức luân phiên tổ chức tại Hà Nội và New Delhi. Đến nay hai bên đã tiến hành 9 phiên đối thoại và dự định tổ chức phiên đối thoại thứ 10 vào đầu năm 2017.
Gần đây nhất là chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Ấn Độ từ ngày 23 - 26/5/2015 của đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn, theo lời mời của Ngài Manohar Parrikar, Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Ấn Độ. Đây là cơ hội để mỗi bên bày tỏ quan điểm về những vấn đề hai bên cùng quan tâm, bàn thảo những nội dung gắn bó quan hệ quốc phòng song phương.
Các chuyến thăm liên tiếp của giới quan chức cấp cao Ấn Độ tới Việt Nam mang nhiều hàm ý chính trị:
Th nhất, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ được nâng tầm chính trị. Th hai, phản ánh tầm quan trọng về chính trị và chiến lược của Việt Nam trong con mắt của Ấn Độ, New Dehli coi Hà Nội như một "đối tác trụ cột" trong khu vực Đông Nam Á và có vai trò cân bằng tiềm lực an ninh tại châu Á. Thứ ba, Ấn Độ muốn hành động như một "cổ đông có trách nhiệm" tại khu vực Đông Nam Á và Biển Đông. Về mặt chiến lược, Ấn Độ và Việt Nam có chung những quan ngại về Trung Quốc. Trung Quốc không ngừng leo thang xung đột chống Việt Nam tại Biển Đông và không ngừng hành động khiêu khích, xâm nhập chống Ấn Độ tại các khu vực biên giới giáp Tây Tạng. Trong bối cảnh đó, sẽ là điều tự nhiên để Ấn Độ và Việt Nam chia sẻ nhiều điểm hội tụ chiến lược.
2.2 Các văn bản thỏa thuận cấp chính phủ
Trước tình hình anh ninh thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, thực hiện “đa phương hóa quan hệ đối ngoại”, Việt Nam - Ấn Độ chủ động tạo dựng cơ sở pháp lý, nền tảng cho hợp tác quốc phòng xong phương. [4; tr 192]
Độ: Cho tới nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã ký với Bộ Quốc phòng Ấn - Bản ghi nhớ về hợp tác và trao đổi quốc phòng (tháng 11/2009).
- Thỏa thuận về Bảo vệ Tương hỗ đối với Trao đổi Thông tin mật (tháng
11/2013).
- Biên bản ghi nhớ về đào tạo sĩ quan hải quân và không quân Việt Nam (tháng 11/2013).
- Bản ghi nhớ về thiết lập quan hệ phối hợp nhằm phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và phát triển hợp tác chung (tháng 5/2015) giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng bảo vệ bờ biển Ấn Độ.
Tháng 5/2015, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai nước đã kí “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2015 - 2020”. Tháng 6/2016, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrika đã sang thăm chính thức Việt Nam. Trong quá trình làm việc, lãnh đạo quốc phòng hai nước đã trao đổi và thống nhất các biện pháp tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác theo các nội dung trong “Tuyên bố tầm nhìn chung vê quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2015-2020” [4; tr 214]
Nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi từ ngày 2-3/9/2016 theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Hai bên đã ký bốn văn kiện liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh gồm:
- Chương trình hợp tác giữa Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Ngoại giao Cộng hòa Ấn Độ về các vấn đề gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ Preeti Saran ký.
- Thỏa thuận kỹ thuật về Chia sẻ thông tin hàng hải phi quân sự giữa Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân Ấn Độ.
- Biên bản ghi nhớ với về Hợp tác trong lĩnh vực An ninh mạng; Hợp đồng thiết kế, thi công, đóng mới tàu tại Ấn Độ, bàn giao tại Việt Nam, cung cấp vật tư, trang thiết bị, chuyển giao công nghệ đóng mới tàu tại Việt Nam giữa Bộ đội Biên phòng Việt Nam và Công ty Larsen&Toubro Ấn Độ.
- Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Trung tướng Hoàng Xuân Chiến và Lãnh đạo Công ty Larsen&Toubro ký kết Hợp đồng thiết kế thi công đóng mới tàu tại Ấn Độ, bàn giao tại Việt Nam; cung cấp vật tư, trang thiết bị, chuyển giao công nghệ đóng mới. [25]
Những văn bản này tạo cơ sở pháp lý rộng rãi và quan trọng để hợp tác quốc phòng hai nước đi vào chiều sâu, vững chắc, theo đúng định hướng vì lợi ích của mỗi nước, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đáp ứng lợi ích của hai bên, không làm tổn hại lợi ích của các bên thứ ba.
3.KÝ KẾT CÁC HỢP ĐỒNG MUA BÁN TRANG THIẾT BỊ QUÂN SỰ Chính phủ của Thủ tướng Modi đã xây dựng Chiến lược xuất khẩu các
sản phẩm quốc phòng. Ấn Độ có hệ thống tên lửa và tàu chiến nội địa vốn đã có tỷ lệ nội địa hoá cao, một số loại vũ khí cấp độ chiến thuật sẽ được New Delhi quảng bá rộng rãi. Tuy nhiên đối với một số vũ khí mang tính chiến lược, Ấn Độ sẽ chỉ chào bán tới một số đối tác chiến lược nhất định.
Chuyến thăm Việt Nam Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrikar mang lại nhiều tín hiệu tích cực trong việc đẩy mạnh mua bán các sản phẩm quốc phòng giữa hai bên. Đây cũng là chuyến thăm “tiền trạm” trước khi Thủ
tướng Modi sang thăm Việt Nam. Mở ra triển vọng mua bán vũ khí giữa Việt Nam và Ấn Độ. Là một bước tiến mới trong quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ.
hú nhất, là thông tin về khả năng Ấn Độ sẽ bán cho Việt Nam tên lửa hành trình (Brahmos ) được đánh giá là nguy hiểm nhất hiện nay. Brahmos là sản phẩm liên doanh giữa Nga và Ấn Độ, tên lửa này có tầm bắn tối đa 290 km, tốc độ gấp 2,8 lần tốc độ âm thanh và có thể “hạ gục” một tàu sân bay chỉ trong một phát bắn do rất khó đánh chặn. Brahmos, hay như các loại tên lửa đối hạm khác trong kho vũ khí của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược bất đối xứng. Trong đó, nếu được sử dụng đúng cách thì một tên lửa đối hạm có khả năng đánh chìm một tàu khu trục hay thậm chí một tàu
sân bay có giá trị gấp hàng chục lần. Giá của Brahmos vào khoảng 2,5 triệu USD. h hai, là d ự án t rị gi á 2 0 0 t r i ệ u r u p i m à Ấn Độ giúp Việt Nam nâng
cấp 2 trong số 5 tàu Petya. Petya là lớp tàu hộ tống chống ngầm hạng nhẹ được Liên Xô chế tạo trong thập niên 1960 và chuyển giao cho Việt Nam cuối những năm 70 (2 tàu Petya III) đầu những năm 80 (3 tàu Petya II). Cho tới hiện tại, đây là những tàu chiến chống ngầm duy nhất của hải quân Việt Nam.
Tác chiến chống ngầm là một trong những cấu phần quan trọng trong tác chiến hải quân. Hiện tại, khả năng chống ngầm của Việt Nam tương đối còn hạn chế. Dự án nâng cấp sẽ giúp gia tăng đáng kể sức chiến đấu của các tàu Petya hiện tại, cùng với hai tàu Gepard có khả năng chống ngầm sắp được biên chế trong tương lai. Thông tin cho rằng các tàu Petya sẽ được lắp hệ thống sonar mới, hệ thống điều khiển hoả lực mới, thay thế ống phóng ngư lôi và các rốc két chống ngầm mới. Một vài loại vũ khí khí tài có nguồn gốc từ Liên Xô khác mà Ấn Độ đã từng giúp Việt Nam hiện đại hoá c ó th ể k ể t ớ i các xe tăng chủ lực T-54/55 và các loại xe chiến đấu bộ binh đang có trong biên chế vốn được nâng cấp khả năng quang ảnh nhiệt và hệ thống kiểm soát hoả lực mới. Việt Nam dường như cũng đã mua một số hệ thống ra-đi-ô mới của Ấn Độ để sử dụng trong các đơn vị bộ binh và thiết giáp. [4; tr 116]
h ba, cả hai bên cũng đã thảo luận thêm về kh ả n ă n g V i ệt N a m m u a lo
ạ i n g ư l ô i c h ố n g n g ầm m ới mang tên “Varunastra” của Ấn Độ. Đây là loại vũ khí do Ấn Độ tự nghiên cứu phát triển và mới được thử nghiệm gần đây.
Ngư lôi có thể tiêu diệt các tàu ngầm ở trạng thái tĩnh và hoạt động tốt ở cả môi trường nước nông và nước sâu hay môi trường biển động. Nếu dự án náy thành hiện thực, hải quân Việt Nam sẽ có thểm lựa chọn vũ khí cho tàu ngầm Kilo cũng như cho các tàu chiến khác trong tương lai, đặc biệt là lớp tàu chống ngầm Petya như đã đề cập.
h tư, hai bên còn ký kết một bản ghi nhớ về việc Ấn Độ c u n g c ấp k h o ả n t í n d ụ n g t rị giá 100 triệu USD liên quan tới mua bán trang thiết bị quốc phòng, mà cụ thể là việc Việt Nam sẽ mua các tàu tuần tra xa bờ của Ấn Độ.
Sau khi hợp đồng được ký kết, đây sẽ là đợt chuyển giao công nghệ quân sự quan trọng đầu tiên của Ấn Độ cho Việt Nam.
Trong chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam, bốn văn kiện hợp tác về an ninh quốc phòng đã được ký kết với nội dung liên quan tới các lĩnh vực như đóng tàu, an ninh mạng và huấn luyện (lực lượng gìn giữ hoà bình). Đây cũng chính là những lĩnh vực mà Ấn Độ có thế mạnh và có truyền thống hợp tác trong nhiều năm với Việt Nam. Khoản tín dụng 500 triệu USD cũng là một con số tương đối lớn, làm gia tăng biên độ và mức độ hợp tác quốc phòng giữa hai nước trong thời gian tới. Hai bên mở rộng hợp tác công nghiệp quốc phòng.
Ấn Độ là một trong những đối tác truyền thống đáng tin cậy của Việt Nam. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Ấn Độ và thực hiện mua bán vũ khí của Ấn Độ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, trong bối cảnh Mỹ vừa dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận buôn bán vũ khí.
hoá hơn nữa.
PHẦN KẾT LUẬN
Với những biến đổi của môi trường an ninh khu vực vai trò của các Các quốc gia Đông Nam Á bao gồm những quốc gia đang phát triển năng động với nhiều tiềm năng mà Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ đều rất chú trọng xâm nhập, gây ảnh hưởng. Biển Đông lâu nay là khu vực chiếm lưu lượng giao thông đường thủy rất lớn trên thế giới với eo biển Malacca, kéo dài 600 dặm giữa Thái Lan, Malaixia, Singapore sang phía Đông, chảy vào Biển Đông là nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rất giàu tài nguyên và đang diễn ra tranh chấp giữa Trung Quốc với một số nước của ASEAN. Một ước tính rằng, hơn 50.000 tàu thuyền đi qua Malacca hàng năm, chuyên chở hơn 30% hàng hóa thương mại của thế giới, bao gồm cả dầu lửa từ Vịnh Ba tư đến những quốc gia lớn ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Có đến 20 triệu thùng dầu hàng hàng ngày đi qua eo biển Malacca và sẽ tăng lên trong tương lai… Hơn 50% thương mại của Ấn Độ, hơn 80% dầu lửa của Trung Quốc phải đi qua Malacca. Vì vậy, đây là một trong những đường hàng hải có tầm chiến lược sống còn nhất thế giới.
Ở châu Á đã diến ra sự trỗi dậy của Trung Quốc được đánh giá như một hiện tượng nổi bật của thế kỉ XXI, sự trỗi dậy của Trung Quốc đã và đang tác động trực tiếp đến khu vực nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Không những thế, quá trình trỗi dậy của Trung Quốc đang trở thành một thách thức không nhỏ đối với các quốc gia trong khu vực đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Để tìm vị trí cho mình tại khu vực châu Á – Thía Bình Dương. Ấn Độ
luôn luôn phát triển các quan hệ, sử dụng nhiều chiến lược, sách lược để xác định quỹ đạo cho trật tự ở Đông Nam Á và châu Á. Ấn Độ đã tăng cường quan hệ hợp tác với phần lớn các nước Đông Nam Á. Chiến lược ngoại giao quân sự của Ấn Độ gồm nhiều hoạt động như đối thoại an ninh, tập trận chung, đào tạo, các chuyến thăm cấp cao và trong một số trường hợp là xuất khẩu vũ khí. Ngoại giao quân sự của Ấn Độ được triển khai hai cấp độ xong
phương và đa phương. Cấp độ xong phương phổ biến nhất là cuộc tập trận chung giữa Hải quân Ấn Độ với nước thứ hai, là các chuyến thăm cảu tàu chiến Ấn Độ tới các nước, là hợp tác đào tạo quân nhân hay xuất khẩu vũ khí của Ấn Độ sang một nước khác. Ở cấp độ đa phương là các diễn đàn an ninh khu vực, các thỏa thuận hợp tác liên quan đến khu vực. Ấn Độ còn là thành viên của cuộc họp Á – Âu (ASEM) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) chuyên sâu về lĩnh vực an ninh. Ấn Độ chính là đối tác, đối thoại của ASEAN. Một phương thức để Ấn Độ đối phó với Trung Quốc chính là cạnh tranh lợi ích với Trung Quốc ở Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Các biện pháp triển triển khai chủ yếu của Ấn Độ bao gồm tiếp tục theo đuổi các cơ chế hợp tác tiểu khu vực và Ấn Độ đã có những đối sách để tiến gần hơn với Myanmar một nước có tiềm năng về dầu lửa và khí đốt tự nhiên Chính phủ Ấn Độ đã quan tâm, thắt chặt quan hệ trong cuộc cạnh tranh, kình địch với Trung Quốc. Đây cũng là một trọng tâm của Chính sách Hướng đông của Ấn Độ. Hiện nay, Ấn Độ đang tham gia đối tác tích cực với Myanmar theo 3 mục tiêu chủ yếu: Ngăn cản ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực; Ngăn chặn những hoạt động tội phạm và nổi loạn
dọc theo biên giới Ấn Độ - Myanmar; Thiết lập sự tiếp xúc thật sự với các nước Đông Nam Á theo Chính sách Hướng Đông. Vị trí của Myanmar nằm ở trung tâm của Chính sách Hướng Đông, an ninh năng lượng và đối trọng với tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Ấn Độ là đối tác thương mại lớn thứ tư của Myanmar (sau Thái Lan, Trung Quốc, Singapore). Rõ ràng, Đông Nam Á nói chung và Myanmar nói riêng đang là trung tâm chú ý của Chính sách Hướng Đông mà Ấn Độ theo đuổi trong việc chạy đua gay gắt với Trung Quốc. Tiếp đó Ấn Độ đã lần lượt ký hiệp nghị hợp tác song phương với các nước Việt Nam, Singapore, Indonesia, Malaysia, Campuchia trọng tâm hợp tác bao gồm hợp tác đào tạo nhân viên, tập trận chung, an ninh trên biển v.v. Trong vấn đề Biển Đông, hải quân Ấn Độ đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc chống buôn lậu và cướp biển ở eo biển Malacca, tập trận chung với Hải quân Singapore tại Biển Đông. Hải quân Ấn Độ cũng có quan hệ với các nước khác như Indonesia và Malaysia.
Bên cạnh đó Ấn Độ luôn nhấn mạnh Việt Nam là trụ cột trong chính sách “Hướng Đông” và “Hành động hướng Đông”. Mục tiêu của New Delhi là muốn giúp Việt Nam xây dựng tiềm lực để trở thành một quốc gia mạnh trên Biển Đông. Trên thực thế, mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ được đánh giá là mối quan hệ toàn diện và có lịch sử lâu dài. Trong suốt những năm tháng chiến tranh, Ấn Độ đã giúp đỡ và ủng hộ Việt Nam về mặt ngoại giao với tinh thần đoàn kết quốc tế đặc trưng của nền ngoại giao Ấn.
Lịch sử đó khiến cho quan hệ Việt - Ấn hiện tại vận hành dựa trên niềm tin rất lớn mà hai bên dành cho nhau. Trong chính sách hành động hướng Đông của mình, Ấn Độ nói rằng Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất.
Không chỉ trên lĩnh vực kinh thế hay thương mại, an ninh quốc phòng trong thời gian gần đây nổi lên là lĩnh vực có tốc độ phát triển hợp tác nhanh chóng giữa hai bên. Quan hệ hợp tác quốc phòng từng bước phát huy hiệu quả, ngày