Và để giúp cho bệnh nhân ung thư được điều trị tốt hơn, tỉ lệ thành công cao hơn, bên cạnh phẫu thuật, hóa trị, xạ trị thì y học cổ truyền cũng được ứng dụng vào điều trị và chăm sóc hướ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
UNG THƯ CỔ TỬ CUNG DƯỚI GÓC NHÌN Y HỌC
HIỆN ĐẠI VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN
Sinh viên thực hiện : TRẦN NHẬT THÚY
Mã sinh viên : 311194184
Trang 2Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Bộ môn Ung thư khoa Y Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ chúng em tận tình trong thời gian qua
Qua những buổi học lý thuyết đầy bổ ích trên giảng đường, em đã tiếp thu được thêm nhiều kiến thức quý báu và hoàn thiện bản thân từng ngày, đây sẽ là hành trang vững chắc để phục vụ cho công việc khám chữa bệnh trong tương lai
Trong quá trình học tập cũng như là trong quá trình làm chuyên đề, trình độ kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn của bản thân em còn hạn chế nên bài chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót em rất mong sự giúp đỡ và góp ý từ quý thầy cô để em học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn ở những chuyên đề trong tương lai
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
PHẦN A: UNG THƯ CỔ TỬ CUNG THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 4
CẤU TẠO – SINH LÝ CỔ TỬ CUNG 4
NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 6
Human Papilloma virus (HPV) 6
Hoạt động tình dục sớm: 6
Quan hệ tình dục với nhiều người: 7
Mang thai nhiều lần hoặc mang thai sớm 7
Tình trạng nhiễm các bệnh lây qua đường sinh dục: 7
Tình trạng suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể 7
Nghiện hút thuốc lá 7
Sử dụng các phương pháp tránh thai 8
Tình trạng vệ sinh sinh dục kém 8
CÁC TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG 8
Các tổn thương lành tính 9
Các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung 9
CHẨN ĐOÁN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 11
Triệu chứng lâm sàng 11
Khám sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung 12
Sinh thiết: 14
Các xét nghiệm: 14
Chẩn đoán giai đoạn ung thư cổ tử cung: 14
Chẩn đoán hình ảnh: 16
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 18
PHÒNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG: 22
Xét nghiệm sàng lọc 22
Vắc xin HPV 23
PHẦN B: UNG THƯ CỔ TỬ CUNG THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 23
QUAN NIỆM Y HỌC CỔ TRUYỀN 23
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ 24
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 24
Kinh nghiệm lâm sàng của các danh y 24
Những bài thuốc bí truyền hiệu nghiệm: 26
Kĩ thuật độc đáo châm cứu 27
Phương pháp điều trị bằng ăn uống 28
Tài liệu tham khảo………30
Trang 4Lời nói đầu
Bệnh ung thư là vấn đề sức khỏe hàng đầu của con người trên toàn thế giới, bao gồm cả những quốc gia phát triển và đang phát triển Căn bệnh này cũng là một vấn đề khó khăn và là gánh nặng của biết bao gia đình ở nước ta Trên thế giới, việc phòng chống ung thư ngày càng phát triển cực nhanh và có tính chiến lược Vì vậy từ bây giờ, việc trang bị đúng mức kiến thức cơ bản, đúng vấn đề về ung thư là điều cần thiết và quan trọng Trong đó được đề cập đến trong chuyên đề này là căn bệnh ung thư cổ tử cung – một bệnh lý nguy hiểm nhưng rất thường gặp ở phụ nữ
Trên toàn cầu, ung thư cổ tử cung là ung thư đứng thứ ba trong số những nguyên nhân gây ung thư ở phụ nữ và gây tử vong liên quan đến ung thư Hơn 500.000 trường hợp ung thư cổ tử cung và gần 300.000 ca tử vong liên quan đến ung thư cổ tử cung xảy
ra hàng năm, hầu hết (> 85%) trong số đó xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (LMIC) Các tác động xã hội của ung thư cổ tử cung là sâu sắc hơn so với hầu hết các bệnh ung thư khác bởi vì bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến phụ nữ, và tại các quốc gia LMIC thường làm dẫn đến tử vong của phụ nữ ở độ tuổi 30, 40, 50, khi họ đang đóng góp nhiều nhất cho gia đình và xã hội Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởngrất lớn của ung thư cổ tử cung, tại Việt Nam, nơi bệnh này được gọi là "dịch hạch của phụ nữ" hoặc "thần chết của phụ nữ"
Hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngày càng có nhiều phương pháp điều trị khác nhau đem lại hiệu quả vượt trội Và để giúp cho bệnh nhân ung thư được điều trị tốt hơn, tỉ lệ thành công cao hơn, bên cạnh phẫu thuật, hóa trị, xạ trị thì y học cổ truyền cũng được ứng dụng vào điều trị và chăm sóc hướng đến mục tiêu: Nâng cao sức khỏe người bệnh, hạn chế sự tiến triển của khối u, giảm đau, ngăn chặn xuất huyết; hỗ trợ điều trị tác dụng phụ của các liệu pháp hóa, xạ, phẫu thuật trong ung thư cổ
tử cung
Chính vì vậy chuyên đề Ung thư cổ tử cung dưới góc nhìn của y học hiện đại và y học cổ truyền sẽ hệ thống hóa lại từ cấu tạo – sinh lý, triệu chứng và dấu hiệu, bệnh học, chẩn đoán, tiên lượng, một số phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung, phòng ngừa theo
y học hiện đại và các bài thuốc độc đáo chữa bệnh ung thư cổ tử cung theo y học cổ truyền
Chuyên đề gồm hai phần:
- Ung thư cổ tử cung theo y học hiện đại
- Một số bài thuốc độc đáo chữa bệnh ung thư cổ tử cung theo y học cổ truyền
Trong quá trình thực hiện nhiều vấn đề còn thiếu sót, mong quý thầy cô chỉnh sửa
và góp ý để lần sau được tốt hơn
Trần Nhật Thúy
Trang 5PHẦN A: UNG THƯ CỔ TỬ CUNG THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
I CẤU TẠO – SINH LÝ CỔ TỬ CUNG
Cổ tử cung gồm:
- Cổ ngoài là phần nhô vào trong âm đạo, được bao phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa
- Cổ trong là một ống hình trụ nối cổ ngoài với buồng tử cung, được phủ bởi biểu
mô trụ đơn tiết nhầy, biểu mô này gấp nếp sâu vào trong mô đệm bên dưới tạo thành các khe tuyến
- Lỗ ngoài cổ tử cung là ranh giới giữa cổ ngoài và cổ trong cổ tử cung Đường tiếp hợp gai - trụ là nơi nối tiếp giữa biểu mô trụ đơn của cổ trong với biểu mô lát tầng không sừng hóa của cổ ngoài
Hình 1: Cấu trúc giải phẫu của tử cung
Khi chưa dậy thì, đường tiếp hợp gai - trụ nằm đúng ngay lỗ ngoài cổ tử cung Ở phụ nữ trong tuổi hoạt động sinh dục, tuyến cổ trong lan dần xuống cổ ngoài, tạo ra vùng lộ tuyến
cổ tử cung, đẩy đường tiếp hợp gai - trụ ra xa khỏi lỗ ngoài cổ tử cung Trong vùng lộ tuyến, biểu mô trụ đơn sẽ chuyển sản gai thành biểu mô lát tầng; vùng lộ tuyến được gọi
là vùng chuyển dạng, với sự hình thành một đường tiếp hợp gai - trụ mới ở vị trí ban đầu
(Hình 2) Đến tuổi mãn kinh, do tình trạng teo niêm mạc, đường tiếp hợp gai - trụ cùng
với vùng chuyển tiếp tụt sâu trở lại vào trong kênh cổ tử cung
Trang 6Hình 2: A – Cổ tử cung ở trẻ gái chưa có vùng lộ tuyến
B – Sự hình thành vùng lộ tuyến làm đường tiếp hợp gai – trụ bị đẩy xa khỏi lỗ ngoài cổ tử cung
C – Hoạt động chuyển sản gai kết cục đã tái tạo ra một đường tiếp hợp gai – trụ mới (đường chấm màu xanh lá) tiến gần đến lỗ ngoài cổ tử cung
Phụ nữ chưa sinh có cổ tử cung trơn láng, trong đều, mật độ chắc, lỗ ngoài tròn Sau sinh
đẻ, cổ tử cung trở nên dẹp, mật độ mềm, lỗ ngoài rộng ra và không tròn đều như trước lúc chưa đẻ
Cổ tử cung được cấp máu bởi các nhánh của động mạch cổ tử cung- âm đạo sắp xếp theo hình nan hoa Nhánh động mạch cổ tử cung- âm đạo phải và trái ít nối tiếp với nhau nên
có đường vô mạch dọc giữa cổ tử cung
pH dịch âm đạo có tính acid nhẹ và pH thay đổi từ 3,8- 4,6 Môi trường acid tự nhiên này không những liên quan đến số lượng trực khuẩn Doderlein có trong âm đạo với nhiệm vụ chuyển glycogen thành acid lactic mà còn liên quan đến lượng glycogen của các biểu mô vảy niêm mạc âm đạo – cổ tử cung và phụ thuộc vào sự chế tiết của estrogen Với môi
Trang 7trường pH này có khả năng bảo vệ niêm mạc âm đạo – cổ tử cung chống tác nhân gây bệnh từ bên ngoài cổ tử cung
II NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1 Human Papilloma virus (HPV)
Thống kê của WHO cho thấy, khoảng 99.7% trường hợp ung thư cổ tử cung đều có sự hiện diện của virus HPV Do đó, virus HPV được coi là yếu tố nguy cơ cao nhất dẫn đến việc mắc bệnh lý này ở nữ giới
Virus HPV là loại virus có hơn 100 týp với khoảng 15 týp được xếp vào nhóm nguy cơ cao dẫn đến khối u ác tính cổ tử cung, phổ biến nhất là các týp 16 và 18 (nguyên nhân của hơn 70% trường hợp mắc bệnh ở nữ giới), tiếp đến là týp 31 và 45
Virus HPV chủ yếu lây nhiễm qua đường tình dục, một số ít trường hợp người bệnh không quan hệ tình dục, chỉ tiếp xúc ngoài da nhưng vẫn có nguy cơ bị lây nhiễm Hầu hết các trường hợp lây nhiễm virus HPV không có triệu chứng cụ thể, người bệnh có thể
tự khỏi sau vài tháng mà không cần điều trị
Tuy nhiên, đối với những trường hợp nhiễm týp virus HPV có nguy cơ cao, virus này có thể tồn tại lâu dài trong cơ thể gây biến đổi gen tế bào cổ tử cung, dẫn đến các tổn thương
sơ khởi và lâu ngày tăng dần dẫn đến ung thư
Hình 3: Cơ chế sinh ung thư của HPV
2 Hoạt động tình dục sớm:
Trang 83 Quan hệ tình dục với nhiều người:
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một người phụ nữ có nhiều hơn hai bạn tình trong 1 năm hoặc nhiều hơn 7 bạn tình trong đời sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm HPV Ngoài ra nguy cơ mắc bệnh cũng cao hơn khi nữ giới quan hệ tình dục khi còn ở tuổi vị thành niên Nguyên nhân là do những tế bào mô cổ tử cung ở độ tuổi này chưa trưởng thành nên cực kỳ nhạy cảm và dễ bị tổn thương khi có tác động
4 Mang thai nhiều lần hoặc mang thai sớm
Việc nữ giới mang thai và sinh con sớm, khi những cơ quan sinh dục trong cơ thể chưa phát triển toàn diện (trước năm 17 tuổi) sẽ làm phát sinh nhiều tổn thương cho cơ quan sinh sản, trong đó có cổ tử cung Bên cạnh đó những người mang thai nhiều lần (trên 4 lần) sẽ có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung cao hơn so với những người khác
5 Tình trạng nhiễm các bệnh lây qua đường sinh dục:
Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai, sùi mào gà, lậu, nhiễm chlamydia,… Điều này xuất hiện là do các bệnh lý khiến hệ miễn dịch bị suy yếu, làm tổn thương đến nhiều cơ quan trong cơ thể Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn HPV xâm nhập và phát triển trong cổ tử cung, sau đó gây bệnh
6 Tình trạng suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể
Phụ nữ bị suy giảm miễn dịch rất dễ bị nhiễm HPV, nhất là người có HIV dương tính Các thai phụ trong thời gian mang thai được xem là đối tượng thường gặp Phụ nữ đang điều trị bệnh mạn tính nên phải sử dụng corticoide kéo dài Ngoài ra, người cấy ghép mô- tạng, bệnh nhân bị tiểu đường, ung thư đang hóa trị, phụ nữ hút thuốc lá (do sự tích tụ nhiều chỗ nicotin ở chất nhầy CTC và tình trạng miễn dịch ở người hút thuốc kém) góp phần giảm hệ thống miễn dịch cơ thể
7 Nghiện hút thuốc lá
Khi một ai đó hút thuốc thì họ và những người xung quanh có nguy cơ phơi nhiễm với các hóa chất gây ung thư các cơ quan khác ngoài phổi Những chất có hại được hấp thu qua phổi, vào máu và đi khắp cơ thể Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp 2 lần người không hút thuốc Những chất liên quan đến thuốc lá được tìm thấy trong dịch nhầy cổ tử cung của những phụ nữ hút thuốc Các nhà nghiên cứu cho rằng các chất này phá hủy DNA của các tế bào cổ tử cung và góp phần vào việc phát triển ung thư cổ tử cung Hút thuốc lá cũng làm hệ miễn dịch kém hiệu quả hơn trong việc chống lại nhiễm HPV
Trang 98 Sử dụng các phương pháp tránh thai
- Sử dụng dụng cụ tử cung (vòng tử cung): Đây là yếu tố có thể ảnh hưởng đến tổn thương
tiền ung thư, ung thư cổ tử cung
- Sử dụng thuốc tránh thai: Phụ nữ đang dùng thuốc tránh thai có liên quan đến nhiễm
HPV và bệnh lý cổ tử cung Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo phụ nữ nên thảo luận với bác sĩ về những lợi ích cũng như những nguy cơ tiềm ẩn của việc uống thuốc tránh thai
- Sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục: Đây là yếu tố bảo vệ các bệnh lây truyền
qua đường tình dục nên giúp tránh lây nhiễm HPV
9 Tình trạng vệ sinh sinh dục kém
Viêm sinh dục kéo dài được xem là yếu tố nguy cơ bị tổn thương cổ tử cung cao Tỷ lệ nhiễm HPV tăng lên khi phụ nữ có viêm cổ tử cung (trên 35%) nên tình trạng viêm sinh dục tăng dần về mức độ tổn thương sẽ góp phần làm gia tăng nguy cơ tiền ung thư và ung thư cổ tử cung
Hình 4: Các yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung
III CÁC TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG
Các tổn thương cổ tử cung là những tổn thương thường xảy ra ở ranh giới vùng chuyển
tiếp giữa biểu mô vảy và biểu mô trụ
Trang 101 Các tổn thương lành tính
Bệnh lý lành tính cổ tử cung là tổn thương viêm, lộ tuyến, vùng tái tạo của lộ tuyến và các khối u lành tính Nguyên nhân là do nhiễm Gardenella vaginalis, nấm, Trachomonas vaginalis, Chlamydia trachomatis
Các tổn thương khác: Đây là những tổn thương ít gặp nhưng cần điều trị như polype CTC,
u xơ CTC, lạc nội mạc tử cung, sùi mào gà
2 Các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung
a) Tổn thương tiền ung thư
Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung là bất thường biểu mô vùng chuyển tiếp, do các rối loạn quá trình tái tạo của cổ tử cung Các tổn thương có thể đã hiện diện từ hàng chục năm nay, cho phép tầm soát phát hiện bằng khảo sát tế bào học với phết mỏng cổ tử cung
Có nhiều hệ thống đặt tên và phân chia mức độ tổn thương tiền ung khác nhau (Hình 5):
Tế bào học cổ tử cung: Theo Bethesda năm 2001 chia thành ASC-US và ASC-H, AGUS,
LSIL, HSIL
Soi cổ tử cung: Kết quả ghi nhận là biểu mô trắng với acid acetic: Bạch sản, lát đá, chấm
đáy, dạng khảm, dày sừng, cửa tuyến bị đóng, condylome phẳng, condyloma lồi, mảng trắng, mạch máu tân sinh bất thường, lộ tuyến
Trang 11Hình 5 : Sự tương tác giữa các hệ thống đánh giá tổn thương tiền ung thư
b) Ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung thường gặp ở độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi, biểu hiện lâm sàng không rõ ràng, thường là ra máu âm đạo bất thường hoặc khí hư lẫn máu, lẫn mủ hoặc có mùi hôi Khi đặt mỏ vịt, CTC có thể thấy dạng sùi, bở, dễ chảy máu tại vùng chuyển tiếp
Phân loại ung thư cổ tử cung:
● Ung thư biểu mô tế bào gai (Squamous cell carcinoma): Là dạng ung thư bắt đầu
từ các tế bào mỏng, phẳng lót phần ngoài của cổ tử cung Theo thống kê, đây là dạng ung thư cổ tử cung phổ biến nhất, khoảng 80 – 85% tổng số các trường hợp, xuất hiện do nhiễm virus gây u nhú ở người (HPV)
● Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma): Là dạng ung thư xảy ra ở các tế bào
tuyến dòng phần trên cổ tử cung, chiếm khoảng 10 – 20% tổng số các trường hợp mắc bệnh
● Các dạng ung thư cổ tử cung khác như ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư mô liên kết – tuyến, ung thư biểu mô tuyến – tế bào gai, ung thư lympho, ung thư hắc tố… thường không có sự liên quan đến virus gây u nhú HPV, xác suất ít gặp hơn nhưng lại không thể phòng ngừa được như ung thư biểu mô tế bào gai
Trang 12Ung thư cổ tử cung xâm lấn thường lan rộng bằng cách lan rộng trực tiếp vào các mô xung quanh hoặc thông qua mạch bạch huyết đến các hạch lympho vùng chậu và cạnh động mạch chủ Sự lan truyền bằng đường máu là có thể nhưng hiếm
Nếu ung thư cổ tử cung lan đến các hạch bạch huyết vùng chậu hay cạnh động mạch chủ, tiên lượng thường xấu, và vị trí và kích thước của trường chiếu xạ bị ảnh hưởng
IV CHẨN ĐOÁN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1 Triệu chứng lâm sàng
a) Triệu chứng cơ năng:
Ở giai đoạn sớm của bệnh như tổn thương loạn sản hoặc ung thư tại chỗ, thường không thấy dấu hiệu gì đặc biệt hoặc chỉ phát hiện thấy vết loét nông khi soi cổ tử cung
Dấu hiệu lâm sàng có thể chỉ thấy ra khí hư đơn thuần hoặc khí hư lẫn máu ở âm đạo, khí
hư có thể ít hay nhiều, thường kéo dài, đặc biệt ra dịch rất hôi ở bệnh nhân có tổn thương hoại tử nhiều Đa số trường hợp bệnh nhân xuất hiện ra máu âm đạo tự nhiên ngoài chu
kỳ kinh và/hoặc sau sinh hoạt tình dục hoặc ra máu bất thường sau mãn kinh Tính chất máu thường đỏ tươi, lượng ít hay vừa, nếu xuất hiện nhiều có thể có máu cục
Dấu hiệu đau tiểu khung, bất thường của hệ tiết niệu và trực tràng thường xuất hiện ở giai đoạn tiến triển và giai đoạn muộn, những trường hợp này khám lâm sàng có thể đủ để chẩn đoán xác định
b) Triệu chứng thực thể:
Trong giai đoạn đầu: trên một cổ tử cung tổn thương như vết trợt lớp niêm mạc, xung huyết hoặc có một vết loét nhỏ rõ rệt, bề mặt gồ ghề, nhiều mạch máu nhỏ, nền rắn Đặc biệt mô u thường mủn nát, chạm vào dễ chảy máu khi đặt mỏ vịt hay nắn nhẹ Đánh giá các tổn thương tại cổ tử cung trên lâm sàng qua khám cổ tử cung bằng mỏ vịt:
o Hình thái sùi: gồm các nụ sùi giống hình súp lơ dễ rụng, dễ chảy máu, dễ nhiễm
khuẩn, hình thái này thâm nhiễm ít và lan tràn chậm
o Hình thái loét: tổn thương lõm sâu xuống, rắn, nền có nhiều nụ nhỏ, có viêm
nhiễm mủ Hình thái này thâm nhiễm và lan tràn sâu vào xung quanh và hay di căn hạch sớm
o Hình thái ống cổ tử cung: tổn thương trong ống cổ tử cung, lúc đầu rất khó chẩn
đoán, chỉ khi có dấu hiệu lâm sàng hay nạo ống cổ tử cung mới có thể chẩn đoán được
Khám âm đạo, túi bịt âm đạo, cổ tử cung : khám bằng tay đánh giá tổn thương của âm hộ,
âm đạo, túi bịt âm đạo, CTC, hình dạng vị trí của tử cung Xem xét kích thước, hình dạng,
vị trí, tính chất, mức độ xâm lấn của khối u vào các túi bịt âm đạo, thành âm đạo, dây
Trang 13chằng rộng, dây chằng tử cung cùng, sự thâm nhiễm vào bàng quang, vách âm đạo – trực tràng
Thăm khám qua trực tràng: có thể đánh giá được mức độ xâm lấn xung quanh, chủ yếu
đánh giá sự xâm lấn vào dây chằng rộng, vách trực tràng - âm đạo, hạch cạnh cổ tử cung, thân tử cung, buồng trứng
Khi đã có tổn thương ác tính cần đánh giá vùng hạch có liên quan như vùng bẹn, hố thượng đòn Di căn vào hạch bạch huyết vùng xuất hiện với tần suất tăng dần từ giai đoạn
I đến giai đoạn IV Sùi lan rộng ra vùng cạnh tử cung bắt đầu từ cổ tử cung đi mọi hướng Niệu quản bị xâm lấn ở bên cạnh cổ tử cung, gây giãn đài bể thận và niệu quản phía trên
vị trí xâm lấn, từ đó dẫn đến giảm chức năng thận Đau lưng và đau vùng phân phối của đám rối thắt lưng cùng thường là dấu hiệu gợi ý của thần kinh bị chèn ép Phù rõ rệt ở chân là đặc trưng của ứ trệ máu và bạch huyết do khối u gây ra Rò âm đạo vào trực tràng
và đường tiết niệu là biến chứng muộn và nặng do khối u xâm lấn
Khám toàn thân để phát hiện di căn xa và các bệnh lý khác kèm theo
2 Khám sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư có thể sàng lọc phát hiện sớm dựa vào khám kiểm tra định kỳ và các xét nghiệm đặc hiệu để sàng lọc phát hiện bệnh ở giai đoạn còn rất sớm, thậm chí ngay cả ở giai đoạn tiền ung thư hoặc giai đoạn ung thư tại chỗ Nhờ đó việc điều trị dễ dàng hơn, hiệu quả hơn, thời gian điều trị ngắn hơn, khả năng điều trị khỏi bệnh cao hơn:
a Khám cổ tử cung bằng mỏ vịt:
Bằng mắt thường đánh giá hình thái, kích thước CTC,
đánh giá niêm mạc CTC, phát hiện có tổn thương khu trú
không, nếu có tổn thương khu trú cần tiến hành soi CTC
tử cung hoặc âm đạo Đây là phương pháp khá tốt để chẩn đoán sớm các tổn thương tiền ung thư, ngoài ra soi cổ tử cung còn giúp cho việc lựa chọn vị trí làm sinh thiết chính xác nhất
Trang 14Hình 7: Soi cổ tử cung
Khi soi cổ tử cung phải tuân theo một quy trình chuẩn: đầu tiên lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm tế bào học, sau đó làm sạch
cổ tử cung bằng cách chấm axít axêtic 5% làm tan các chất nhầy Tác dụng làm khô của axít sẽ làm nổi bật rõ nét sự tương phản giữa mô bình thường và biểu
3-mô vẩy phát triển mạnh Những thay đổi bất thường gồm các vết trắng và những bất thường không điển hình về mạch máu chứng
tỏ đó là những vùng có hoạt động tế bào mạnh nhất Nhuộm cổ tử cung bằng dung dịch Lu-gôn, sử dụng nghiệm pháp Schiller lên cổ tử cung sẽ cho thấy biểu mô vảy bình thường sẽ nhuộm màu Những vùng không nhuộm màu cần được sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học
Soi cổ tử cung cũng giúp xây dựng sơ đồ theo dõi và lập kế hoạch điều trị cho các bệnh nhân có xét nghiệm tế bào âm đạo bất thường
c Xét nghiệm tế bào học
Xét nghiệm tế bào học là phương pháp lấy các tế bào bong từ bề mặt và ống cổ tử cung nhuộm và soi dưới kính hiển vi để tìm những tế bào bất thường Bệnh phẩm được lấy ngoài kỳ hành kinh, ở nơi tiếp giáp giữa biểu mô vảy cổ ngoài, biểu mô trụ cổ trong và trong ống cổ tử cung, sau đó phết lên lam kính rồi cố định bằng cồn tuyệt đối Phiến đồ sẽ được soi kính hiển vi để phát hiện các tổn thương tiền ung thư và ung thư
Phương pháp xét nghiệm tế bào học đơn giản, dễ làm, giá thành rẻ có thể làm nhiều lần trên một bệnh nhân, không gây đau đớn, dụng cụ không phức tạp, ít gây phiền toái cho
Trang 15người bệnh Do vậy Tổ chức Y tế thế giới đã thống nhất áp dụng rộng rãi phương pháp này trong các chương trình sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung trên toàn cầu
d Xét nghiệm HPV
Đây là xét nghiệm sàng lọc tìm ADN-HPV Xét nghiệm HPV cho biết có nhiễm HPV hay không, nếu có, thuộc nhóm nào, nguy cơ cao hay thấp, do vậy phát hiện sớm những trường hợp nhiễm HPV, điều trị sớm các tổn thương tiền ung thư, ngăn ngừa tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm nhập, đồng thời
phối hợp với các xét nghiệm khác để đánh giá
tổn thương thực thể tại cổ tử cung
Cho tới nay, ngay cả các nước phát triển có
một chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung
có hiệu quả vẫn khuyến cáo sử dụng xét
nghiệm HPV cùng với xét nghiệm tế bào học
trong đó xét nghiệm tế bào học vẫn là công cụ
và quyết định điều trị
4 Các xét nghiệm:
- Xét nghiệm công thức máu: đánh giá tình trạng thiếu máu, đây là dấu hiệu thường gặp trong ung thư cổ tử cung Thiếu máu có thể do chảy máu từ khối u hay do suy thận
- Xét nghiệm sinh hoá đánh giá chức năng gan, thận sau xạ trị hay hóa trị
- Xét nghiệm miễn dịch chất chỉ điểm ung thư biểu mô vảy SCC-Ag huyết thanh (Squamous cell carcinoma antigen) có giá trị trong việc theo dõi trong và sau quá trình điều trị ung thư biểu mô vảy cổ tử cung
5 Chẩn đoán giai đoạn ung thư cổ tử cung: