1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá Luận Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Tòa Án Trong Tố Tụng Dân Sự Việt Nam.doc

117 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Tòa Án Trong Tố Tụng Dân Sự Việt Nam
Tác giả Dương Thị Thanh Thúy
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Nguyễn Trần Bảo Uyên
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 12,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2Khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG THỊ THANH THÚY

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN

SỰ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Phụ lục 2:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Mẫu trang phụ bìa (Khổ 210 x 297 mm)

DƯƠNG THỊ THANH THÚY

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

GVHD: THẠC SĨ NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật Thành phốHồ Chí Minh, đặc biệt xin cảm ơn Cô Nguyễn Trần Bảo Uyên – Giảng viên KhoaLuật Dân sự Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn tận tình,thường xuyên động viên, khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả hoàn thànhcông trình nghiên cứu này

Tác giả xin cảm ơn Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tác giả được tiếp cận với những tàiliệu tham khảo quan trọng và bổ ích

Tác giả xin cảm ơn các anh/chị, bạn – những người đã động viên tác giảtrong suốt thời gian hoàn thành Khóa luận vừa qua

Khóa luận này là công trình nghiên cứu đầu tay của tác giả, do đó, không thểtránh khỏi những thiếu sót Do đó, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành

từ Quý Thầy Cô để Khóa luận được hoàn thiện hơn Tác giả xin chân thành cảm ơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Khóa luận “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa ántrong tố tụng dân sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả.Những luận điểm, ý tưởng, nhận xét, đánh giá của cơ quan, tổ chức và các tác giảkhác sử dụng trong bài viết đều đã được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ

Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 7 năm

2021Tác giả

Dương Thị Thanh Thúy

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số24/2004/QH11) ngày 15 tháng 6 năm 2004BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ

sung năm 2011 sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

(Luật số 65/2011/QH12) ngày 29 tháng 3 năm2011

BLTTDS năm 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số

92/2015/QH13) ngày 25 tháng 11 năm 2015Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hànhNghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP một số quy định về “Chứng minh và chứng

cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửađổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung mộtsố điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7

1.1 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án 7

1.2 Đặc điểm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án 9

1.3 Ý nghĩa hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án 13

1.4 Pháp luật một số quốc gia về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

CHƯƠNG 2. HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 21

2.1 Các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ 21

2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 38

CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 39

3.1 Về trách nhiệm chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án khi xét thấy cần thiết 39 3.2 Về trường hợp Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ nhưng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo luật định 45

3.3 Về một số biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

KẾT LUẬN 60

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của pháp luật Việt Namnói chung và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng, Nhà nước ta luôn hướngđến việc bảo vệ công lý và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể1 Theođó, để đảm bảo những giá trị này, khi giải quyết bất kỳ vụ việc nào thì điều tiênquyết Tòa án phải làm được đó là tìm ra bản chất, hiểu rõ các tình tiết, sự kiện liênquan đến vụ việc, từ đó mới có cơ sở xác định phương hướng giải quyết đúng đắn.Tòa án với vai trò “cầm cân nảy mực”, bảo vệ công lý và quyền con người, khôngthể đưa ra phán quyết hay chấp bút cho một bản án, quyết định bằng những luậnđiểm chủ quan của mình mà phải dựa trên hệ thống chứng cứ phản ánh đúng bứctranh sự thật khách quan của vụ việc Về nguyên tắc, các chứng cứ này sẽ do đươngsự cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp2 Tuynhiên, không phải lúc nào chứng cứ mà đương sự giao nộp cho Tòa án cũng đầy đủ

để Tòa án xem xét, đánh giá và rút ra bản chất vụ việc Do đó, Bộ luật Tố tụng dânsự năm 2015 đã đặt ra vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án trong một số trường hợpvà mục đích của nó không nằm ngoài hỗ trợ đương sự và đảm bảo giải quyết vụviệc được toàn diện và khách quan3 Cụ thể, trong trường hợp đương sự gặp khókhăn khi thu thập chứng cứ và có yêu cầu hỗ trợ thì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợđương sự thu thập chứng cứ Bên cạnh đó khi Tòa án xét thấy cần thiết, Tòa án cóquyền chủ động thực hiện một số biện pháp thu thập chứng cứ luật định Các chứngcứ do Tòa án thu thập được kết hợp với các chứng cứ được cung cấp bởi các chủ thểkhác sẽ tạo thành một hệ thống chứng cứ đầy đủ, toàn diện, giúp bản chất của vụviệc được phơi bày, sáng tỏ

Trải qua quá trình tồn tại, phát triển, pháp luật tố tụng dân sự nói chung vàquy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói riêng đã có những điềuchỉnh theo hướng ngày càng tiến bộ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thôngqua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XIII, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 được xem

1Nguyễn Thị Thu Sương (2020), Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1.

2Khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao

nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.

3Khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án

có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ”.

Trang 8

như là một bước chuyển mình quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự nước nhà.Qua hơn năm năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 đã có những đóng góp quan trọng ở nhiều phương diện

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc thi hành Bộ luật Tố tụng dânsự năm 2015 nói chung và một số quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa

án nói riêng cũng còn nhiều vướng mắc Điển hình như chưa có cách hiểu thốngnhất về trường hợp “xét thấy cần thiết” chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án,nhiều biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án quy định chưa rõ ràng, dẫn đến khókhăn khi áp dụng trên thực tiễn Từ đó khiến cho nhiều vụ án bị xét xử sơ thẩm,phúc thẩm, giám đốc thẩm nhiều lần, gây mất thời gian, tốn kém chi phí cho Nhànước, đương sự mà lý do liên quan đến việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, có saisót trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là một trong những lý do khôngthể không nhắc đến

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trongtố tụng dân sự trong thời điểm hiện nay vẫn rất cần thiết nhằm hoàn thiện các quyđịnh hiện hành, khắc phục những vướng mắc còn tồn đọng Vì vậy, tác giả đã chọnđề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” làmđề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án trong tố tụng dân sự nói riêng là mảng đề tài đã được nhiều nhà khoa học,tác giả quan tâm, nghiên cứu theo nhiều góc độ và hình thức khác nhau từ khái quátđến cụ thể Tác giả xin liệt kê một số công trình như sau:

Dưới hình thức giáo trình, có một số giáo trình nghiên cứu sau đây:

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố

tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên), Nxb Hồng Đức – Hội

Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng

dân sự Việt Nam, Mã Duy Quân (chủ biên), Nxb Công an nhân dân: Các giáo trình

này đã cung cấp những kiến thức cơ bản, mang tính nền tảng về hệ thống pháp luậttố tụng dân sự Việt Nam nói chung nhằm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu củasinh viên Tuy nhiên vì là công trình nghiên cứu về pháp luật tố tụng dân sự nóichung cũng như đối tượng tiếp cận là sinh viên nên các công trình này chủ yếu đềcập đến những vấn đề lý luận mang tính khái quát Trong đó, về hoạt động thu thậpchứng cứ, mặc dù các giáo trình dành một chương riêng để trình bày, nghiên cứu

Trang 9

tuy nhiên chưa quá đi sâu phân tích cũng như chưa đưa ra điểm bất cập và hướng hoàn thiện đối với các quy định hiện hành về hoạt động này.

Dưới hình thức sách chuyên khảo, có các công trình nghiên cứu sau:

- Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động: Tại công trình nghiên cứu này, nhóm tác giả

Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp đã có những phân tích, đánh giá, bình luận dựatrên các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử liên quan đến việc ápdụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ

- Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam: Công

trình nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về một số điểm mới của Bộ luậtTố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sungnăm 2011 Trong đó có bình luận điểm mới về chứng cứ và chứng minh, về hoạtđộng thu thập chứng cứ

Có thể thấy cả hai công trình đều có những nội dung liên quan đến hoạt độngthu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, với vai trò là một công trìnhnghiên cứu, bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự nên không thể đi sâu phântích về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án mà chỉ có thể đưa ra những phântích, đánh giá một cách khái quát nhất những điểm nổi bật của hoạt động này

Dưới hình thức bài báo khoa học, bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành, có thể kể đến các bài viết như:

Nguyễn Thị Linh Trang (2020), “Kinh nghiệm kiểm sát việc thu thập chứng

cứ của Tòa án”, Tạp chí Kiểm sát, số 09; Thái Chí Bình (2019), “Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 19 (395); Phan

Thị Thu Hà (2018), “Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định của Bộluật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ, chứng minh và một số đề xuất, kiến

nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân Tối cao, số 08; Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015),

“Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 07 (287);

Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2015), “Thu thập chứng cứ trong giải quyết

vụ việc dân sự - những khó khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa

án nhân dân, số 01; Hà Thái Thơ (2013), “Một số ý kiến về trách nhiệm thu thập

chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp,

số 05

Trang 10

Các bài viết nêu trên cũng đã phân tích được một số vấn đề cơ bản về chứngcứ, chứng minh và hoạt động thu thập chứng cứ, cụ thể như: Trách nhiệm và một sốbiện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án; Vướng mắc của Tòa án khi tiến hành thuthập chứng cứ; Hoạt động kiểm sát việc thu thập chứng cứ của Tòa án Tuy nhiên,với vai trò là những bài viết ngắn đăng trên tạp chí chuyên ngành nên chỉ có thể đềcập đến một số khía cạnh về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, chưa đi sâuphân tích một cách toàn diện về hoạt động này.

Dưới hình thức Luận văn Thạc sĩ Luật học, có các công trình nghiên cứu:

- Hồ Quyết Tiến (2015), Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh: Công trình tập trung nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của Tòa ántrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói chung Do đó, công trình chỉ dànhmột phần để đề cập, phân tích, làm rõ một số vấn đề liên quan đến hoạt động thuthập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm như quyền thu thập chứngcứ của Tòa án, quy định biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

- Trương Việt Hồng (2015), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ

thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Hiểu (2015), Hoạt động thu

thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Tại hai côngtrình này, các tác giả đã nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt động thu thậpchứng cứ do Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dânsự, nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự một số quốc gia về hoạt động này để thamkhảo Qua đó đã chỉ ra một số bất cập, như: cách hiểu như thế nào là trường hợpTòa án thu thập chứng cứ chưa thống nhất; trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa

án chưa được quy định rõ ràng

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự đãđược nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và mỗi tác giả lại chọn cho mình mộthướng tiếp cận riêng Song các tác giả chủ yếu nghiên cứu về hoạt động thu thậpchứng cứ nói chung của các chủ thể có quyền thu thập chứng cứ trong tố tụng dânsự và trong đó có Tòa án, hoặc là nghiên cứu chung về quy định của pháp luật tốtụng dân sự hiện hành, trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Cáccông trình nghiên cứu riêng về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn còn ít,

Trang 11

chủ yếu là những bài viết, bài trao đổi ngắn trên các báo và tạp chí chuyên ngành.Tuy nhiên, những kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu nêu trên đều mangnhững giá trị khoa học nhất định và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giảtrong suốt quá trình thực hiện Khóa luận này.

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm phân tích, đánh giá, luận giải để làm rõ về hoạtđộng thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động thu

thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, qua đó tìm ra những điểm bất cập,chưa rõ của các quy định pháp luật và đưa ra những đánh giá, nhận xét

Thứ hai, phân tích, bình luận thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu

thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự nhằm tìm ra những vướng mắc, khókhăn khi thực thi những quy định này trên thực tế

Thứ ba, liên hệ một số quy định trong pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về

các vấn đề cần phân tích để rút ra những điểm tương đồng, khác biệt của những quyđịnh này so với quy định trong pháp luật Việt Nam, qua đó làm cơ sở cho việc xemxét sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứngcứ của Tòa án theo hướng ngày càng hoàn thiện

Thứ tư, đưa ra được một số kiến nghị cụ thể, phương hướng hoàn thiện pháp

luật, góp phần hoàn thiện quy định hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là một vấn đềlớn, có nhiều hướng tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau Trong khuôn khổ vàđiều kiện thời gian nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ tập trung nghiêncứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam dướigóc độ lý luận, các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và trình tự, thủtục tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ cụ thể của Tòa án được quy định tạiBộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Bên cạnh đó, để có cơ sở so sánh, đối chiếu vớiquy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tác giả có nghiên cứu một số quyđịnh có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011

Tác giả cũng tham khảo một số quy định trong pháp luật tố tụng dân sự nướcngoài, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 12

Cộng hòa Pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức về vấn đề có liênquan để có cơ sở đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam.

Đối với một số vấn đề, tác giả có sự liên hệ với một số tài liệu, bản án, quyếtđịnh của Tòa án và bình luận, đánh giá để làm rõ hơn vấn đề cần phân tích, từ đótăng tính thực tiễn cho những kiến nghị pháp luật có liên quan về hoạt động thu thậpchứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp khác nhau, được thể hiện cụ thể như sau:

- Đối với Chương 1: Tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, chứngminh, diễn giải, tổng hợp để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động thuthập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Đồng thờiphương pháp so sánh cũng được sử dụng để làm sáng tỏ một số điểm tương đồng vàkhác biệt trong quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia vềhoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

- Đối với Chương 2: Tác giả cũng sử dụng các phương pháp phân tích, chứngminh, diễn giải, tổng hợp để trình bày về các quy định của pháp luật hiện hành vềhoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

- Đối với Chương 3: Tác giả đã sử dụng phương pháp bình luận để đánh giáhoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án thông qua một số vụ án cụ thể Từ đó, liênhệ với quy định của pháp luật hiện hành để rút ra những điểm còn hạn chế, bất cập,thiếu khả thi, là cơ sở để tác giả đưa ra các đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiệnmột số quy định hiện nay

5 Bố cục của Khóa luận

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,Khóa luận có kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

Chương 2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự ViệtNam

Chương 3 Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ

CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Chứng minh trong TTDS được hiểu là “hoạt động của các chủ thể có thẩmquyền làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự”4 Do đó, để tìm ra bảnchất của vụ việc dân sự thì không thể không đề cập đến hoạt động chứng minh Hơnthế nữa, với tầm quan trọng đặc biệt, chứng minh còn được xem là “hoạt động trọngtâm trong TTDS”5 Sự quan trọng, tính “trọng tâm” thể hiện ở điểm hoạt độngchứng minh sẽ chi phối, ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tố tụng, đến kết quả giảiquyết của Tòa án cũng như đến các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ việc.Hoạt động chứng minh có đầy đủ, toàn diện thì “bức tranh sự thật khách quan” mớiđược phơi bày, sáng tỏ Ngược lại, hoạt động chứng minh không được chú trọng,tiến hành không đầy đủ thì vụ việc sẽ tồn đọng những vướng mắc chưa được làm rõ.Điều này sẽ khiến Tòa án gặp khó khăn trong việc vận dụng pháp luật vào quá trìnhgiải quyết, từ đó ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các chủ thể Đồng thời, xuấtphát từ bản chất là làm rõ các sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, hoạtđộng chứng minh diễn ra trong suốt quá trình tố tụng chứ không riêng ở một haymột số giai đoạn tố tụng cụ thể nào Khi nào vụ việc còn vướng mắc cần xác minh,làm rõ thì hoạt động chứng minh còn diễn ra

Có thể hiểu chứng minh là một quá trình bao gồm một chuỗi các hoạt độngkhác nhau, điển hình là “các hoạt động thu thập, cung cấp, kiểm tra và đánh giáchứng cứ”6 Qua đó, có thể khẳng định hoạt động thu thập chứng cứ nói chung vàcủa Tòa án nói riêng là một giai đoạn, một hoạt động trong quá trình chứng minh.Như đã đề cập, chứng minh được xem là hoạt động trọng tâm trong TTDS, do đóhoạt động thu thập chứng cứ - một trong các dạng hoạt động trong quá trình chứngminh - cũng mang ý nghĩa đặc biệt không kém Vì thế, tìm hiểu một cách đầy đủ vàtoàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động này là một yêu cầu không thể

4Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam,

Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 178 - 179.

5Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (4), tr 178.

6Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (4), tr 178.

Trang 14

thiếu khi nghiên cứu về chế định chứng minh nói riêng và pháp luật TTDS nóichung.

Khái niệm chính là phạm trù tiên quyết phải tìm hiểu khi nghiên cứu bất kỳvấn đề nào và hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng không nằm ngoàinguyên tắc đó Có thể thấy, mặc dù đây là một hoạt động rất quan trọng trong thủtục TTDS và BLTTDS năm 2015 cũng đã có nhiều quy định pháp luật tương đốiđầy đủ và chi tiết điều chỉnh hoạt động này nhưng vẫn chưa đưa ra một định nghĩa

cụ thể Hiện nay, khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ được đềcập dưới góc độ là ý kiến cá nhân của các học giả, các nhà nghiên cứu trong cáccông trình khoa học pháp lý, trong các bài viết chuyên ngành pháp luật, trong sáchchuyên khảo cũng như giáo trình của các trường đại học đào tạo luật Sau đây, tácgiả sẽ lần lượt phân tích khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án dựa trêncách giải thích từ ngữ trong từ điển tiếng Việt cũng như theo quan điểm của một sốnhà nghiên cứu để có những tìm hiểu bước đầu về khái niệm của hoạt động này

Theo Từ điển tiếng Việt, động từ “thu thập” được định nghĩa là hoạt động

“góp nhặt và tập hợp lại”7 Còn về khái niệm chứng cứ, BLTTDS năm 2015 đã có

quy định cụ thể tại Điều 93 như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có

thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa

án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là

có căn cứ và hợp pháp” Như vậy, có thể hiểu thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt

động Tòa án tìm kiếm từ các nguồn chứng cứ để “góp nhặt” lại những thông tin, sựkiện có thật, có ý nghĩa trong quá trình tìm ra sự thật khách quan và giải quyết vụviệc Cụ thể hơn, thu thập chứng cứ của Tòa án là dạng hoạt động mà ở đó Tòa án

sẽ “phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ”8 để nghiên cứu, đánh giá vàtập hợp lại thành một hệ thống chứng cứ đầy đủ, toàn diện Bên cạnh đó, để đảmbảo tính tuân theo pháp luật của một hoạt động pháp lý do Tòa án tiến hành, hoạtđộng này còn phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định

Theo giáo trình Đại học Luật Hà Nội, hoạt động thu thập chứng cứ được ghinhận là “việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự

7Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr 958.

8Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật

học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 7.

Trang 15

để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”9 Bên cạnh đó, kháiniệm hoạt động thu thập chứng cứ cũng được đề cập trong một số công trình nghiêncứu Chẳng hạn hoạt động thu thập chứng cứ được định nghĩa là hành vi pháp lýthông qua việc phát hiện, thu giữ, bảo quản, tập hợp các chứng cứ tạo cơ sở cho việckhởi kiện hoặc phản đối yêu cầu của đương sự, và ra phán quyết của Tòa án theoquy định của pháp luật10 Hay một quan điểm khác cho rằng hoạt động thu thậpchứng cứ là “một dạng hoạt động TTDS của các chủ thể chứng minh trong việc pháthiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theomột trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định”11.

Thông qua một số phân tích và khái niệm được trích dẫn như trên, có thểthấy hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chưa có định nghĩa thống nhất Hơnnữa, khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói riêng chưa được đề cậptrực tiếp mà chỉ có thể rút ra từ khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ nói chungcủa các chủ thể có quyền thu thập chứng cứ Trong khi đó, hoạt động thu thậpchứng cứ của Tòa án ngoài những đặc điểm chung là hoạt động phát hiện, ghi nhậnchứng cứ thì còn có những đặc trưng riêng, đó là một hoạt động pháp lý do chủ thểlà Tòa án tiến hành nhằm hỗ trợ đương sự trong thu thập chứng cứ và nhằm đảmbảo vụ việc được giải quyết khách quan và toàn diện Đây là điểm đặc biệt của hoạtđộng thu thập chứng cứ của Tòa án mà tác giả nhận thấy nên được đề cập trong kháiniệm nhằm phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể khác trongTTDS

Từ những phân tích trên, có thể hiểu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa

án là một dạng hoạt động pháp lý của Tòa án, theo đó khi đương sự cần hỗ trợ thu thập chứng cứ hoặc khi Tòa án xét thấy cần thiết nhằm đảm bảo vụ việc dân sự được giải quyết khách quan, toàn diện, Tòa án tiến hành các biện pháp luật định để tìm ra chứng cứ và đưa vào hồ sơ vụ việc để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng trong quá trình giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định.

1.2 Đặc điểm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Khi nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS, cóthể rút ra một số đặc điểm về hoạt động này sau đây:

9Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Mã Duy Quân (chủ biên),

Nxb Công an nhân dân, tr 153.

10 Nguyễn Văn Hiểu (2015), Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án phúc thẩm trong quá trình

giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 10.

11 Hà Thái Thơ (2013), tlđd (8), tr 7.

Trang 16

Thứ nhất, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án mang tính pháp lý và phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định

Khác với các hoạt động “thu thập” thông thường, hoạt động thu thập chứngcứ của Tòa án là hoạt động mang tính pháp lý nhằm tìm ra “chứng cứ” – mang tưcách là “linh hồn” của tố tụng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vụ việc dânsự12 Do đó, hoạt động này phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định, nghĩa là Tòa ánkhi thu thập chứng cứ chỉ được sử dụng các biện pháp nhất định mà pháp luật cóquy định và khi sử dụng các biện pháp đó thì Tòa án cũng phải tuân theo nhữngtrình tự, thủ tục cụ thể mà pháp luật đặt ra đối với từng biện pháp Như vậy mớiđảm bảo quá trình giải quyết vụ việc được diễn ra hợp pháp, minh bạch, chứng cứthu được một cách đúng pháp luật và có giá trị sử dụng

Đặc điểm này cũng phù hợp với nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong TTDSViệt Nam – một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTDS, mang tính chỉ đạoxuyên suốt và có giá trị bắt buộc tuân thủ đối với các chủ thể tham gia tố tụng lẫncác chủ thể tiến hành tố tụng Nguyên tắc chỉ ra rằng mọi hoạt động TTDS của cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của BLTTDS13 Theo đó,hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án với tư cách là một dạng hoạt động TTDScủa cơ quan tiến hành tố tụng nên phải tuân thủ theo các trình tự, thủ tục màBLTTDS quy định nói riêng và pháp luật TTDS Việt Nam nói chung

Thứ hai, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án rất phong phú, đa dạng:

Đặc điểm này được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

Một là, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có sự phụ thuộc vào mỗi vụ

việc được xem xét vì “ở mỗi nội dung vụ việc khác nhau đều đặt ra những nội dungthu thập chứng cứ khác nhau”14 Nói cách khác, đối với từng loại vụ việc, Tòa án sẽcần thu thập những chứng cứ khác nhau Thậm chí cùng một loại vụ việc, nội dungthu thập chứng cứ cũng có những đặc thù riêng phụ thuộc vào các tình tiết, sự kiệncủa vụ việc đó Ví dụ, đối với tranh chấp về thừa kế theo di chúc thì nội dung thuthập chứng cứ cần liên quan đến di chúc của người chết, tình trạng di sản, phân chia

di sản hay đối với tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì nội dung

12 Nguyễn Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 9.

13 Điều 3 BLTTDS năm 2015.

14 Hà Thái Thơ (2013), tlđd (8), tr 10.

Trang 17

thu thập chứng cứ cần liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang tranhchấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thỏa thuận của các bên liên quanđến hợp đồng chuyển nhượng đó Đây chính là nguyên nhân tạo nên đặc điểm tínhphong phú, đa dạng của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.

Hai là, sự phong phú, đa dạng của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

còn thể hiện ở việc chứng cứ có thể được rút ra từ rất nhiều nguồn khác nhau Dođó, để thu thập chứng cứ, Tòa án cũng phải tiếp cận từ rất nhiều nguồn chứng cứ

Cụ thể, Điều 94 BLTTDS năm 2015 đã liệt kê đến chín loại nguồn chứng cứ, baogồm: Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; Vật chứng; Lời khaicủa đương sự; Lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định; Biên bản ghi kếtquả thẩm định tại chỗ; Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Văn bản ghinhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng,chứng thực và dự liệu thêm các nguồn khác mà pháp luật có quy định

Ba là, việc cho phép Tòa án sử dụng nhiều biện pháp thu thập chứng cứ khác

nhau cũng đã góp phần tạo nên tính đa dạng cho hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án Theo quy định tại Điều 97 BLTTDS năm 2015, Tòa án có thể tiến hành đadạng các biện pháp để thu thập chứng cứ, bao gồm: Lấy lời khai của đương sự,người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với ngườilàm chứng; Trưng cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủythác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cungcấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việcgiải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơicư trú và các biện pháp khác theo quy định

Thứ ba, kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là nền tảng cho các hoạt động khác của quá trình chứng minh

Như đã phân tích, giữa chứng minh và thu thập chứng cứ có mối liên hệ chặtchẽ với nhau Theo đó có thể khẳng định thu thập chứng cứ là một bước quan trọngcủa quá trình chứng minh, bên cạnh các hoạt động còn lại của quá trình chứng minhnhư kiểm tra, đánh giá và đi đến sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ việc Sở dĩ nóikết quả của hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng là nềntảng cho các hoạt động khác của quá trình chứng minh bởi lẽ thu thập chứng cứ làhoạt động đầu tiên của chứng minh, bắt đầu quá trình chứng minh Có thu thậpchứng cứ và tập hợp lại thì mới có cơ sở để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng

Trang 18

Kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chính là toàn bộ nhữngchứng cứ mang tính “suy đoán” ban đầu, nghĩa là chỉ thu thập những gì có thể đượcxem là chứng cứ chứ chưa thể khẳng định có mang giá trị chứng minh hay không.Những gì thu thập được sẽ trở thành đối tượng của hoạt động tiếp theo của quá trìnhchứng minh, đó là hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Đây chính là điểmthể hiện tính “nền tảng” đang được đề cập Còn đối với hoạt động cuối cùng của quátrình chứng minh - hoạt động sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ việc - thì tính “nềntảng” cũng được thể hiện ở chỗ những chứng cứ được sử dụng chính là nhữngchứng cứ “suy đoán” ban đầu được thu thập sau khi đã được kiểm chứng giá trị.Như vậy, các hoạt động tiếp theo của quá trình chứng minh chỉ có thể bắt đầu khihoạt động thu thập chứng cứ đã có kết quả và các hoạt động này luôn luôn có đốitượng là những chứng cứ ban đầu có được từ hoạt động thu thập.

Thứ tư, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được tiến hành khi cần thiết

và mang tính hỗ trợ cho đương sự

Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của đương sự trong thu thập chứngcứ Đương sự phải có trách nhiệm chủ động thu thập chứng cứ để chứng minhnhững yêu cầu mình đưa ra là có căn cứ và hợp pháp, bởi lẽ họ chính là người khởiphát, “châm ngòi” cho một quá trình tố tụng, là người biết rõ nhất các thông tin, tàiliệu liên quan đến yêu cầu mà mình đưa ra Còn Tòa án chỉ có vai trò hỗ trợ đươngsự bởi lẽ Tòa án không phải là chủ thể hiểu rõ nhất bản chất, tình tiết, sự kiện liênquan đến vụ việc Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản đặc thù giữa pháp luật tố tụnghình sự và pháp luật TTDS Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm thu thập chứng cứvà chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, baogồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Người bị buộc tội có quyền nhưngkhông buộc phải chứng minh là mình vô tội15

Như vậy, mặc dù pháp luật TTDS Việt Nam cho phép cả Tòa án và đương sựđều có quyền thu thập chứng cứ, tuy nhiên có sự phân chia vai trò chính - phụ rõràng và trở thành một đặc điểm quan trọng của hoạt động thu thập chứng cứ của

15 Theo quy định tại Điều 15 và Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.

Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh”.

Trang 19

Tòa án Theo đó, vai trò chính thuộc về đương sự và hoạt động thu thập chứng cứcủa Tòa án chỉ được tiến hành khi cần thiết và mang tính hỗ trợ.

1.3 Ý nghĩa hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đóng vai trò vô cùngquan trọng không chỉ đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự mà còn đối với cảđương sự và Tòa án:

1.3.1 Đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự

Quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật TTDStạo điều kiện cho Tòa án có thể tìm ra được bản chất, sự thật của vụ việc, bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình giải quyết Trên thực tế,không phải lúc nào đương sự cũng có thể chủ động thu thập tất cả các chứng cứ cầnthiết phục vụ cho quá trình giải quyết vụ việc Do đó, Tòa án với tư cách là một cơquan tư pháp, mang sứ mệnh “cầm cân nảy mực”, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền conngười, sẽ tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ việc đangxem xét Cùng với chứng cứ được các chủ thể khác cung cấp cho Tòa án, các chứngcứ mà Tòa án tiến hành thu thập sẽ tạo thành một hệ thống chứng cứ đầy đủ và toàndiện nhất Những thông tin, dữ kiện được thể hiện thông qua hệ thống chứng cứ này

sẽ được Tòa án xem xét, nhận định, đánh giá để tìm ra bản chất vụ việc và kết quảcuối cùng là ban hành được một bản án, một quyết định khách quan và đúng phápluật Hơn nữa, pháp luật cho phép Tòa án thu thập chứng cứ nhưng có đặt ra nhữnghạn chế, chỉ tiến hành khi thuộc một số trường hợp chứ không phải tiến hành mộtcách tùy tiện trong mọi trường hợp Do đó vừa bảo đảm chứng cứ thu thập được đầy

đủ, toàn diện vừa không ảnh hưởng đến tính khách quan dẫn đến tiêu cực trong xétxử

1.3.2 Đối với đương sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án có ý nghĩa hỗ trợ cho đương sựnhưng vẫn không làm mất đi tính chủ động, quyền tự định đoạt của đương sự vì Tòa

án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định Như đã phântích, đương sự là chủ thể có trách nhiệm hàng đầu trong việc chủ động thu thậpchứng cứ Đồng thời, đây cũng là quyền giúp họ có cơ sở chứng minh cho nhữngyêu cầu mà mình đưa ra, từ đó có khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng.Quyền chủ động thu thập của đương sự thể hiện ở điểm “đương sự có thể thu thậpchứng cứ ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc, phù hợp với kế hoạch và điều kiện chủ quancủa mình, không bị ràng buộc, thúc ép hay phải tuân theo một chỉ đạo hoặc điều

Trang 20

khiển của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào”16 Còn Tòa án chỉ hỗ trợ đương sựthu thập chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được dù đã áp dụng mọi biệnpháp có thể và có yêu cầu Tòa án hỗ trợ Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập không hề làm mất đivai trò chủ động, quyền tự định đoạt của đương sự mà ngược lại còn hỗ trợ chođương sự có được những chứng cứ quan trọng, cần thiết để bảo đảm quyền và lợiích hợp pháp của mình.

1.3.3 Đối với Tòa án

Pháp luật TTDS hiện nay đã có quy định tương đối cụ thể về các trường hợpTòa án tiến hành thu thập chứng cứ Quy định này có ý nghĩa giúp Tòa án phân địnhđược trách nhiệm thu thập chứng cứ của mình với các chủ thể khác, đặc biệt làđương sự Từ đó giúp giảm bớt gánh nặng cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụviệc vì không phải “gồng gánh” thay cho đương sự trong trách nhiệm thu thậpchứng cứ nữa Quy định này thể hiện sự thay đổi lớn trong tư duy của những nhàlập pháp, theo đó giải phóng vai trò chủ yếu của Tòa án trong thu thập chứng cứ.Tòa án không còn mang vai trò chính trong thu thập chứng cứ như quy định tạiPháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 năm 1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự doHội đồng nhà nước ban hành BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 đánhdấu “bước chuyển mình” quan trọng trong tư duy của nhà làm luật, trong triết lý củapháp luật TTDS Việt Nam khi quy định vai trò chủ động của đương sự trong thuthập chứng cứ, đồng thời giải phóng trách nhiệm cho Tòa án khi Tòa án chỉ tiếnhành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp Bộ luật quy định17 ĐếnBLTTDS năm 2015, trên cơ sở kế thừa và phát huy quy định tiến bộ này, đã một lầnnữa khẳng định trách nhiệm chính của đương sự trong thu thập chứng cứ, Tòa ánchỉ có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hànhthu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp luật định18 Như vậy, quy định

16 Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr 17.

17 Điều 6 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định:

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ và hợp pháp [ ]

2 Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.

18 Điều 6 BLTTDS năm 2015 quy định:

“1 Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp [ ]

2 Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.

Trang 21

về hoạt động thu thập thu thập chứng cứ của Tòa án có ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với hoạt động của Tòa án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc, giúp Tòa áncó cơ sở phân định trách nhiệm thu thập chứng cứ của mình với các chủ thể khác,giảm bớt gánh nặng cho Tòa án.

1.4 Pháp luật một số quốc gia về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài để tiếp nhận những giá trịpháp lý tiến bộ, phù hợp, tránh trường hợp “vay mượn máy móc” thiếu sự chọn lọclà cơ sở quan trọng để hoàn thiện pháp luật Việt Nam Đối với vấn đề hoàn thiệnnhững quy định pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng vậy, nhucầu tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài cũng là nội dung cần được chútrọng Trong khuôn khổ và điều kiện thời gian nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp, tácgiả không thể đi sâu phân tích tất cả quy định về hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án theo pháp luật TTDS Liên bang Nga, pháp luật TTDS Cộng hòa Pháp vàpháp luật TTDS Cộng hòa Liên bang Đức, mà chỉ có thể phân tích một số quy địnhcơ bản về hoạt động này Đây là một số quốc gia tác giả cho rằng có các quy địnhpháp luật phù hợp, tương đồng với pháp luật Việt Nam có thể được nghiên cứu vàhọc hỏi để hoàn thiện các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

1.4.1 Pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật TTDS Liên bangNga được quy định tại Chương VI về chứng cứ và chứng minh của BLTTDS Liênbang Nga, thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2003.Chương VI về chứng cứ và chứng minh có 33 Điều, từ Điều 55 đến Điều 87 vớinhững quy định cụ thể về nghĩa vụ chứng minh, các loại chứng cứ và đặc biệt làthủ tục thu thập, đánh giá chứng cứ của Tòa án

Theo đó, pháp luật TTDS Liên bang Nga cho phép Tòa án giúp đỡ nhữngngười tham gia tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, cụ thể khoản 1 Điều 57

BLTTDS Liên bang Nga quy định: “Trong trường hợp những người tham gia tố

tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ, Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ”19, còn nghĩa vụchứng minh vẫn thuộc về các bên Pháp luật quy định mỗi bên tham gia tố tụng cónghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu của mình

19 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên Bang

Nga, Nxb Tư pháp, tr 80.

Trang 22

hay sự phản đối yêu cầu của bên kia Bên cạnh đó, theo BLTTDS Liên bang Nga,Tòa án cũng có quyền áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ mà pháp luật cóquy định, như: xem xét và nghiên cứu chứng cứ tại chỗ20 (Điều 58), ủy thác thuthập chứng cứ trong trường hợp chứng cứ cần thu thập nằm ở thành phố khác hoặcở quận khác21 (Điều 62), biện pháp bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứđược cho rằng khó bảo quản và những người tham gia tố tụng có yêu cầu22 (Điều64), biện pháp trưng cầu giám định trong trường hợp phát sinh vấn đề cần kiến thứcchuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, thủ công23 (Điều 79).

Như vậy, giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên bang Nga có sự tươngđồng về vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án và đương sự trong TTDS Vai tròchứng minh và thu thập chứng cứ chủ yếu thuộc về đương sự, Tòa án cũng có quyềnthu thập chứng cứ với tư cách hỗ trợ cho đương sự khi họ gặp khó khăn trong việcthu thập chứng cứ và có yêu cầu Tòa án hỗ trợ Hơn nữa, Tòa án Nga khi thu thậpchứng cứ cũng có quyền áp dụng một số biện pháp tương tự pháp luật Việt Namquy định như biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ, biện pháp trưng cầu giám định.Nhìn chung, về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, phápluật Việt Nam và pháp luật Liên bang Nga có khá nhiều điểm tương đồng

1.4.2 Pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp

Theo pháp luật TTDS Cộng hòa Pháp, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh choyêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ thuộc về đương sự Điều 9 BLTTDS

Cộng hòa Pháp quy định: “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật

định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình”24 Tòa án mặc dùcũng có quyền thu thập chứng cứ nhưng chỉ mang vai trò hỗ trợ đương sự, khôngthực hiện thay nghĩa vụ thu thập chứng cứ và chứng minh cho đương sự Về thẩmquyền, phạm vi cũng như các biện pháp Tòa án được phép sử dụng để thu thậpchứng cứ thì pháp luật Cộng hòa Pháp có những quy định rất linh hoạt cho Thẩmphán Theo đó, thẩm quyền thu thập chứng cứ của Tòa án rất lớn khi BLTTDS Phápcho phép Thẩm phán có quyền ra lệnh thực hiện bất kỳ biện pháp thẩm cứu thích

20 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), tlđd (19), tr 81.

21 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), tlđd (19), tr 82.

22 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), tlđd (19), tr 83.

23 Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), tlđd (19), tr 90 - 91.

24 Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính

trị quốc gia, tr 9.

Trang 23

hợp nào25 (Điều 10) hay Thẩm phán được phép chủ động thực hiện các biện phápthu thập chứng cứ mà không lệ thuộc vào bất kỳ thể thức nào như nghe lời trình bàycủa các bên26 (Điều 27), lấy lời khai của bất kỳ người nào nếu Thẩm phán cho rằngsự tham gia của họ là cần thiết cho việc làm rõ sự thật của vụ việc27 (Điều 218).Ngoài ra, Thẩm phán cũng có quyền áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứkhác như yêu cầu một bên xuất trình tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của bên kiahoặc yêu cầu bên thứ ba đang nắm giữ tài liệu, chứng cứ mà việc không xuất trìnhkhông có lý do chính đáng28 (Điều 11)

Từ những phân tích trên, có thể thấy các quy định về hoạt động thu thậpchứng cứ của Tòa án trong pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp cónhiều điểm tương đồng lẫn khác biệt Về điểm tương đồng, cả hai quốc gia đều quyđịnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ trong trường hợpđương sự không thể tự mình cung cấp chứng cứ, chứ không thay thế nghĩa vụ củađương sự Về điểm khác biệt, nổi bật lên là các quy định mang tính linh hoạt, chủđộng hơn cho Thẩm phán trong pháp luật Cộng hòa Pháp so với Việt Nam về cảthẩm quyền, phạm vi cũng như các biện pháp thu thập chứng cứ Thẩm phán theopháp luật Cộng hòa Pháp trong nhiều trường hợp có quyền tiến hành hoạt động thuthập chứng cứ mà không bị giới hạn cũng như được thực hiện nhiều biện pháp thuthập chứng cứ một cách chủ động theo ý chí của Thẩm phán mà không cần sự yêucầu của các bên như nghe lời trình bày, lấy lời khai Ngoài ra, với hệ thống án lệvô cùng phát triển, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng chịu ảnh hưởngbởi hệ thống án lệ này Đây là điểm khác biệt lớn so với pháp luật Việt Nam khinguồn luật thành văn của nước ta được chú trọng hơn nguồn án lệ khi áp dụng phápluật Theo đó, có thể khẳng định, khác với pháp luật Việt Nam, án lệ của Tòa Phá án

25 Article 10 The judge has the authority to order sua sponte any legally appropriate investigation measures.

26 Article 27 The judge carries out, even sua sponte, all useful inquiries.

He has the power to hear without any formality any persons who may provide him with guidance as well as those whose interests may be aggrieved by his decision.

27 Article 218 The judge who carries out the investigation may, sua sponte or at the request of the parties, summon or hear any person whose hearing deems to him useful for the manifestation of the truth.

28 Article 11 The parties are held to cooperate for the implementation of the investigation measures, even if the judge notes the consequences of abstention or refusal to do so.

Where a party holds evidence material, the judge may, upon the petition of the other party, order him to produce it, where necessary under a periodic penalty payment He may, upon the petition by one of the parties, request or order, where necessary under the same penalty, the production of all documents held by third parties where there is no legitimate impediment to doing so.

Trang 24

Pháp cũng là nguồn bổ sung phong phú cho TTDS, trong đó có hoạt động thu thậpchứng cứ của Tòa án Pháp trong quá trình Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự29.

1.4.3 Pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án theo BLTTDS Cộng hòa Liên bangĐức được quy định cụ thể từ Chương 5 đến Chương 11 của Bộ luật này, đặc biệt làở Chương 5 quy định trực tiếp về hoạt động thu thập chứng cứ Theo BLTTDSCộng hòa Liên bang Đức thì việc thu thập chứng cứ và trình tự tiến hành các thủ tụctố tụng để thu thập chứng cứ được thực hiện theo lệnh của Tòa án trong một sốtrường hợp luật định và phải có sự đồng ý của các bên trong vụ việc đó30 (Điều284)

BLTTDS Đức quy định chỉ trong những trường hợp được xác định trong Bộluật này, việc thu thập chứng cứ mới được chuyển giao cho một thành viên của Tòa

án đang xét xử vụ án hoặc cho một Tòa án khác31 (Điều 355) và Tòa án sẽ ban hànhcác hướng dẫn cụ thể để thực hiện việc lấy bằng chứng nếu việc lấy bằng chứng đóđòi hỏi thêm các thủ tục riêng biệt32 (Điều 358) Tuy nhiên, khác với pháp luật ViệtNam, hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán chia thành hai trường hợp:trường hợp do Thẩm phán được ủy quyền thực hiện khi việc thu thập chứng cứđược giao cho một thành viên của Tòa án đang xét xử vụ án33 (Điều 361) và trườnghợp do Thẩm phán được yêu cầu thực hiện khi việc thu thập chứng cứ được giao

29 Trương Việt Hồng (2014), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải

quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 20.

30 Section 284 Taking of evidence

The taking of evidence and the order for separate proceedings to take evidence, which is issued by a court order for evidence to be taken, are governed by the stipulations of Titles 5 through 11 The court may take evidence, provided it has obtained the consent of the parties to do so, in the manner it deems suitable This consent may be limited to individual evidence taken It may be revoked only in the event of a material change

to the litigation circumstances; this must be done prior to the process of taking evidence commencing, to which the consent originally referred.

31 Section 355 Evidence to be taken directly

(1) Evidence shall be taken before the court hearing the case Only in the cases determined in the present Code shall the taking of evidence be transferred to a member of the court hearing the case or to another court (2) The court order instructing one or the other manner of taking evidence is not contestable.

32 Section 358 Necessity of issuing an order for evidence to be taken

Should the taking of evidence require separate proceedings, the court shall issue the corresponding

instructions in an order for evidence to be taken.

33 Section 361 Evidence taken by a delegated judge charged with a task

(1) Where a member of the court hearing the case is to take evidence, the presiding judge, in pronouncing the order for evidence to be taken, is to designate the judge so delegated and shall determine the hearing at which the evidence is to be taken.

(2) Should the court have failed to determine a date for a hearing, the delegated judge shall determine it; where the delegated judge is prevented from performing the task with which he has been charged, the presiding judge shall charge a different member of the court with said task.

Trang 25

cho một Tòa án khác34 (Điều 362) Đối với mỗi trường hợp sẽ có những quy địnhtương ứng.

Như vậy, có thể thấy pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức đềucho phép Thẩm phán tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ trong một sốtrường hợp mà pháp luật ấn định, dưới sự đồng ý của các bên Tuy nhiên, hoạt độngthu thập chứng cứ của Tòa án theo pháp luật Đức có phân biệt do Thẩm phán được

ủy quyền hoặc Thẩm phán theo yêu cầu tiến hành thực hiện Tùy theo vai trò củamình, các Thẩm phán sẽ tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ và ra các lệnh cầnthiết theo trình tự, thủ tục tương ứng

Những quy định trên của pháp luật TTDS Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp vàCộng hòa Liên bang Đức đã được các quốc gia vận dụng hiệu quả trong thực tiễn.Đây là cơ sở để Việt Nam tham khảo, học hỏi và tiếp thu để hoàn thiện pháp luậtcủa quốc gia mình

34 Section 362 Evidence taken by a requested judge

(1) Where another court is charged with taking evidence, the letter of request is to be issued by the presiding judge.

(2) The requested judge shall send to the court registry of the court hearing the case an original copy of the records of the hearings concerning the taking of evidence; the court registry shall inform the parties to the dispute of its having received these records.

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong giai đoạn hiện nay, khi các quan hệ dân sự ngày càng đa dạng, kéotheo đó là các yêu cầu dân sự cũng như các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng thìnhững quy định của pháp luật tố tụng dân sự nói chung và hoạt động tố tụng củaTòa án khi giải quyết vụ việc dân sự (trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ củaTòa án) nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng, vừa là nền tảng nâng cao hiệuquả hoạt động tố tụng của Tòa án, vừa là cơ sở đảm bảo cho quyền và lợi ích hợppháp của các bên tham gia vụ việc Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Khóa luận đãtập trung nghiên cứu, tìm hiểu về “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tốtụng dân sự Việt Nam” Trong phạm vi Chương 1 của Khóa luận, tác giả đã phântích, làm rõ những vấn đề sau:

Một là, trình bày, phân tích một cách khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt

động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam, bao gồm: kháiniệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động này

Hai là, để có cơ sở đối sánh, bình luận, trong phạm vi Chương 1, tác giả đã

kết hợp phân tích một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự ba quốc gia là Liênbang Nga, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức trong mối tương quan vớicác quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật tố tụng dânsự Việt Nam Từ đó, rút ra những kết luận về tính tương đồng, khác biệt, là cơ sở đểđưa đến một cái nhìn toàn diện và để tham khảo các quy định tiến bộ các quốc gianày

Những kết quả nghiên cứu này sẽ là tiền đề quan trọng để tác giả phân tích,đánh giá về các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đếnhoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Đồng thời là cơ sở để tác giả đưa ra nhữngđề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động này tạiChương 2 và Chương 3 của Khóa luận

Trang 27

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Pháp luật TTDS Việt Nam hiện nay đã có những quy định điều chỉnh hoạtđộng thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Đểhiểu sâu hơn về các quy định này, trong phạm vi Chương 2 của Khóa luận, tác giả

sẽ tập trung nghiên cứu và trình bày theo hai nội dung chính sau đây: (i) Các trườnghợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và (ii) Các biện pháp thu thập chứng cứ củaTòa án Nghiên cứu những quy định này sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về hoạtđộng này của Tòa án, đồng thời có cơ sở chỉ ra những điểm bất cập, thiếu khả thi, từđó đưa ra những kiến nghị phù hợp

2.1 Các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ

Khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trong các trường hợp do

Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây

để thu thập tài liệu, chứng cứ” Như vậy, có thể thấy tại Điều 97 chỉ quy định về

những biện pháp Tòa án có thể thực hiện để thu thập chứng cứ mà không chỉ rõ Tòa

án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ trong những trường hợp nào Tuy nhiên, khinghiên cứu các quy định tiếp theo từ Điều 98 đến Điều 106 BLTTDS năm 2015 vềtrình tự, thủ tục tiến hành từng biện pháp thu thập chứng cứ cụ thể của Tòa án,chẳng hạn như quy định tại khoản 1 Điều 9935, khoản 1 Điều 10136, khoản 2 Điều

10237, có thể thấy có hai trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ: (i) Tòa án thu thậpchứng cứ theo yêu cầu của đương sự và (ii) Tòa án chủ động tiến hành khi xét thấycần thiết

2.1.1 Tòa án thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự

Có thể thấy, mọi quy định pháp luật nào của mỗi quốc gia đều phải phù hợpvới điều kiện kinh tế và xã hội của quốc gia đó Pháp luật phải được xây dựng phù

35 Khoản 1 Điều 99 BLTTDS năm 2015 quy định: “Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy

cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án”.

36 Khoản 1 Điều 101 BLTTDS năm 2015 quy định: “Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy

cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó”.

37 Khoản 2 Điều 102 BLTTDS năm 2015 quy định: “Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy

cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định”.

Trang 28

hợp với những điều kiện thực tế của xã hội vào một thời điểm lịch sử nhất định,không được lỗi thời nhưng cũng không được đi quá xa thời đại Đối với quy định vềtrường hợp Tòa án thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự cũng vậy, phápluật TTDS Việt Nam hiện hành cho phép Tòa án thu thập chứng cứ khi có yêu cầucủa đương sự là để có sự hài hòa với hệ thống pháp luật cũng như điều kiện kinh tế

- xã hội của nước ta, cụ thể:

Thứ nhất, có thể thấy mô hình tố tụng của nước ta hiện nay vẫn chịu ảnh

hưởng của mô hình tố tụng thẩm vấn Theo đó Thẩm phán được phân công giảiquyết vụ án chính là người trực tiếp xây dựng và đảm bảo tính đầy đủ của hồ sơ vụ

án38 Có nhiều yếu tố cấu thành hồ sơ vụ án và chứng cứ chính là một trong nhữngyếu tố cấu thành vô cùng quan trọng, quyết định tính đầy đủ của hồ sơ Do đó,Thẩm phán phải có trách nhiệm với chứng cứ thu thập được nói riêng và hồ sơ vụ

án nói chung Nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự đểgiải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án thì khi đương sự gặp khókhăn khi thu thập chứng cứ mà Tòa án không hỗ trợ theo yêu cầu thì rất khó đểThẩm phán xây dựng được hồ sơ đảm bảo đầy đủ những chứng cứ cần thiết, kéotheo hệ lụy chính là những quyết định, bản án được tuyên thiếu tính chính xác vàkhách quan

Thứ hai, ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phổ cập các tài

liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở còn hạn chế, việcquản lý hành chính còn cồng kềnh39 Điều này ảnh hưởng đến khả năng thu thập vàcung cấp chứng cứ của đương sự Thực tế cho thấy rằng, có nhiều trường hợp chứngcứ, tài liệu quan trọng đang được lưu trữ, quản lý bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhânkhác, đương sự rất nhiều lần yêu cầu được cung cấp nhưng bị từ chối với mọi lý do.Chính vì vậy, hậu quả bất lợi liên quan đến việc đương sự không cung cấp đầy đủchứng cứ là điều khó tránh khỏi Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Tòa án

để hỗ trợ đương sự thu thập những chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khácđang lưu giữ, quản lý mà đương sự không thể thu thập được

Do đó, pháp luật TTDS Việt Nam cho phép Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứkhi có yêu cầu của đương sự như vậy là quy định phù hợp, giúp làm rõ được các

38 Khoản 2 Điều 48 BLTTDS năm 2015 quy định:

“Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

[…] 2 Lập hồ sơ vụ việc dân sự”.

39 Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Văn Lin, “Vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự”, https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/519, truy cập ngày

17/6/2021.

Trang 29

tình tiết của vụ việc, bảo đảm việc giải quyết vụ việc được đúng đắn, hạn chế nhữnghậu quả bất lợi cho đương sự trong trường hợp họ không hoàn thành được nghĩa vụthu thập, cung cấp chứng cứ.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đương sự yêu cầu thì Tòa ánđều phải thu thập chứng cứ Pháp luật đặt ra điều kiện để Tòa án dựa vào đó chấpnhận hay không tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự Điều nàylà cần thiết bởi lẽ nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trách nhiệm hỗ trợ thuthập chứng cứ của Tòa án khi đương sự yêu cầu mà thiếu đi các điều kiện kèm theo

để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả thì có thể dẫn đến nhiều hệ lụy Điển hình như

“quá tải trong công việc, lãng phí nguồn nhân lực, gây tốn kém, thậm chí có thểhình thành sẵn định kiến với một trong các bên đương sự trong khi thu thập chứngcứ và nhiều khi đương sự ỷ lại, trông chờ vào Tòa án”40 Từ đó làm cho quy địnhnày chỉ được nhìn nhận dưới góc độ văn bản mà không có giá trị thực thi

Mặc dù hiện nay pháp luật TTDS Việt Nam chưa có quy định cụ thể xác địnhcác điều kiện Tòa án thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, nhưng dựa vàonhững quy định mang tính nguyên tắc cũng như một số quy định có liên quan trongBLTTDS năm 2015, chúng ta có thể rút ra những điều kiện cần đáp ứng trongtrường hợp này Cụ thể, xuất phát từ nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minhtrong TTDS ghi nhận vai trò chủ động thu thập chứng cứ thuộc về đương sự, Tòa ánchỉ có trách nhiệm hỗ trợ được quy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2015, cũng như

quyền được đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc khi “tự

đương sự không thể thực hiện được” theo quy định tại khoản 7 Điều 70 BLTTDS

năm 2015, có thể thấy Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu củađương sự khi đảm bảo đủ hai điều kiện sau đây: (i) Đương sự không thể tự mình thuthập được chứng cứ và (ii) Đương sự phải có yêu cầu cụ thể thể hiện mong muốnđược Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ Hai điều kiện này cũng được thể hiện rõ ởmột trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, đó là biện pháp yêu cầucơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ được quy định tại Điều 106BLTTDS năm 2015 Khoản 2 Điều này chỉ rõ đương sự có quyền đề nghị Tòa ántiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biệnpháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thậpđược, đồng thời phải làm đơn yêu cầu gửi Tòa án với những nội dung luật

40 Nguyễn Vinh Hưng (2018), “Nghĩa vụ chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp

chí Kiểm sát, số 20, tr 6.

Trang 30

định Tác giả cho rằng hai điều kiện này chính là cơ sở vô cùng quan trọng vừa đảmbảo trách nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ của Tòa án được thực thi hiệuquả, vừa không làm mất đi vai trò chủ động thu thập chứng cứ của đương sự.

Thứ nhất, đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ: Như đã phân

tích, đương sự là chủ thể “châm ngòi” cho toàn bộ quá trình tố tụng, là người hiểurõ nhất bản chất vụ việc và là chủ thể được quy định trực tiếp trong BLTTDS năm

2015 có nghĩa vụ chủ yếu trong thu thập chứng cứ và chứng minh Vì vậy, chỉ khinào đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ thì Tòa án mới có trách nhiệm

hỗ trợ đương sự, Tòa án không có nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ nếu đương sự ỷlại, không thể hiện vai trò chủ động, tích cực thu thập chứng cứ của mình Về cáchhiểu như thế nào là trường hợp “đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ”,hiện nay pháp luật TTDS Việt Nam vẫn chưa có quy định giải thích Tuy nhiên, vềbản chất, tác giả cho rằng chỉ khi nào đương sự đã áp dụng mọi biện pháp cần thiếttrong khả năng cho phép mà vẫn không thể thu thập được chứng cứ thì mới đượcxem là trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ Liên quanđến vấn đề này, tác giả Tưởng Duy Lượng cũng có đưa ra quan điểm của mình, cụthể tác giả nhận định để quy định về trách nhiệm hỗ trợ thu thập chứng cứ của Tòa

án thực sự có ý nghĩa thì phải đảm bảo quy định này chỉ được áp dụng “khi đươngsự chứng minh một cách rõ ràng họ đã làm hết sức mình, nhưng vì những khó khănkhách quan”41 mà họ không thể thu thập được chứng cứ

Thứ hai, đương sự phải có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ: Điều kiện này

mang ý nghĩa quan trọng bởi lẽ khi đương sự có yêu cầu thể hiện mong muốn đượcTòa án hỗ trợ của mình thì mặt tích cực, chủ động thu thập chứng cứ, mong muốntự bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự mới được thể hiện rõ ràng Đặc biệt,đối với biện pháp yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứđược quy định tại Điều 106 BLTTDS năm 2015 thì có điểm đáng lưu ý hơn cả bởi

lẽ đương sự cần làm đơn thể hiện yêu cầu của mình và bắt buộc phải thể hiện đượcmột số nội dung luật định Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 106 BLTTDSnăm 2015, đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn trìnhbày một số nội dung cụ thể sau đây: vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cầnthu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địachỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập Hơn

41 Tưởng Duy Lượng, “Thu thập chứng cứ chứng minh trong tố tụng dân sự”, Bình luận khoa học

Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, Nxb Lao động – Xã hội, Năm 2012, tr 75.

Trang 31

nữa, xuất phát từ lý do một số biện pháp thu thập chứng cứ theo luật định cần phảitrả một khoản chi phí để thực hiện và chỉ khi đương sự yêu cầu cụ thể, Tòa án mớicó thể giải thích cho đương sự rõ ràng về nghĩa vụ nộp phí này Chẳng hạn nhưnghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, chi phí định giátài sản… được quy định tại Chương IX BLTTDS năm 2015 quy định về án phí, lệphí và chi phí tố tụng khác.

2.1.2 Tòa án chủ động thu thập chứng cứ khi cần thiết

Trong TTDS, mặc dù Tòa án là cơ quan xét xử nhưng vẫn có nghĩa vụ chứngminh để làm sáng tỏ chân lý khách quan của vụ việc dân sự và hoạt động chứngminh của Tòa án còn là cơ sở cho các phán quyết của mình42 Trong một số trườnghợp luật định, Thẩm phán có quyền chủ động thực hiện một số biện pháp thu thậpchứng cứ ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự như đã phân tíchtại mục 2.1.1 Khi xét thấy những chứng cứ mà đương sự thu thập được còn mâuthuẫn, chưa đầy đủ để làm cơ sở giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ việc,Tòa án được quyền chủ động thu thập chứng cứ bởi lẽ mục đích cuối cùng của quátrình giải quyết vụ việc dân sự không nằm ngoài bảo vệ công lý, tìm ra sự thật, đảmbảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể

Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan xét xử mang sứ mệnh “cầm cân nảy mực”nên toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc phải đảm bảo được tính khách quan Nếucho phép Tòa án chủ động thu thập chứng cứ trong mọi trường hợp sẽ có khả năngkhiến quá trình giải quyết vụ việc bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Thẩm phán, từđó làm mất đi ý nghĩa quan trọng của quy định pháp luật này là nhằm đảm bảo giảiquyết vụ việc được khách quan, toàn diện Vì lẽ đó, Tòa án được phép chủ động làmsáng tỏ tình tiết vụ việc bằng các biện pháp thu thập chứng cứ, nhưng chỉ trong mộtchừng mực nhất định chứ không phải mọi trường hợp, đồng thời phải trong nhữngphạm vi và điều kiện do pháp luật TTDS ấn định43

Theo quy định của BLTTDS năm 2015, Thẩm phán có thể tiến hành một sốbiện pháp thu thập chứng cứ sau đây: (i) Lấy lời khai của đương sự khi đương sựchưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng (khoản 1 Điều 98),(ii) Lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều 99), (iii)Đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làmchứng (khoản 1 Điều 100); (iv) Xem xét, thẩm định tại chỗ khi xét thấy cần thiết

42 Nguyễn Vinh Hưng (2018), tlđd (40), tr 6.

43 Hà Thái Thơ (2013), tlđd (8), tr 30.

Trang 32

(khoản 1 Điều 101); (v) Trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết (khoản 2 Điều102); (vi) Định giá tài sản trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận lựachọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc khôngthỏa thuận được giá tài sản hoặc khi các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chứcthẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giátại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ bahoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩmđịnh giá (khoản 3 Điều 104); (vii) Ủy thác thu thập chứng cứ (khoản 1 Điều 105);(viii) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ khi xét thấy cầnthiết (khoản 3 Điều 106) và (ix) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sựtại nơi cư trú (điểm h khoản 2 Điều 97) Khi rơi vào các trường hợp đã liệt kê, Thẩmphán được tự mình thu thập chứng cứ mà không cần đương sự có yêu cầu Các biệnpháp thu thập chứng cứ phải được Thẩm phán áp dụng trên cơ sở tuân thủ các trìnhtự, thủ tục luật định, đảm bảo tính khách quan, minh bạch, tuyệt đối không được ápdụng tùy tiện dẫn đến tiêu cực, thiếu khách quan trong xét xử.

2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Dù áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hay chủđộng thực hiện khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán cũng đều phải tuân thủ đầy đủquy định của pháp luật Đối với trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu củađương sự, Thẩm phán chỉ chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc thu thập chứngcứ khi đã xác định đầy đủ các điều kiện pháp lý để áp dụng như đã phân tích Cònđối với trường hợp thu thập chứng cứ do tự mình tiến hành, Thẩm phán chỉ đượcthu thập chứng cứ khi thuộc các trường hợp luật định và áp dụng đúng những biệnpháp mà pháp luật quy định, không tự mình áp dụng những biện pháp mà pháp luậtkhông quy định

2.2.1 Lấy lời khai của đương sự

Đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ gắn liền với vụ việc, là người trựctiếp liên quan đến các tình tiết trong vụ việc Do đó, việc lấy lời khai đương sự đượcxem là cách thức thu thập chứng cứ được Tòa án sử dụng phổ biến nhất trong quátrình giải quyết vụ án dân sự, giúp Tòa án nắm bắt một cách nhanh nhất nội dung vụ

án44 và là cơ sở để Tòa án xác định được đường lối giải quyết

44 Nguyễn Hữu Duyên, “Lấy lời khai đương sự của Tòa án theo tố tụng dân sự, một số bất cập và kiến nghị”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/lay-loi-khai-duong-su-cua-toa-an-theo-to-tung-dan-su- mot-so-bat- cap-va-kien-nghi, truy cập ngày 06/6/2021.

Trang 33

Chỉ khi nào đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ,rõ ràng thì Thẩm phán mới tiến hành lấy lời khai của đương sự theo quy định tạikhoản 1 Điều 98 BLTTDS năm 2015, đồng thời hình thức biên bản ghi lời khai củađương sự phải đảm bảo đúng theo mẫu do pháp luật quy định45 Việc Thẩm phánlấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưađầy đủ, rõ ràng Để việc lấy lời khai của các đương sự phục vụ tốt cho quá trình giảiquyết vụ việc, Thẩm phán phải nắm chắc các tình tiết có ý nghĩa quan trọng, cácquy định của pháp luật nội dung cần áp dụng Lời khai của đương sự phải tập trunglàm rõ nội dung cơ bản của vụ việc, yêu cầu của các bên đương sự, các căn cứ pháplý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của các đương sự.

Về địa điểm lấy lời khai, Thẩm phán phải tiến hành lấy khai của đương sự tạitrụ sở Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 98 BLTTDS năm 2015 Bên cạnh đó,tham khảo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP46 thìtrong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng như đương sự đang bị tạmgiam, chấp hành hình phạt tù, ốm đau, bệnh tật mà Tòa án không thể lấy lời khaicủa đương sự tại trụ sở thì Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở.Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án phải đảm bảo đúng quy định củapháp luật, quy định đối với cán bộ công chức của ngành Tòa án nhân dân và bảođảm tính khách quan, minh bạch trong suốt quá trình lấy lời khai

Về thẩm quyền, việc lấy lời khai của đương sự phải do Thẩm phán tiến hành.Thư ký Tòa án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản.Tham khảo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP, trongtrường hợp vì lý do công tác hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán có thể giaocho Thư ký Tòa án tiến hành lấy lời khai nếu đương sự đồng ý

Hơn nữa, khoản 3 Điều 98 BLTTDS năm 2015 còn có quy định riêng đối vớiđương sự thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69BLTTDS năm 2015, tức đương sự là người chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lựchành vi dân sự và đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi Theo đó phảicó mặt người đại diện hợp pháp của họ khi lấy lời khai và người đại diện hợp pháp

45 Xem mẫu số 02-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong TTDS.

46 BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 đều quy định về một số vấn đề tương tự nhau Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 Vì vậy, đối với một số vấn đề được quy định tương tự giữa BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, tác giả tham khảo tinh thần của Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề cần phân tích.

Trang 34

của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai bởi lẽ việc thựchiện quyền, nghĩa vụ TTDS, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhữngngười này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

2.2.2 Lấy lời khai người làm chứng

Người làm chứng trong TTDS được xác định là người biết các tình tiết cóliên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tốtụng với tư cách là người làm chứng47 Lời khai của người làm chứng có ý nghĩa rấtquan trọng bởi lẽ nó chứa đựng nhiều chứng cứ về những tình tiết cần chứng minhnhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ việc Theo quy định tại Điều 99BLTTDS năm 2015 và tham khảo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP thì Tòa án được thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai người làmchứng trong cả hai trường hợp là khi đương sự có yêu cầu bằng văn bản và khi xétthấy cần thiết để đảm bảo vụ việc được giải quyết khách quan, toàn diện

Về cơ bản, biện pháp lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện giốngnhư biện pháp lấy lời khai của đương sự và phải đảm bảo hình thức biên bản ghi lờikhai của người làm chứng đúng theo mẫu do pháp luật quy định48 Ngoài ra, vìngười làm chứng không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc nhưng lại biếtcác tình tiết có liên quan nên trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩmphán phải yêu cầu người làm chứng cam đoan về lời khai của mình, trừ trường hợpngười làm chứng là người chưa thành niên theo quy định tại khoản 9 Điều 78BLTTDS năm 2015 Đồng thời, Thẩm phán phải giải thích quyền, nghĩa vụ củangười làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS năm 2015 để họ hiểuđược vai trò quan trọng của mình trong vụ việc, những hậu quả nếu lời khai khôngchính xác, từ đó đảm bảo lời khai trung thực, khách quan, phục vụ tốt nhất choThẩm phán khi giải quyết vụ việc Bên cạnh đó, khoản 3 điều 99 BLTTDS năm

2015 cũng quy định thêm về thủ tục lấy lời khai người làm chứng là những chủ thểđặc biệt – người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Theo đó, việclấy lời khai của họ phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo phápluật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó

2.2.3 Đối chất

47 Điều 77 BLTTDS năm 2015.

48 Xem mẫu số 03-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong TTDS.

Trang 35

Sự mâu thuẫn trong lời khai của đương sự, người làm chứng không phải làđiều hiếm xảy ra trong TTDS và nó có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải quyết vụviệc Khi đó, để có cái nhìn thống nhất về vấn đề còn mâu thuẫn, xác định lời khainào là đúng sự thật thì biện pháp đối chất được áp dụng là cần thiết Điều 100BLTTDS năm 2015 đã có quy định tương đối cụ thể về biện pháp này Theo đó,Thẩm phán sẽ tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự vớingười làm chứng, hoặc giữa những người làm chứng với nhau theo thứ tự hợp lý khiđương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của cácđương sự, người làm chứng Về hình thức, quá trình đối chất phải được lập thànhbiên bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất theo quy địnhtại khoản 2 Điều 100 BLTTDS năm 2015.

Ví dụ sau đây là một trong những sự minh họa rõ nét về biện pháp này:Trong tranh chấp giữa nguyên đơn chị H và bị đơn anh Đ về hợp đồng vay tài sản:Chị H cho rằng anh Đ có nợ tiền của chị H, thể hiện qua hai giấy biên nhận viết taycủa anh Đ: giấy biên nhận thứ nhất ngày 20/5/2001 thể hiện anh Đ mượn chị H15.000.000 đồng, giấy biên nhận thứ hai ngày 20/10/2001 thể hiện anh Đ mượn chị

H 17.000.000 đồng Tuy nhiên, anh Đ không thống nhất với lời khai của chị H Anh

Đ trình bày mình chỉ vay của chị H một lần, sau đó chị H làm mất giấy biên nhậnnên yêu cầu anh viết biên nhận khác là 17.000.000 đồng (gồm tiền gốc 15.000.000đồng vay ngày 20/5/2001 và số tiền lãi 2.000.000 đồng đến ngày 20/10/2001)49.Như vậy, rõ ràng lời khai của các đương sự trong vụ án trên đã có sự mâu thuẫn.Lúc này, biện pháp đối chất cần được áp dụng để làm rõ khoản tiền mà anh Đ đãvay chính xác là bao nhiêu

Để đảm bảo biện pháp đối chất được thực hiện hiệu quả trên thực tế, Thẩmphán phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc, nắm rõ các tình tiết, nội dung, lời khai củađương sự, người làm chứng Từ đó phát hiện những mâu thuẫn cần tiến hành đốichất làm rõ, tránh trường hợp lời khai của họ mâu thuẫn với nhau về nội dung và nộidung đó lại rất quan trọng giúp tìm ra sự thật khách quan của vụ việc nhưng Thẩmphán lại không tiến hành đối chất, ngược lại có nhiều vấn đề không cần thiết phảiđối chất nhưng Thẩm phán lại tiến hành đối chất gây mất thời gian, lại không manglại ý nghĩa cho quá trình giải quyết

2.2.4 Xem xét, thẩm định tại chỗ

49 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Văn Tiến, Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về Tố

tụng dân sự,

Nxb Lao động, Năm 2010, tr 193.

Trang 36

Xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ

do Thẩm phán xem xét tiến hành, với sự tham gia chứng kiến của đại diện Ủy bannhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức quản lý.Mục đích của biện pháp này là nhằm giúp cho cơ quan tố tụng xác định chính xácdiện tích, hình thể… của thửa đất có tranh chấp, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ ánđúng quy định của pháp luật Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 BLTTDS năm

2015 thì Tòa án được phép áp dụng biện pháp này trong hai trường hợp: khi có yêucầu của đương sự hoặc khi Thẩm phán xét thấy cần thiết để giải quyết vụ việc

Khi tiến hành biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ, Thẩm phán phải ra quyếtđịnh theo mẫu luật định50 Tham khảo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 9 Nghịquyết số 04/2012/NQ-HĐTP, quyết định này phải được gửi cho Ủy ban nhân dâncấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo vănbản đề nghị Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc xemxét, thẩm định tại chỗ, đồng thời phải được giao hoặc gửi cho đương sự để họ biếtvà chứng kiến việc xem xét, thẩm định

Theo quy định tại khoản 2 Điều 101 BLTTDS năm 2015, việc xem xét, thẩmđịnh tại chỗ phải được ghi thành biên bản Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét,thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ kýhoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xãhoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xemxét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định.Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy bannhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đốitượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận

Khi áp dụng biện pháp này, Thẩm phán cần lưu ý tiến hành thẩm định mộtcách chi tiết, làm rõ được một số vấn đề như hiện trạng đất do ai đang quản lý, vị trí,kích thước, hình thể thửa đất tranh chấp, tình trạng thửa đất (đất đã được cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất chưa, đã đăng ký địa chính hay chưa, trên đất tranhchấp có những tài sản gì, nếu là tranh chấp nhà gắn liền với đất thì xác định cụ thểcác tài sản gắn liền với nhà ) và các vấn đề khác tùy thuộc vào nội dung vụ việc.Việc xác định rõ những vấn đề này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giảiquyết, đảm bảo chứng cứ đầy đủ, thể hiện được hiện trạng tài sản đang tranh

50 Xem mẫu số 05-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong TTDS.

Trang 37

chấp, từ đó hạn chế thấp nhất vấn đề sửa án, hủy án có liên quan đến tranh chấp đấtđai trong TTDS.

2.2.5 Trưng cầu giám định

Việc xác minh, thu thập chứng cứ trong nhiều trường hợp phải cần đến kiếnthức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận vềchuyên môn những vấn đề có liên quan mà Tòa án không thể tự mình thực hiện.Trường hợp này, việc trưng cầu giám định là cần thiết để làm sáng tỏ những vấn đềđó

Trong TTDS, một trong những trường hợp dễ thấy nhất là giám định chữ ký,chữ viết Ví dụ sau đây là một trong những sự minh họa rõ nét về biện pháp này:Trong tranh chấp giữa nguyên đơn anh Lê Ngọc Đ và bị đơn ông Nguyễn Văn S vềhợp đồng vay tài sản51: Anh Đ cho rằng ông S có nợ anh 400.000.000 đồng theogiấy vay tiền với nội dung: “Đ: Ngày 13/12/2009 Chú S: Số CMT: 230215193: Cóvay của cháu Đ: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng VN) – với lãi suất 0,09%/1ngày (tức: Chín phần vạn/1 ngày)” Dưới mục: “Người cam đoan có vay” có chữ kývà chữ viết ghi họ tên Nguyễn Văn S Anh Đ khai toàn bộ nội dung là do anh viếttheo yêu cầu của ông S, chỉ có chữ ký là của ông S Ông S trình bày: Ông khôngvay tiền của anh Đ và không ký vào giấy vay Giấy vay mà anh Đ xuất trình để khởikiện ông là giả mạo, có thể anh Đ đã lấy cắp giấy nháp có mẫu chữ ký của ông rồiđiền nội dung vay tiền Sỡ dĩ anh Đ có được tờ giấy có chữ ký của ông là vì ông bịcụt một tay nên muốn ký gì thường phải ký vào tờ giấy trước và trong khoảng thờigian từ ngày 28/8/2009 đến ngày 03/9/2009, cả gia đình ông có đi đám cưới con gáiở VL nên có nhờ anh Đ trông nhà hộ Anh Đ có thể đã lợi dụng việc trông hộ nhàtrong thời gian này lấy một số giấy tờ ký nháp của ông để chèn nội dung khôngđúng sự thật là ông vay tiền của anh Đ Như vậy, vẫn còn mâu thuẫn về chữ ký củaông S trên giấy vay tiền Để có cơ sở vững chắc giải quyết vụ án, Tòa án cần tiếnhành trưng cầu giám định về chữ ký trên giấy vay tiền đó để làm sáng tỏ tính xácthực của hợp đồng vay Từ ví dụ trên, có thể thấy việc trưng cầu giám định trongTTDS có ý nghĩa rất quan trọng, giúp làm sáng tỏ các vấn đề còn đang hoài nghi,làm căn cứ cơ sở để Thẩm phán ra quyết định cuối cùng một cách khách quan, trungthực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng

51 Bản án số 31/2019/DS-PT ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Trang 38

Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 BLTTDS năm 2015 thì khi đương sự cóyêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết để giải quyết vụ việc, Thẩm phán ra quyết địnhtrưng cầu giám định theo mẫu luật định52 Trong quyết định trưng cầu giám địnhphải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cầngiám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định Khi tiến hànhbiện pháp trưng cầu giám định, Thẩm phán phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định

cụ thể tại Điều 102 BLTTDS năm 2015 và các quy định khác có liên quan về giámđịnh tư pháp

Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn có quy định riêng về trưng cầu giámđịnh chứng cứ bị tố cáo là giả mạo tại Điều 103 Xuất phát từ tính chất của quan hệdân sự, các bên có quyền quyết định và tự định đoạt trong quá trình giải quyết vụviệc, kể cả việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, BLTTDS năm 2015 đã cho phépngười đưa ra chứng cứ bị tố cáo là giả mạo được rút lại chứng cứ đó nhằm đảm bảocho việc giải quyết nhanh chóng vụ án mà không cần phải giám định tránh gây lãngphí về thời gian và tiền bạc53 Nếu không rút lại chứng cứ thì Tòa án tự mình hoặctheo yêu cầu của người tố cáo quyết định trưng cầu giám định đối với chứng cứ đó

để xác minh về tính hợp pháp của chứng cứ Trong trường hợp việc giả mạo chứngcứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án sẽ chuyển cho cơ quan điều tra hình sự có thẩmquyền xem xét về trách nhiệm hình sự đối với người cung cấp, và người ra chứng cứgiả mạo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hạicho người khác

2.2.6 Định giá tài sản

Theo quy định tại Điều 104 BLTTDS năm 2015, định giá tài sản là một trongnhững biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong cả hai trường hợp là theo yêucầu của đương sự hoặc Tòa án chủ động thực hiện nhằm giúp cho việc giải quyết vụ

án được khách quan, toàn diện Cụ thể, theo quy định tại khoản 3 Điều 104, căn cứTòa án áp dụng biện pháp định giá tài sản bao gồm: (i) Theo yêu cầu của một hoặccác bên đương sự; (ii) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm địnhgiá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;và (iii) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo

52 Xem mẫu số 06-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong TTDS.

53 Nguyễn Thị Thảo Trang, Trịnh Thị Minh Trang (2016), “Trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ”,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 08, tr 37.

Trang 39

mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giánhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấytổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

Thẩm phán ra quyết định định giá tài sản theo mẫu luật định54 và thành lậpHội đồng định giá theo quy định tại khoản 4 Điều 104 BLTTDS năm 2015 Theođó, Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đạidiện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liênquan Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thànhviên, đương sự nếu họ tham dự Khi tiến hành định giá tài sản, Hội đồng phải có sựtham gia đầy đủ của các thành viên nhằm bảo đảm cho kết quả định giá được minhbạch, chính xác và quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng sốthành viên biểu quyết tán thành

Nhìn chung, do quyết định về giá của Hội đồng định giá tài sản là một trongnhững nguồn chứng cứ, có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án của Tòa án nênkhi áp dụng biện pháp định giá tài sản đòi hỏi Thẩm phán phải tuân thủ nhiều điềukiện pháp luật đặt ra như thành phần, số lượng thành viên Hội đồng định giá cũngnhư đòi hỏi Thẩm phán phải nắm rõ nội dung vụ việc, xem xét tài sản cần định giálà loại tài sản nào, có liên quan đến cơ quan chuyên môn nào để từ đó có cơ sở làmcông văn gửi đến cơ quan chuyên môn đề nghị cử cán bộ làm thành viên Hội đồng.Trên thực tế, mặc dù pháp luật có những quy định rất rõ ràng về biện pháp nàynhưng trong nhiều trường hợp, Tòa án vẫn còn nhiều vi phạm, điển hình như: mộtsố vụ án Tòa án không xem xét tài sản cần định giá là loại tài sản nào, có liên quanđến cơ quan chuyên môn nào dẫn đến thiếu sót trong thành phần Hội đồng định giá,biên bản định giá không ghi rõ ý kiến của từng thành viên Hội đồng, Hội đồng địnhgiá không biểu quyết về giá, đương sự có đơn yêu cầu định giá ghi cụ thể tài sảnyêu cầu định giá nhưng Hội đồng định giá không định giá hết số tài sản theo yêucầu gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc55

55 Nguyễn Thị Linh Giang (2020), “Kinh nghiệm kiểm sát việc thu thập chứng cứ của Tòa án”, Tạp

chí Kiểm sát, số 09, tr 36.

Trang 40

biện pháp mà Tòa án có thể tiến hành ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩmquyền thực hiện một số biện pháp như lấy lời khai của đương sự, người làm chứng,thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thậpchứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều

105 BLTTDS năm 2015

Như vậy, có thể thấy so với các biện pháp thu thập chứng cứ khác, biện pháp

ủy thác thu thập chứng cứ có điểm đặc biệt hơn cả, bởi lẽ việc thu thập chứng cứtrong trường hợp này không phải do Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trựctiếp thực hiện Theo đó, đây là biện pháp mà Tòa án đang giải quyết vụ án phải nhờTòa án khác, cơ quan khác thu thập chứng cứ do Tòa án này không thể tự mình thuthập tài liệu, chứng cứ vì có sự ngăn cách về địa giới lãnh thổ quốc gia hoặc giữacác đơn vị hành chính56 Pháp luật TTDS Việt Nam quy định cơ chế ủy thác thuthập chứng cứ cho Tòa án trong trường hợp này là một công cụ vô cùng hữu hiệuvừa giúp giải quyết khó khăn cho Tòa án vừa hỗ trợ giải quyết vụ việc được nhanhchóng, thuận tiện hơn, kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đươngsự

Về thời điểm thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ, theo quy định tại khoản 1Điều 105 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc có thể

ra quyết định ủy thác trong suốt quá trình giải quyết vụ việc đó mà không giới hạn ởgiai đoạn tố tụng nào Về nội dung ủy thác, cũng theo quy định tại khoản 1 Điềunày, Thẩm phán chỉ được ủy thác thực hiện một số biện pháp nhất định theo quyđịnh pháp luật, cụ thể Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc có thể ủy thácthực hiện lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hànhđịnh giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tìnhtiết của vụ việc dân sự Về hình thức ủy thác, Thẩm phán phải ra quyết định ủy thácthu thập chứng cứ tuân theo mẫu luật định57, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ củanguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thuthập chứng cứ

Đối với trường hợp ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ, theo quyđịnh tại khoản 3 Điều 105 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án nhận ủy thác có trách

56 Thái Chí Bình (2019), “Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp, số

19 (395), tr 55.

57 Xem mẫu số 13-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong TTDS.

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w