Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 47,72% đối tượng nghiên cứu có kiến thức về sàng lọc dưới mức trung bình; có 42,64 % đối tượng nghiên cứu có thái độ không tích cực với sàng lọc phát h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ LAN
KIẾN THỨC, THÁI ÐỘ, THỰC HÀNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ Ê ÐÊ ĐỘ TUỔI 30-50 TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ÐẮK LẮK NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ LAN
KIẾN THỨC, THÁI ÐỘ, THỰC HÀNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ Ê ÐÊ ĐỘ TUỔI 30-50 TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ÐẮK LẮK NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS-TS TRẦN HỮU BÍCH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp, sự tạo điều kiện của lãnh đạo cơ quan, gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Bích – thầy giáo hướng dẫn luận văn của tôi Trong suốt quá trình học tập nghiên cứu, thực hiện luận văn, Thầy đã luôn động viên, giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, hỗ trợ, khuyến khích để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này Với kiến thức và tấm lòng bằng hữu, họ đã mang đến cho tôi không chỉ là những quan điểm, góc nhìn đa chiều
và sáng suốt mà còn là những sự giúp đỡ thực sự cần thiết Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trần Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN………
MỤC LỤC……….……….……….…….………
i ii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….……… ……… v
DANH MỤC BẢNG……… ……….…… …… vi
DANH MỤC HÌNH……… ……… vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU……….………… viii
ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….……… 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……….… …….……… 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu……… 4
1.2 Dịch tễ học và gánh nặng bệnh ung thư cổ tử cung trên thế giới và Việt Nam 5 1.2.1 Tình hình ung thư cổ tử cung và sàng lọc UTCTC trên thế giới 5 1.2.2 Tình hình ung thư cổ tử cung và sàng lọc UTCTC tại Việt Nam 8 1.3 Vai trò và các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung 11
1.3.1 Vai trò của sàng lọc 11
1.3.2 Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung 12
1.4 Kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc ung thư cổ tử cung……… 14
1.4.1 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức thái độ, thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung………
15
Trang 51.4.2 Yếu tố liên quan đến sàng lọc ung thư cổ tử cung……… 18
1.4.3 Yếu tố người chồng trong sàng lọc ung thư cổ tử cung ………… 23
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ……… 25
1.6 Khung lí thuyết 29 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… ……… 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu ……….……… 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu……… 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu……….……….……… 30
2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 30 2.4 1 Cỡ mẫu ……….……… ……… 30
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu……….……… 31
2.5 Phương pháp thu thập số liệu ……….……….………… 31
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu……….……….………… 31
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu ……….……… 33
2.6 Biến số nghiên cứu ……….……….………. 34
2.7 Các khái niệm và thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ……….……… 35
2.8 Phương pháp phân tích số liệu ……….……….………… 36
2.9 Đạo đức nghiên cứu 37 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ……….……… 39
Trang 63.2 Kiến thức về bệnh và sàng lọc ung thƣ cổ tử cung ….……… 40
3.6 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sàng lọc
UTCTC
51
4.2.Một số yếu tố liên quan đến kiến thƣ́c , thái độ, thƣ̣c hành về sàng lọc
Trang 7ĐTV Điều tra viên
HPV Human Papilloma Virus
KTC Khoảng tin cậy
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
UTCTC Ung thƣ cổ tử cung
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Một số thông tin chung về ĐTNC phụ nữ Ê Đê 39 3.2 Một số thông tin chung về ĐTNC người chồng……… 40
3.4 Kiến thức về khám sàng lọc ung thư cổ tử cung 42 3.5 Tỷ lệ kiến thức chung về sàng lọc ung thư cổ tử cung 43 3.6 Bảng mô tả thái độ về sàng lọc ung thư cổ tử cung 44 3.7 Bàng phân loại thái độ về sàng lọc ung thư cổ tử cung … 46 3.8 Mô tả thực hành khám sàng lọc ung thư cổ tử cung 47
3.11 Liên quan giữa yếu tố cá nhân với thực hành sàng lọc ung thư
cổ tử cung 52 3.12 Liên quan giữa kiến thức với sàng lọc ung thư cổ tử cung 53 3.13 Liên quan giữa thái độ với sàng lọc ung thư cổ tử cung 53
3.14 Liên quan giữa sự hỗ trợ của người chồng với sàng lọc ung
3.15
Liên quan giữa sự hỗ trợ của người chồng với sàng lọc ung
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu
3.4 Sự hỗ trợ của người chồng về sàng lọc ung thư cổ tử cung cho
Trang 10TÓM TẮT
Sàng lọc ung thư cổ tử cung là một trong những giải pháp kiểm soát ung thư
cổ tử cung ở phụ nữ, sàng lọc sớm giúp giảm đáng kể gánh nặng bệnh tật và tử vong
do ung thư cổ tử cung gây ra Tuy nhiên, công tác sàng lọc ung thư cổ tử cung trên địa bàn huyện Krông Pắc còn rất hạn chế, ước tính chỉ khoảng 20% phụ nữ trong độ tuổi được khám sàng lọc ung thư cổ tử cung Y văn về thực hành sàng lọc ung thư
cổ tử cung còn hạn chế, nhất là thông tin về các yếu tố liên quan như vai trò người chồng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu chủ đề về sàng lọc ung thư cổ tử cung tại
huyện nhằm xác định“kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ Ê Đê nhóm tuổi 30-50 tại huyện Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk năm 2019”
Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin từ 197 cặp vợ chồng (394 người) trong đó phụ nữ là người dân tộc Ê Đê tuổi từ 30 - 50 và người chồng của họ tại 2 xã Ea Phê và xã Tân Tiến huyện Krông Pắc, dựa trên thiết kế mô tả cắt ngang
có phân tích trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2019 Thông tin được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 47,72% đối tượng nghiên cứu có kiến thức về sàng lọc dưới mức trung bình; có 42,64 % đối tượng nghiên cứu có thái độ không tích cực với sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung; có tới 88,3% đối tượng chưa khám sàng lọc ung thư cổ tử cung lần nào, 51,78% người chồng không hỗ trợ vợ sàng lọc ung thư cổ tử cung
Một số yếu tố của phụ nữ như: Trình độ học vấn, thu nhập có liên quan đến thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung Phụ nữ có kiến thức sàng lọc ung thư cổ tử cung ở mức trung bình trở lên có khả năng sàng lọc ung thư cổ tử cung cao gấp 1,2 lần so với người có kiến thức sàng lọc ở mức dưới trung bình; Phụ nữ có thái độ tích cực khả năng sàng lọc ung thư cổ tử cung cao gấp 1,2 lần so với phụ nữ có thái
độ không tích cực ( p<0,05) Không có mối liên quan giữa sự hỗ trợ của người chồng và thực hành sàng lọc của người vợ
Trang 11Từ kết quả trên, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị: Tăng cường công tác truyền thông phòng chống ung thư cổ tử cung, truyền thông về sàng lọc UTCTC cho phụ nữ Ê Đê, đặc biệt ưu tiên hướng đến cung cấp kiến thức cho những phụ nữ
có học vấn thấp, những người có thu nhập thấp Vận động phụ nữ Ê Đê tham gia các chiến dịch khám phụ khoa và khám sàng lọc ung thư cổ tử cung do các tuyến tổ chức, vận động người chồng hỗ trợ tích cực cho phụ nữ Ê Đê
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư cổ tử cung là bệnh xảy ra phổ biến ở phụ nữ, chỉ xếp sau ung thư vú
và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở nữ giới Theo Tổ chức Y tế thế giới, có khoảng 570 ngàn ca mắc mới được phát hiện trong năm 2018, chiếm 6,6% tổng số ca ung thư ở phụ nữ Mỗi năm trên toàn cầu có khoảng 266 ngàn trường hợp ung thư cổ tử cung tử vong, tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung xấp xỉ 50% Trong đó, khoảng 90% trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, phần lớn gánh nặng bệnh tật và tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nghèo [42], [51] Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 5,1 ngàn ca ung thư cổ tử cung được phát hiện mới và khoảng 2,5 ngàn trường hợp
tử vong do ung thư cổ tử cung Cũng theo WHO, Việt Nam là nước có xu hướng tăng lên về tỉ lệ mắc và tử vong do ung thư cổ tử cung [13] Những nguyên nhân cơ bản mà các nước có tỉ lệ mắc và chết vì bệnh ung thư cổ tử cung cao được xác định
là phụ nữ trong độ tuổi nguy cơ cao chưa được khám sàng lọc ung thư cổ tử cung đầy đủ, không khám phụ khoa thường xuyên, những chương trình sàng lọc ung thư
cổ tử cung cũng chưa được bao phủ rộng khắp, cùng với ý thức phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung vẫn còn hạn chế Ngoài ra việc đến khám muộn, không được điều trị kịp thời đang diễn ra nhiều nơi, nhất là ở các nước có thu nhập thấp, khi hệ thống y tế chưa đáp ứng cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung cao [51]
Ung thư cổ tử cung được xác định là bệnh nguy hiểm song có thể phòng tránh và chữa khỏi được khi bản thân người phụ nữ có hiểu biết đầy đủ và chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa Sàng lọc ung thư cổ tử cung là một trong những biện pháp được khuyến cáo thực hiện đối với phụ nữ, bởi nó có vai trò quan trọng góp phần phát hiện sớm những trường hợp nguy cơ ung thư cổ tử cung để có ứng phó kịp thời nhằm góp phần làm tăng khả năng chữa khỏi, tiết kiệm chi phí, nguồn lực cho công tác điều trị, phòng ngừa ung thư cổ tử cung cho phụ nữ trong cộng đồng Từ đó giảm được những gánh nặng về kinh tế, sức khỏe do ung thư cổ
tử cung gây ra cho cá nhân và cộng đồng, sàng lọc hiệu quả làm giảm tỷ lệ hiện mắc
Trang 13ung thư cổ tử cung ở tất cả các nhóm tuổi (từ 12,7 xuống còn 4,9 trên 100.000) [5], [42], [51], [34] Tuy nhiên, nhiều phụ nữ chưa hiểu biết đầy đủ, khoa học và có thái
độ đúng đắn để chủ động thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung Ngoài ra, việc khám sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ còn phụ thuộc các yếu tố tác động bên ngoài như tính sẵn có của dịch vụ, khả năng kinh tế và sự hỗ trợ hay cản trở từ chồng [2], [9], [29]
Huyện Krông Pắc là một trong bảy huyện của tỉnh Đắk Lắk có thực hiện cung ứng các dịch vụ sàng lọc ung thư cổ tử cung hưởng lợi từ chương trình dự án những năm gần đây Tuy nhiên trong vòng 3 năm tổ chức sàng lọc ung thư cổ tử cung cho cộng đồng, chưa tới 20% phụ nữ trong độ tuổi khuyến cáo được khám sàng lọc ung thư cổ tử cung [17]; cho đến nay trên địa bàn huyện cũng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ, nhất là người dân tộc thiểu số, trong đó có người Ê Đê Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ Ê Đê về sàng lọc ung thư cổ tử cung như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sàng lọc ung thư cổ
tử cung của phụ nữ Ê Đê? Sự hỗ trợ của người chồng có hay không liên quan đến sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ Ê Đê? Để trả lời những câu hỏi này nghiên
cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến sàng lọc ung thư cổ tử
cung của phụ nữ Ê Đê độ tuổi 30-50 tại huyện Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk năm 2019”
được thực hiện
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU CHUNG: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phụ nữ Ê Đê độ tuổi 30-50 và xác định yếu tố liên quan về sàng lọc ung thư cổ tử cung tại huyện Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk năm 2019
MỤC TIÊU CỤ THỂ:
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ
nữ Ê Đê nhóm tuổi 30-50 có chồng tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
2 Xác định mối liên quan giữa yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ vể sàng lọc ung thư cổ tử cung với thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ
Ê Đê tuổi 30-50 có chồng tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
3 Xác định mối liên quan giữa sự hỗ trợ của người chồng với thực hành khám sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ Ê Đê nhóm tuổi 30-50 có chồng tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Kiến thức- Thái độ - Thực hành (Knowledge-Attitude-Practice)
Hành vi của con người bao gồm 3 thành phần cấu thành: Kiến thức- Thái độ- Thực hành, do vậy nghiên cứu KAP là nghiên cứu kiến thức- thái độ và thực hành của con người về 1 vấn đề nào đó [19]
-Kiến thức: là sự hiểu biết bắt đầu từ kinh nghiệm, kiến thức có thể có qua
thông tin từ nhà trường, lớp học, báo chí, ti vi, đài, bạn bè…Nghiên cứu kiến thức lại xem đúng hay không đúng, biết hay không biết về một vấn đề nào đó [19]
- Thái độ là sự phản ánh những gì mà người ta thích hay không thích, đồng ý
hay không đồng ý, thái độ cũng bắt nguồn từ những kinh nghiệm của bản thân hoặc kinh nghiệm của người xung quanh, khiến người thích điều này không thích điều kia [19]
- Thực hành là hành vi lành mạnh hay không lành mạnh, trong nghiên cứu
KAP người ta cần tìm những hành vi có lợi cho sức khỏe được duy trì và phát triển, những hành vi có hại cho sức khỏe thì cần thay đổi [19]
Trong học thuyết thay đổi hành vi thì mỗi hành vi mới có lợi cho sức khỏe được hình thành cần trải qua các giai đoạn, trong quá trình đó có sự tham gia của động lực thúc đẩy và những yếu tố ảnh hưởng [19]
-Cổ tử cung: là phần bên dưới của tử cung Cổ tử cung nối liền giữa phần
thân tử cung và âm đạo Phần cổ tử cung gần với thân tử cung nhất được gọi là cổ tử cung trong Phần gần âm đạo hơn gọi là cổ tử cung ngoài Hai loại tế bào lát là các
tế bào tuyến (ở cổ tử cung ngoài) và các tế bào trụ (ở cổ tử cung trong) Nơi giao nhau giữa hai loại tế bào này được gọi là vùng chuyển tiếp [14]
-Ung thư cổ tử cung: Ung thư cổ tử cung là u ác tính nguyên phát ở cổ tử
cung, xuất phát từ các tế bào biểu mô vảy, biểu mô tuyến hoặc các tế bào của mô đệm Tuy nhiên, đa số các ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô, trong đó chủ yếu
là ung thư biểu mô vảy [4],[14]
Trang 16-Sàng lọc ung thư cổ tử cung: Sàng lọc ung thư cổ tử cung là quá trình áp
dụng 1 biện pháp kỹ thuật nhằm tìm ra các trường hợp có khả năng tiến triển thành ung thư cổ tử cung, tiền ung thư cổ tử cung từ đó có những định hướng điều trị phù hợp Sàng lọc bệnh ung thư cổ tử cung góp phần tích cực vào việc làm giảm gánh nặng do bệnh tật và tử vong do bệnh đó gây ra [14]
1.2 Dịch tễ học và gánh nặng bệnh ung thư cổ tử cung trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình ung thư cổ tử cung trên thế giới
Ngày nay, ung thư cổ tử cung xếp thứ 2 trong số các bệnh ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới WHO đã có sự quan tâm đặc biệt đến ung thư cổ tử cung, xác đinh phòng ngừa ung thư cổ tử cung là một mục tiêu quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vì ung thư cổ tử cung là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ, nhất là phụ nữ ở những nước có thu nhập thấp Trên toàn cầu
có khoảng 530.000 trường hợp mắc mới trong năm 2012 chiếm 7,5% các ca tử vong
do ung thư ở phụ nữ [38] Trong một năm có khoảng 266 ngàn người chết vì ung thư cổ tử cung trên toàn cầu, trong đó có tới 231 ngàn phụ nữ ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chỉ 35 ngàn phụ nữ ở các nước phát triển chết vì bệnh này
Tỉ lệ ung thư cổ tử cung cao nhất ở nước nghèo như các quốc gia ở châu Phi cận Sahara, nhiều người ở châu Á (Ấn Độ) và một số nước ở Trung và Nam Mỹ [38]
Trong tiểu vùng Sahara châu Phi hàng năm, 38,4/100.000 phụ nữ được chẩn đoán ung thư cổ tử cung, có 22,5/100.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung Ở Bắc
Mỹ khoảng 6,6/100.000 và 2,5/100.000 thấp hơn hẳn các nước châu Phi [50] Sự khác biệt mạnh mẽ có thể được giải thích bởi thiếu tiếp cận với sàng lọc hiệu quả và các dịch vụ để tạo điều kiện phát hiện sớm và điều trị Tại những nước phát triển nơi có nguồn lực y tế mạnh, nhiều chương trình sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung dành cho phụ nữ thực hiện khá đồng bộ, qua đó đã phát hiện hầu hết các tổn thương tiền ung thư, đây là cơ sở cho công tác điều trị dễ dàng Điều trị sớm góp phần ngăn chặn đến 80% các ca ung thư cổ tử cung ở các nước này
Các nước kém phát triển có 450.000 trường hợp ung thư cổ tử cung xảy ra vào năm 2008, ước tính đến năm 2030 các trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung
Trang 17sẽ tăng lên 730.000, tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung ở các nước kém phát triển
sẽ tăng từ 59% lên 63% [38]
Hoạt động sàng lọc ung thư cổ tử cung trên thế giới
Giai đoạn 1960- 1970, tỷ lệ mắc mới ung thư cổ tử cung ở các nước phát triển cũng gần bằng các nước đang phát triển ngày nay Tuy nhiên, sau đó các chương trình sàng lọc quốc gia được thực hiện bao phủ và hiệu quả, đã giảm nhanh
về tỉ lệ mắc và chết do ung thư cổ tử cung ở các nước này Tại Australia, Mỹ, Đức, Pháp, Thụy Điển có chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung quốc gia thực hiện bao phủ và hiệu quả, đã làm cơ sở cho việc thiết kế các chương trình sàng lọc đối với các nước đang phát triển tiếp tục tìm kiếm bước đi phù hợp Từ năm 1991, đất nước Australia có chương trình sàng lọc tế bào cổ tử cung quốc gia Cứ hai năm một lần chương trình triển khai sàng lọc tế bào dành cho nữ giới trong độ tuổi từ 18 – 69, hoặc những người đã có quan hệ tình dục được 2 năm, chương trình có hệ thống nhắc nhỡ và theo dõi Chương trình đã có hiệu quả làm giảm tỷ lệ hiện mắc ung thư cổ tử cung ở tất cả các nhóm tuổi (từ 12,7 xuống còn 4,9 trên 100.000) Australia là một trong những quốc gia có tử vong do ung thư cổ tử cung thấp nhất thế giới (1,4/100,000) [34] Ở Australia các chương trình giáo dục sức khỏe được triển khai trong hệ thống trường học thường bao gồm các chủ đề về sức khỏe, giới tính, tình dục trong đó có bệnh lây truyền qua đường tình dục Nước này cũng sử dụng chiến lược truyền thông đại chúng để nâng cao sự hiểu biết của người dân về tiêm phòng vaccin và sàng lọc ung thư cổ tử cung
Trái ngược với Australia, Mỹ và các nước phát triển khác, nơi sàng lọc ung thư cổ tử cung được cung cấp như một phần của chăm sóc chính thông thường, thì rất ít chương trình sàng lọc quy mô lớn tồn tại ở những nước nghèo vì hệ thống y tế
ở các quốc gia này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng cho việc sàng lọc bao phủ, một
số chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung được thực hiện ưu tiên cho một vài nhóm đối tượng, từng địa bàn riêng lẻ đồng thời sử dụng phương pháp thuận lợi về mặt kinh tế như là ở Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam… Tại Hội nghị thượng đỉnh cấp cao của Liên hợp quốc về các bệnh không lây nhiễm năm 2011 Ấn Độ đã đưa ra chương trình nhằm giải quyết các bệnh mãn tính, bệnh không lây nhiễm trong đó
Trang 18bao gồm sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung Dựa trên hàng loạt nghiên cứu đánh giá về hiệu quả sàng lọc ung thư cổ tử cung đã được thực hiện Các nghiên cứu về độ nhạy, độ đặc hiệu của VIA, tỉ lệ dương tính với VIA, hiệu quả chi phí…đã được tiến hành tại Ấn Độ, các kết quả này gợi ý rằng chú trọng nhóm đích
độ tuổi 30 sẽ đạt được lợi ích lớn nhất về mặt y tế công cộng; một khi đất nước có
đủ nguồn lực có thể mở ra nhóm các phụ nữ trong độ tuổi lớn hơn Ở Ấn Độ các chương trình áp dụng công nghệ thông tin bằng việc dùng điện thoại di động để hỗ trợ hình ảnh trong sàng lọc VIA cho nhân viên y tế, nhằm tăng cường khả năng đáp
về ứng sàng lọc ngày một tốt hơn tại tuyến cơ sở, vùng có điều kiện khó khăn [35]
Sàng lọc ung thư cổ tử cung của Malaysia được thực hiện từ năm 1969, hiện tại chương trình sử dụng xét nghiệm tế bào CTC truyền thống 3 năm một lần cho phụ nữ đã có tình dục trong độ tuổi từ 20- 65 Khuyến nghị đối với phụ nữ cần làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung 2 lần với kết quả bình thường, và tiếp tục sàng lọc 3 năm/lần Phụ nữ có thể làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung tại các bệnh viện công và dịch vụ y tế khác của nhà nước miễn phí, nhưng cũng có thể thực hiện tại các phòng khám dịch vụ tư nhân, bệnh viện quân đội và các tổ chức phi chính phủ Có khoảng 69% xét nghiệm tế bào cổ tử cung là do cơ sở y tế công thực hiện và khoảng 20,6% được thực hiện tại các phòng khám tư nhân năm 2005 Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cũng được tiến hành theo các chủ điểm trong chương trình quốc gia về kiểm soát ung thư bao gồm nâng cao kiến thức về HPV, ung thư cổ tử cung; thay đổi hành vi sức khỏe để có lối sống lành mạnh; tiêm phòng vaccine và sàng lọc sớm
Các ước tính về mức độ trung bình và bất bình đẳng trong sàng lọc ung thư
cổ tử cung từ 57 quốc gia trên tất cả các cấp độ phát triển kinh tế được đưa vào Khảo sát Y tế Thế giới (WHS), khảo sát hộ gia đình do WHO thực hiện năm 2002 Kết quả cho hai biện pháp: Bảo hiểm thô được xác định là tỷ lệ phụ nữ đủ điều kiện rằng họ đã khám phụ khoa; Bảo hiểm có hiệu quả, được xác định là tỷ lệ phụ nữ đủ điều kiện rằng họ đã đi khám phụ khoa và Pap smear trong ba năm qua Tính toán mức độ bao phủ của các nhóm trên toàn cầu, có thể so sánh giữa các quốc gia, cũng như theo chỉ số tương đối cụ thể cho từng quốc gia Dân số bao phủ bảo hiểm và
Trang 19bảo hiểm có hiệu quả sàng lọc ung thư cổ tử cung trên tất cả các quốc gia ở mức 68% và 40% Trong 30 nước đang phát triển được khảo sát, các tỷ lệ này thấp hơn nhiều: 45% và 19%, tương ứng Có sự khác biệt lớn về mức độ bao phủ hiệu quả giữa các quốc gia, từ hơn 80% ở Áo và Luxembourg đến 1% hoặc ít hơn ở Bangladesh, Ethiopia và Myanmar [42] Ở nhiều quốc gia, một tỷ lệ lớn phụ nữ đã được kiểm tra vùng chậu, nhưng không đi kèm với xét nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc không được thực hiện trong ba năm trước cuộc khảo sát Chẳng hạn ở Georgia, 67% phụ nữ đã đi khám phụ khoa, nhưng chỉ có 11% có một trong ba năm trước đó và kèm theo một phết tế bào Pap; tương tự ở Trung Quốc, độ bao phủ thô
là 70%, nhưng độ bao phủ hiệu quả chỉ là 23% [42], [44]
Sàng lọc ung thư cổ tử cung muốn thực hiện tốt đòi hỏi hệ thống y tế quốc gia phải có nguồn lực đạt yêu cầu về con người lẫn hệ thống cơ sở hạ tầng đủ điều kiện Theo WHO nhận định sàng lọc là nhân tố quan trọng trong việc cung cấp dịch
vụ và phòng ngừa ung thư cổ tử cung hiệu quả [44] Tuy nhiên ở các nước có mức thu nhập còn thấp để thực hiện bao phủ và hiệu quả trong sàng lọc ung thư cổ tử cung là vấn đề khó khăn và phải vượt một khoảng cách khá xa
1.2.2 Tình hình ung thư cổ tử cung tại Việt Nam
Tại Việt Nam, uớc tính năm 2010, có tới 5.644 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung, tỷ lệ mới mắc ung thư cổ tử cung được chuẩn hóa theo tuổi là 13,6/100.000 phụ nữ [1] Tuy tỉ lệ thấp hơn khu vực Đông Nam Á (15,8/100.000) [7] nhưng lại đang có xu hướng ngày một tăng cao Từ kết quả sàng lọc ung thư cổ
tử cung của 7 tỉnh và thành phố trên cả nước trong giai đoạn 2008 đến 2010, thì tỷ
lệ ung thư cổ tử cung gần như là 19,9/100.000 phụ nữ, trong đó ở giai đoạn 1 là 28,6% và ở giai đoạn 2 là 21,4% [6]
Về phân bố bệnh tật, sự phân bố theo tuổi mắc ung thư cổ tử cung tại Việt Nam thể hiện: các ca mắc tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 44 chiếm 40,9%, ít nhất ở nhóm tuổi trên 65 chiếm 12,9%, các nhóm từ 45 đến 54 tuổi chiếm 27,7%, nhóm tuổi từ 55 đến 64 chiếm 18,5% Phân bố khác nhau về tỉ lệ mắc ung thư cổ tử cung tại hai miền Bắc- Nam, tỷ lệ mắc ở miền Bắc 6,8/100.000 phụ nữ, ở miền Nam là 28,8/100.000 phụ nữ, sự khác nhau về tỉ lệ này được lí giải bởi nhiều
Trang 20nguyên nhân xã hội và dịch tể học So sánh tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung trong các loại ung thư giữa TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội thì tỷ lệ này cũng có sự khác biệt, ở Hà Nội, ung thư cổ tử cung chiếm 7,7% xếp hàng thứ 3 đứng sau thư dạ dày
và ung thư vú, còn tại TP Hồ Chí Minh ung thư cổ tử cung có tỉ lệ cao nhất trong các loại ung thư ở phụ nữ, nó chiếm đến 28,6% [1]
Tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung cũng có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi khác nhau, trong số các ca tử vong do ung thư cổ tử cung đa phần thuộc nhóm nữ ở
độ tuổi trên 65 chiếm 34,1% Theo dự tính đến năm 2025, trong cả nước số trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung sẽ tăng khoảng 40% so với năm 2008; tỷ lệ tử vong vì ung thư cổ tử cung cũng tăng lên ở mức 62% đối với nhóm phụ nữ dưới 65 tuổi và 75% đối với nhóm phụ nữ trên 65 tuổi so với năm 2008 [1]
Hoạt động sàng lọc ung thư cổ tử cung tại Việt Nam
Ở Việt Nam trước đây sàng lọc ung thư cổ tử cung được ngành y tế các tỉnh tiến hành trên một vài địa phương, nhưng các chương trình bị động, nguồn lực dành cho chương trình sàng lọc chưa đáp ứng, chủ yếu căn cứ vào việc chẩn đoán bằng triệu chứng; bên cạnh đó xây dựng phác đồ sàng lọc chưa ổn, gây cản trở cho việc chuẩn hóa các dịch vụ Những năm 1970-1980, các chương trình phòng ngừa và kiểm soát ung thư cổ tử cung được thực hiện thông qua xét nghiệm tế bào CTC ở mức độ còn hạn chế, quy mô nhỏ, chủ yếu tại những bệnh viện quy mô tuyến tỉnh trở lên [5]
Sàng lọc, phát hiện và điều trị ung thư cổ tử cung được đưa vào “Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010”; “Chiến lược kiểm soát ung thư Quốc gia từ 2008 – 2010” đặt ra những mục tiêu tổng thể nhằm nâng tỉ
lệ phát hiện ung thư sớm từ 20% - 30% và phấn đấu trong giai đoạn 2010- 2020 tăng lên 50% Mặc dù đặt ra các mục tiêu như vậy nhưng vẫn chưa có kế hoạch cụ thể, chi tiết để thực hiện, còn thiếu nguồn nhân lực và tiền bạc để hiện thực hóa và đồng bộ các chiến lược đã đề ra Cơ sở vật chất, cụ thể là các phòng xét nghiệm tế bào CTC chỉ mới đáp ứng ở tuyến trên, riêng tuyến huyện còn ít ỏi hoạt động chưa hiệu quả Thiếu thốn về nhân lực được đào tạo, chưa chú trọng việc bảo đảm chất
Trang 21lượng của những cơ sở xét nghiệm, vì vậy hoạt động sàng lọc ung thư cổ tử cung vẫn chưa được thực hiện rộng khắp, đang dừng lại ở quy mô đơn lẻ [5]
Trong thời gian từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2011, Tổ chức PATH, Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em và Bộ Y tế đã phối hợp thực hiện dự án “Tăng cường dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung tại Việt Nam” được thực hiện ở 3 tỉnh thành: thành phố Cần Thơ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, và tỉnh Thanh Hóa Trong quy mô dự
án này đã sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng VIA cho phụ nữ ngay tại tất cả các cơ
sở y tế của các tuyến Với tổng số 38.187 chị em từ 30-49 tuổi tham gia sàng lọc, qua đó xác định được 3% dương tính với VIA Các nghiên cứu đã chỉ rõ việc sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng VIA tương đối thuận lợi, dễ dàng đón nhận đối với
khách hàng lẫn ngành Y tế [10]
Từ những kết quả đó, ngày 16/5/2011, Bộ Y tế xây dựng và ban hành
"Hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư
cổ tử cung" Từ đó điều chỉnh một số danh mục dịch vụ y tế để cung ứng được nhu cầu về sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung cho người dân, ngăn ngừa và điều trị các tổn thương tiền ung thư, nhằm dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung phối hợp thực hiện trong các dịch vụ CSSKSS Đảm bảo tốt về kiến thức chuyên môn và kỹ thuật chăm sóc trong quá trình sàng lọc cho phụ nữ, đảm bảo dự phòng, điều trị ung thư
cổ tử cung cả các tuyến Đây là tiền lệ cho các tỉnh, thành phố tổ chức sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng việc phối kết hợp giữa test VIA và xét nghiệm tế bào CTC đến các tuyến
Giai đoạn 2010- 2015 Việt Nam đã tiếp nhận sự giúp đỡ của quốc tế cho một vài tỉnh, thành phố Qua đó thực hiện những dự án sàng lọc ung thư cổ tử cung, cùng với xử lí trường hợp khi phát hiện có bất thường; đông thời tiến hành nghiên cứu khoa học trên các nhóm đối tượng, từng địa điểm khác nhau dựa trên các hoạt động sàng lọc cụ thể của dự án, qua đó đã thu thập được những số liệu có giá trị Từ những nghiên cứu về ung thư cổ tử cung và sàng lọc, chọn ra phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung phù hợp cho cộng đồng
Một chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung thành công tức là chương trình sàng lọc đó phải có ảnh hưởng đến tỷ lệ ung thư cổ tử cung, phải sàng lọc được
Trang 22càng nhiều phụ nữ, lí tưởng là sàng lọc được được 80% số phụ nữ trong cộng đồng Đồng thời, những trường hợp có kết quả tiền ung thư cổ tử cung phải được điều trị dứt điểm để hạn chế chúng phát triển thành ung thư cổ tử cung, khi đó tỷ lệ ung thư
cổ tử cung trong cộng đồng sẽ giảm đi Để ngăn chặn ung thư cổ tử cung thành công phải đảm bảo được độ bao phủ sàng lọc, liên kết sàng lọc với điều trị, điều trị hiệu quả và giám sát tốt Trước tiên cần có đầu tư thích đáng và có lộ trình phù hợp với tình hình hiện tại của dân tộc, quốc gia đồng thời rất cần có sự hỗ trợ hiệu quả
từ nước ngoài [45]
1.3 Vai trò và các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung
1.3.1 Vai trò sàng lọc ung thư cổ tử cung
Sàng lọc ung thư cổ tử cung có vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ gánh
nặng bệnh tật và tử vong do ung thư cổ tử cung Những quốc gia có sàng lọc ung
thư cổ tử cung bao phủ đã giảm nhanh về tỉ lệ mắc và tử vong do ung thư cổ tử cung
ở các nước phát triển như Australia, Thụy Điển, Mỹ, Đức [34] Ngày nay, nhận thức được tầm quan trọng của sàng lọc ung thư cổ tử cung trong chiến lược phòng chống ung thư cổ tử cung, đảm bảo tăng tỉ lệ được điều trị tiền ung thư CTC giảm tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung, các nước đang phát triển cũng từng bước thực hiện những chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của từng quốc gia Nhằm phát huy những lợi ích của sàng lọc ung thư cổ tử cung là phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung cho phụ nữ trong cộng đồng, góp phần tiết kiệm chi phí, nguồn lực cho công tác điều trị, phát hiện ung thư cổ tử cung sớm khả năng chữa khỏi bệnh sẽ càng cao [3], [5] Sàng lọc là biện pháp trong nhóm dự phòng cấp 2 nhằm phát hiện và điều trị tiền ung thư cổ tử cung qua khám sàng lọc được xem là chiến lược hiệu quả và thực tế nhất trong phòng bệnh ung thư cổ tử cung hiện nay Theo WHO khuyến cáo chiến lược này cần kết hợp giữa truyền thông về lợi ích của sàng lọc, nhóm tuổi có nguy cơ cao, các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư cổ tử cung và thực hiện các chương trình sàng lọc cho nhóm đối tượng đích với sự tham gia của các tuyến y tế [3], [5], [51]
1.3.2 Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung cơ bản
1 Xét nghiệm PAP - phết tế bào CTC
Trang 23Thầy thuốc lấy tế bào trên bề mặt CTC và âm đạo bằng một que bẹt hoặc bàn chải nhỏ Các tế bào được phết và cố định trên lam kính, nhuộm và soi trên kính hiển vi PAP được chỉ định cho phụ nữ có QHTD, ưu tiên nhóm 30-50 tuổi Xét nghiệm PAP hoặc Pap-smear là xét nghiệm nhằm tìm thấy những tế bào bất thường trong CTC mà chúng có thể trở thành ung thư nếu không được điều trị kịp thời [4]
Tại những quốc gia nghèo và đang phát triển các chương trình sàng lọc bằng xét nghiệm tế bào CTC khó thực hiện đại trà bởi vì sự tốn kém và phức tạp của phương pháp Sự phức tạp thể hiện từ việc lấy tiêu bản phải đảm bảo tốt, phải có đầy đủ phương tiện phân tích xử lý, có kinh nghiệm đọc và phân tích mẫu bệnh phẩm, kinh nghiệm về lưu trữ thông tin, chi phí cho xét nghiệm đắt đỏ Chương trình phòng ngừa sẽ xem như thất bại khi một bước trong chu trình đó không chính xác hay gặp trở ngại [4], [5]
Tại nhiều quốc gia, Pap smear đa phần chỉ thực hiện được tại các đô thị, còn
ở những vùng nông thôn, vùng xa, nguồn nhân lực chưa đáp ứng, ngoài ra thời gian dài dành cho xử lý và phân tích kết quả tế bào học, kết quả ngay làm Pap Smear không có ngay nên nhiều khách hàng không trở lại nơi khám để nhận kết quả vì vậy khó theo dõi Tầm soát ung thư cổ tử cung bằng phương pháp Pap smear khó tồn tại
và thất bại ở những nước nghèo vì những hạn chế nêu trên [51]
2 Xét nghiệm ADN HPV
Xét nghiệm AND- HPV là một cách rất chính xác để biết chủng HPV có nguy cơ cao xuất hiện trong CTC của phụ nữ hay không, kết quả HPV dương tính tức là phụ nữ đó nhiễm HPV có nguy cơ cao, nên được theo dõi để đảm bảo nhiễm trùng biến mất và không phát triển các tế bào bất thường Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy có HPV dương tính, điều này không hẵn là phụ nữ bị ung thư, nhưng nó giúp NVYT nắm được những đối tượng có HPV biết họ thuộc nhóm nguy cơ cao Đây là biện pháp phù hợp cho “sàng lọc tập trung” có chủ đích đối vói nhóm đối tượng trong độ tuổi nào đó chứ không thể “sàng lọc đại trà” cho tất cả phụ nữ vì chi phí cho xét nghiệm rất cao [4]
3 Quan sát CTC với axit acetic (VIA)
Trang 24Phương pháp quan sát CTC với axit acetic (VIA) là phương pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch axit acetic 3-5% và quan sát bằng mắt thường để phát hiện những bất thường bao gồm các tổn thương tiền ung thư Sử dụng phương pháp (VIA) hiện nay được coi là hiệu quả trong sàng lọc, vì nó đáp ứng được những tiêu chí, hỗ trợ tốt ngành y tế trong việc tầm soát ung thư cổ tử cung Với xét nghiệm VIA, kết quả có ngay sau vài phút thực hiện, khách hàng không phải quay lại để lấy kết quả như các xét nghiệm khác, cách thực hiện khá đơn giản, nguyên tắc thủ thuật không phức tạp Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp VIA cho kết quả ít nhất cũng tương đương với xét nghiệm tế bào CTC, VIA không có trở ngại về kỹ thuật cũng như cơ sở vật chất, có độ nhạy cao hơn so với Pap smear trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung Do đó, phương pháp này được đánh Bộ Y tế khuyến nghị lựa chọn cho sàng lọc trong cộng đồng vì tính khả thi của nó [4]
Với những mặt lợi thế của sàng lọc bằng VIA, cần phải duy trì bền vững và hướng đến thực hiện bao phủ trên diện rộng Đưa dịch vụ về tại trạm y tế đồng thời gắn với điều trị, tư vấn, chuyển tuyến Bên cạnh đó cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao hiểu biêt cho người dân về sàng lọc ung thư cổ tử cung, giúp họ tích cực, chủ động phòng ngừa, tìm kiếm và sử dụng dịch vụ sàng lọc Đồng thời nhân viên y
tế phải có kỹ năng tư vấn và giao tiếp với bệnh nhân và khách hàng cùng với nâng cao chất lượng chuyên môn để có thể đáp ứng việc sàng lọc, cung cấp thông tin tư vấn tốt cho họ Đẩy mạnh việc theo dõi số phụ nữ có kết quả dương tính, thực hiện điều trị áp lạnh rồi chuyển tuyến hợp lý [5], [26]
4 Quan sát CTC sử dụng Lugol (VILI)
Phương pháp quan sát CTC bằng mắt thường, dựa trên nguyên lý bắt màu của glycogen có trong biểu mô vảy cổ tử cung khi tiếp xúc với dung dịch Lugol có chứa Iod Các mô tiền ung thư, biểu mô dị sản mới hình thành, mô viêm không bắt màu Lugol hoặc bắt màu không đáng kể [14]
Trong quy mô nghiên cứu này, phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung được xác định chủ yếu là phương pháp VIA, bởi vì tính sẵn có, đáp ứng và sự thuận tiện đối với điều kiện phụ nữ trên địa bàn nghiên cứu, đã và đang được triển khai tại
y tế cơ sở
Trang 251.4 Kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc ung thư cổ tử cung
Kiến thức về sàng lọc ung thư cổ tử cung trong nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, kiến thức về sàng lọc ung thư cổ tử cung bao gồm biết về các triệu chứng của ung thư cổ tử cung: ra máu âm đạo bất thường,
ra nhiều khí hư, khí hư có mùi hôi, đau bụng dưới, đau khi QHTD, rối loạn kinh nguyệt [4]; biết về ung thư cổ tử cung có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm; hiểu biết về độ tuổi có nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung là trên 30 tuổi; hiểu biết
về bệnh ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được; ngoài ra còn có các nội dung như đã được CBYT tư vấn về ung thư cổ tử cung [5], [8], [11]
Đồng thời biết về các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung như : soi CTC, sinh thiết CTC, xét nghiệm PAP, xét nghiệm chủng HPV [4], [8]
Biết về lợi ích của khám sàng lọc ung thư cổ tử cung; Độ tuổi khuyến nghị cần sàng lọc ung thư cổ tử cung: trên 21 tuổi hoặc sau 3 năm có QHTD lần đầu; Định
kỳ khám sàng lọc: 3 năm/ lần Nghiên cứu được thực hiện trong cộng đồng người dân tộc Ê Đê, phụ nữ tại địa phương chủ yếu tiếp cận và sử dụng phương pháp VIA trong sàng lọc ung thư cổ tử cung [4], [8], [11]
Thái độ của phụ nữ đối với sàng lọc ung thư cổ tử cungtrong nghiên cứu
Thái độ là sự thể hiện đồng tình hay không trước những quan điểm về sàng lọc ung thư cổ tử cung.Sự sẵn sàng, sự tự tin đối với sàng lọc ung thư cổ tử cung [19] Trong nghiên cứu này phần thái độ với sàng lọc ung thư cổ tử cung thể hiện ở sự đồng ý hay không đồng ý với các nhận định được đưa ra dựa trên thực tế cơ sở kiến thức và bảng đánh giá thái độ thang đo Likert [2], [8] Các quan điểm gồm có: Phụ
nữ khỏe mạnh nên đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung; Phát hiện sớm ung thư cổ
tử cung sẽ giúp phụ nữ có cơ hội chữa khỏi; Khám sàng lọc ung thư cổ tử cung là cần thiết đối với phụ nữ trưởng thành; cảm thấy vui vẻ, thoải mái khi đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung; Sẵn sàng đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung dù có tốn kém tiền bạc; Khám phát hiện sớm ung thư cổ tử cung sẽ giúp điều trị khỏi bệnh; Đi khám phát hiện sớm ung thư cổ tử cung chị sẽ không cảm thấy xấu hổ vì phải cởi đồ
để lộ cơ thể; Người ta không nghi ngờ phụ nữ đi khám sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục [2], [11], [22]
Trang 26Thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung được xác định bởi những hành vi đã được thực hiện sau: Đã từng khám phụ khoa; đã khám sàng lọc ung thư cổ tử cung; đã khám sàng lọc định kỳ 3 năm/ lần; Các phương pháp sàng lọc đã thực hiện [8]
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về kiến thức thái độ, thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung
Kiến thức chung về bệnh ung thư cổ tử cung từ nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới trước đây cho thấy sự không đồng đều về tỷ lệ phụ nữ nghe và biết đến bệnh ung thư cổ tử cung nằm trong khoảng từ 9,59% - 93% Năm 2009, Serena Donati tiến hành khảo sát trên 667 phụ nữ độ tuổi 18-26 tại Italia, có tới 83% đối tượng nghiên cứu đã nghe nói đến bệnh ung thư cổ tử cung Tương tự, Chantal Sauvageru năm 2006 đã tiến hành trên 471 nữ giới trong độ tuổi 18-69 tại Quebec, Canada cho thấy có 93% đối tượng nghiên cứu trả lời đã có nghe biết đến ung thư
cổ tử cung [28] Năm 2010, Sandeep Singh và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên
812 phụ nữ đã lập gia đình ở Ấn Độ cho thấy có là 9,59% có nghe nói đến bệnh ung thư cổ tử cung [48] Cũng thời gian 2010, A.Saha và cộng sự thực hiện nghiên cứu đối với 630 sinh viên nữ trong độ tuổi 17-24 của các trường Cao đẳng Premier ở Kolkata, Ấn Độ, thì chỉ có 20% sinh viên xác định chính xác ung thư là bệnh xảy ra phổ biến nhất ở giới nữ, trong khi 43% đã nhận thức được độ tuổi xuất hiện, 41% cho rằng hoạt động tình dục có liên quan trực tiếp đến ung thư cổ tử cung, yếu tố nguy cơ như hút thuốc, có nhiều bạn tình, viêm nhiễm CTC, QHTD sớm đã được công nhận lần lượt là 29%, 3%, 4%, 13% và 15% Thuật ngữ xét nghiệm PAP đã được nghe thấy là 11% sinh viên [47], [23]
Nhìn chung, các công trình khoa học trước đây ít khai thác sâu về sàng lọc, đa số là quan tâm đến phương pháp xét nghiệm PAP Smear, dường như đây là phương pháp phổ biến nhất, và thường được nghiên cứu nhiều trong và ngoài nước
Có sự khác biệt nhau giữa kiến thức về PAP của những nghiên cứu khác nhau [30], [37], [43], [30], [54] Theo Peter A Aboyeji năm 2001, Camen Justina Gamarra và cộng sự năm 2003, Mona Al Sairafia và cộng sự thực hiện năm 2006, cho thấy tỷ lệ
Trang 27nghe đến PAP lần lượt là 68,9%; 92,5%; 76,9% Trong đó, phần kiến thức về PAP đạt phải đảm bảo hai nội dung: nghe về PAP và biết đến lợi ích cơ bản của PAP; thì kiến thức đạt lại thấp hơn so với việc chỉ nghe và biết đến PAP, tương ứng là 46,%; 49,5% và 52,3% Trong một số nghiên cứu khác [25], [43], [30] có đến 90% đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu của SU Mbamara cùng cộng sự ở Đông Nam Nigeria cho biết rằng họ “không biết” về PAP [49] Trong các kết quả có tỷ lệ kiến thức khác nhau còn phụ thuộc vào đặc điểm khác nhau của các nhóm đối tượng nghiên cứu, địa bàn thực hiện
Theo nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai cùng các cộng sự thực hiện năm 2010 tại Việt Nam, thu thập thông tin từ các bố mẹ có con gái từ 11-14 tuổi tại
5 tỉnh Kết quả có 77% đối tượng nghiên cứu cho biết đã nghe đến ung thư cổ tử cung, có 55,9% bà mẹ kể ra được ít nhất một triệu chứng của ung thư cổ tử cung [11] Tỷ lệ này trong kết quả của Bùi Diệu và cộng sự (2008-2010) tại 10 tỉnh/thành thấp hơn với 51,3% [6] Theo Lê Thị Phương Mai, cộng sự (2010) thì yếu tố được nguy cơ đối tượng nghiên cứu biết đến nhiều là bệnh phụ khoa, viêm nhiễm 84,6%, tiếp theo là yếu tố vệ sinh sinh dục kém 82,2% và sinh nhiều con 70,1% Một số yếu tố khác như nhiều bạn tình, nhiễm HIV, QHTD sớm, sử dụng thuốc tránh thai cũng được đối tượng nghiên cứu đề cập đến [6] Trong nghiên cứu của Viện VSDTTW và MSD được tiến hành vào năm 2009, khi so sánh KAP về bệnh ung thư cổ tử cung giữa hai nhóm đối tượng Trong đó nhóm 1 là những phụ nữ trong
độ tuổi tử 22 đến 32, và nhóm 2 gồm người có độ tuổi từ 34 đến 45 Nghiên cứu này cho thấy 88,6% đối tượng nghiên cứu tuổi 22 đến 32, và 94,3% đối tượng nghiên cứu tuổi từ 34 đến 45 tham gia vào nghiên cứu biết đến viêm nhiễm phụ khoa sẽ là nguy cơ gây bệnh ung thư cổ tử cung [8]
Khi hỏi về các biểu hiện nhận biết của bệnh ung thư cổ tử cung, các đối tượng được mời tham gia trong các nghiên cứu trước đây nhắc đến thông thường là các triệu chứng như: chảy máu vùng kín bất thường, khí hư ra nhiều có mùi hôi, tiểu tiện ra máu và đau ở vùng bụng dưới Nghiên cứu tại Việt Nam của PATH năm
2010, cho rằng chỉ có 50% đối tượng nghiên cứu là cha mẹ và các bé gái từ 11-14 tuổi biết được 1triệu chứng thể hiện của bệnh ung thư cổ tử cung Dưới 25% cha mẹ
Trang 28biết 1 biểu hiện của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường, khí hư bất thường [35] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ năm 2008, bố mẹ của các em gái
từ 11-14 tuổi kể được triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung là ra máu âm đạo bất thường 27,9%, khí hư bất thường 31,6%, ngoài ra 31% nhắc đến là kinh nguyệt không đều, rong kinh [12] Các biểu hiện như đau khi QHTD, tiểu tiện ra máu, ra máu âm đạo, khí hư nhiều, kinh nguyệt bất thường, đau bụng dưới bất thường nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai năm 2008 được đối tượng nghiên cứu nhắc đến với tỷ lệ từ 3,8% đến 24,9% [11]
Trong một số nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ phụ nữ biết các phương pháp phòng ngừa ung thư cổ tử cung là tương đối thấp Theo Trần Thị Minh Tâm năm 2009, tuy phụ nữ biết đến các biện pháp phòng ngừa quan trọng như vệ sinh cơ thể, vệ sinh phần phụ, không QHTD với nhiều người, nói không với thuốc lá, ăn uống hợp lý, lao động có khoa học và khám phụ khoa thường xuyên, nhưng tỉ lệ hiểu biết của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này chỉ ở mức từ 20,5% đến 36,3% [15] Phụ nữ có chồng hoặc có QHTD ở độ tuổi 21-70 sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng làm PAP định kỳ chỉ đạt 18,8% Nghiên cứu của Phan Hồng Vân cùng cộng sự năm 2008, gần như 70% đối tượng nghiên cứu không hề biết được rằng qua khám phụ khoa và sàng lọc định kỳ có thể phát hiện sớm ung thư cổ tử cung [20]
Ở các nước có bao phủ sàng lọc, tỷ lệ sàng lọc ung thư cổ tử cung cao hơn hẳn những nước nghèo chưa có bao phủ sàng lọc E.Gakidon năm 2002 nghiên cứu 57 nước với đối tượng nghiên cứu là phụ nữ ở độ tuổi 25- 64 Cho thấy tỷ lệ sàng lọc thấp nhất ở đất nước Bangladesh, chỉ có 1%, đối với Brazil thì đạt 73% [34] Những năm sau đó Jose Verissimo Femandes cũng tiến hành ở Brazil năm
2007, Carmen Justina Gamana năm 2003 tại Argentina, cùng với đó có nghiên cứu của Mona Al Sairafia năm 2006 tại Kuwait xác định được các tỷ lệ sàng lọc tương ứng là 85%, 46,5 %, 53,2% [54], [23], [40] Điều kiện để đánh giá thực hành đạt là đối tượng nghiên cứu phải có làm PAP smaer trong 3 năm cho tới lúc điều tra thu thập số liệu Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu thực hành đạt các nghiên cứu tương ứng được xác định là 64,4%, 30,5% và 23,8% [54], [23], [40] Có thể thấy rằng Brazil là
Trang 29đất nước có nguồn lực và đầu tư mạnh mẽ cho lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, đất nước có bao phủ về sàng lọc ung thư cổ tử cung do đó tỉ lệ phụ nữ sàng lọc cao và được tăng lên qua các năm
Đối với vấn đề dự định sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ qua các nghiên cứu: F.M Al- Meer năm 2008 có đến 85 % đối tượng nghiên cứu trả lời họ
có ý định đi làm PAP nếu như quy trình khám được thực hiện đơn giản thuận tiện
và không làm đau [36] Mbamera thực hiện nghiên cứu năm 2011 tại Nigeria, cho thấy có 57,1 % phụ nữ tham gia trả lời phỏng vấn khẳng định họ có dự định khám sàng lọc ung thư cổ tử cung [49] Trần Thị Minh Tâm tiến hành khảo sát ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội vào năm 2009 cho thấy có 24,1% đối tượng nghiên cứu không khám phụ khoa thường xuyên Có 35,7% trong số những người tham gia trả lời phỏng vấn cho biết họ có ý định làm PAP [15] Kết quả của Nguyễn Thị Thi Thơ năm 2008 tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, cho biết có 70% phụ nữ ở huyện Củ Chi, tp Hồ Chí Minh và 80% ở Từ Liêm- Hà Nội tham gia vào nghiên cứu đã có khám phụ khoa, 50% có khám phụ khoa định kỳ trong vòng 6 tháng hoặc1 năm 1 lần[16] Nghiên cứu của C.Poulos năm 2011 tại tỉnh Vĩnh Long, tỉ lệ khám phụ khoa là 83%, tỉ lệ sàng lọc là 12%, tong số đã làm xét nghiệm thì có 24/35 người từng làm PAP nhưng chưa ghe đến xét nghiệm này [27] Đa số nghiên cứu trong nước trước đây chỉ quan tâm đến xác định các tỉ lệ sàng lọc, tỉ lệ dương tính với các lọai test chứ chưa chú trọng về KAP và yếu tố liên quan sàng lọc ung thư cổ tử cung
1.4.2 Các nghiên cứu về yếu tố liên quan đến sàng lọc ung thư cổ tử cung
Yếu tố cá nhân:
Tuổi
Trong nghiên cứu của Y.Rodvall cùng cộng sự năm 2005 ở Thụy Điển, cho thấy đối tượng của nghiên cứu này là phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 29 ít khám sàng lọc ung thư cổ tử cung hơn so với những người ở độ tuổi ngoài 30 [53], điều này cũng dễ dàng lí giải vì những người trong độ tuổi nguy cơ cao hơn sẽ ý thức được và sẽ đi khám sàng lọc nhiều hơn, hoặc các chương trình sàng lọc sẽ dành cho
Trang 30những nhóm tuổi nguy cơ cao hơn Mona A Sairafia thực hiện nghiên cứu tại Kuwaiti năm 2006, đặt ra tiêu chuẩn đánh giá thực hành đạt xác định là đã tham gia làm PAP trong 36 tháng cho tới thời điểm nghiên cứu, kết quả là số đối tượng nghiên cứu độ tuổi 20 đến 29 thực hành không đạt cao gấp 7,76 lần so với nhóm đối tượng nghiên cứu có độ tuổi 30 đến 49 [51] Nghiên cứu của S.Luengo Matos cùng cộng sự năm 2007, tại đất nước Zimbaque, cho thấy phụ nữ độ tuổi 40-50 làm PAP trong vòng 5 năm trước thời gian diễn ra nghiên cứu cao hơn 1,45 lần so với những người ở độ tuổi trên 50 [48] Điều này cũng có thể lý giải vì nhóm tuổi 30-50
là nhóm có tỉ lệ nhiễm HPV dương tính cao nhất, tỉ lệ mắc ung thư cổ tử cung cũng cao nhất trong các nhóm, và đây cũng là nhóm tuổi được ưu tiên, khuyến cáo cần sàng lọc ung thư cổ tử cung định kì
Trình độ học vấn
Serena Donati với cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tại Italia vào năm 2012, qua đó đã đua ra một vài yếu tố liên quan kiến thức là trình độ học vấn và đã từng làm PAP Những phụ nữ được đi học từ 8 năm trở lên có kiến thức đạt cao gấp 1,54 lần so với người đi học ít hơn, người đã từng làm PAP có kiến thức đạt cao gấp 1,4 lần so với những người chưa làm PAP [43]
Theo một số nghiên, những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ có kiến thức tốt hơn [25], [36], [30], [43] Tương tự, Al Sairafia khẳng định rằng những phụ
nữ học hết cấp hai trở lên thì có kiến thức đạt về PAP hơn gấp 2,95 lần phụ nữ chưa học hết cấp hai trở xuống [51]
Nghề nghiệp
Một số nghiên cứu khẳng định rằng yếu tố nghề nghiệp có liên quan với kiến thức về PAP [36], [41] Theo F.M.AlMeer và cộng sự năm 2011, phụ nữ có công việc làm ổn định đạt điểm kiến thức cao hơn so với những người không có công ăn việc làm [36] Nghiên cứu của N Hadi cùng cộng sự thì những phụ nữ làm nghề buôn bán và nội trợ có kiến thức kém hơn người làm công sở [41] Với kết quả nghiên cứu của Y Rodvall thì phụ nữ có nghề nghiệp làm PAP cao gấp 1,82 lần so với người không có việc làm [53]
Thu nhập
Trang 31Mohammed A Alsaad tiến hành năm 2012 tại Syria, đánh giá rằng những người mẹ trong nghiên cứu có thu nhập cao hơn thì có kiến thức về vaccine HPV tốt hơn gấp 2,3 lần so với những người có thu nhập thấp hơn Người đã sàng lọc ung thư cổ tử cung có kiến thức tốt hơn 2,6 lần so với bà mẹ chưa sàng lọc ung thư cổ tử cung [40]
Số con
Theo F.M.AlMeer và cộng sự năm 2011, phụ nữ có từ 4 con hoặc đã từng sảy thai từ 3 lần thì kiến thức về PAP cao hơn những phụ nữ có 3 con trở xuống hoặc sảy thai dưới 3 lần [36] Ngược lại, N.Hadi năm 2009 lại khẳng định bà mẹ nhiều con có kiến thức thấp về PAP [41] Mohammed A Alsaad cho rằng bà mẹ có dưới 4 con có kiến thức về vaccine HPV tốt hơn 2,4 lần so với những người có từ 5 con trở lên[40] Có nhiều cách để lí giải cho vấn đề trên bởi vì những nghiên cứu trên được thực hiện ở những quốc gia dân tộc vùng miền khác nhau, thu nhập, văn hóa, chính sách khác nhau
Các yếu tố liên quan khác
Trong nghiên cứu của Peter N Abotchie được tiến hành năm 2006, đã khảo sát trên 157 sinh viên từ 18 tuổi trở lên tại trường đại học thủ đô Accra – Ghana, 97,1% sinh viên cho rằng chỉ những phụ nữ đã có con mới cần phải làm xét nghiệm PAP Chỉ có 5 sinh viên cho biết họ đã làm xét nghiệm PAP là do bác sĩ tư vấn, khoảng 30% sinh viên từng nghe về phòng bệnh ung thư cổ tử cung qua báo, đài, ti vi…, 20,2% sinh viên tham gia ít nhất một lần cuộc thảo luận về bệnh ung thư cổ tử cung tại nhà thờ hoặc trong buổi họp khu phố Tỷ lệ đã từng làm xét nghiệm PAP của sinh viên trong nghiên cứu này là 8,3% Được biết vào năm 2006, nước Ghana chưa được thực hiện bao phủ sàng lọc trong cộng đồng Tác giả cũng khẳng định, việc thiếu chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu kiến thức cơ bản về ung thư cổ tử cung cũng như hành vi sàng lọc ung thư cổ
tử cung [43]
Chan DNS nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng việc đi khám sàng lọc ung thư
cổ tử cung của phụ nữ dân tộc thiểu số bao gồm khuyến cáo của bác sỹ, chất lượng
Trang 32dịch vụ y tế Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến văn hóa, niềm tin và tôn giáo cũng thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với thái độ và hành vi [31]
Một đánh giá định tính về các yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến các việc sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ ở Kumasi, Ghana Chỉ ra đa số những người tham gia đều không nhận thức đúng bệnh ung thư cổ tử cung hoặc phòng bệnh ung thư cổ tử cung đối tượng nghiên cứu tiếp cận được thông tin y tế chủ yếu nhất là từ truyền hình, radio, bạn bè và gia đình Việc thiếu tài liệu truyền thông về ung thư cổ
tử cung bằng ngôn ngữ riêng cho phụ nữ ở vùng này ảnh hưởng đến nhận thức cũng như hành động sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ ở Kumasi, Ghana [52] Cũng môt nghiên cứu định tính về sàng lọc ung thư cổ tử cung của Flora F Teng, Sheona M Mitchell ở Uganda năm 2014 Cho rằng sự bối rối/lúng túng của cá nhân
xã hội có liên quan đến kiến thức, tuổi tác, sự lúng túng/bối rối là một rào cản đối với việc sàng lọc ung thư cổ tử cung, Sự bối rối liên quan đến sàng lọc ung thư cổ
tử cung bởi vì tâm lí lo lắng về kết quả và sự kì thị khi được chẩn đoán ung thư cổ
tử cung, tuy nhiên sự lúng túng/bối rối sẽ được giảm dần trong quá trình giáo dục và hiểu biết nghiên cứu này cũng khẳng định rằng vấn đề giáo dục cho cộng đồng về sàng lọc ung thư cổ tử cung cần được thực hiện và duy trì lâu dài để cải thiện dần những rào cản tâm lí xã hội đồng thời cải thiện hoạt động sàng lọc ung thư cổ tử cung cho quốc gia này [57]
Một nghiên cứu khác của Nwabichie CC, 320 người phụ nữ châu Phi ở thung lũng Klang, Malaysia được khảo sát, tỷ lệ sàng lọc ung thư cổ tử cung trong vòng 3 năm là 27,2%, mô hình hồi quy cho thấy tình trạng hôn nhân (p = 0,004), kiến thức (p = 0,035), văn hóa niềm tin (p = 0,003) và tính sẵn có của dịch vụ y tế (p < 0,001)
là các yếu tố ảnh hưởng đến sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ ở đất nước này [32]
Theo Trần Thị Minh Tâm và cộng sự năm 2009, phụ nữ có kiến thức tốt về bệnh ung thư cổ tử cung có dự định đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung cao gấp 3,7 lần so với người có kiến thức chưa tốt Những nguyên nhân chủ yếu phụ nữ không sàng lọc ung thư cổ tử cung là do tâm lí sợ có bệnh chiếm 19,4%, gia đình từ chối không cho đi chiếm 8,3% [15] Nghiên cứu của Chan DNS cho thấy các yếu tố
Trang 33ảnh hưởng đến sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ dân tộc thiểu số như kiến thức về ung thư cổ tử cung, cho rằng những phụ nữ có kiến thức càng cao thì có tỷ
lệ sàng lọc ung thư cổ tử cung càng cao [31]
Nhiều lý do để lí giải cho việc vì sao phụ nữ không khám sàng lọc ung thư cổ
tử cung, như: không nhận được khuyến cáo từ bác sĩ [25], [30]; Sợ phát hiện ra mình có bệnh, hoặc là không nhận thấy có triệu chứng bệnh nên không đi khám Một vài lý do khác cũng được đối tượng nghiên cứu đưa ra như: Không biết hay không có thông tin về sàng lọc, không có thời gian để tham gia do bận rộn [25]; tâm
lí e ngại, sợ viêm nhiễm, sợ đau đớn [30] Trong nghiên cứu về kiến thức, thái độ về ung thư cổ tử cung thực hành khuyến khích vợ của người chồng trong quá trình vợ khám sàng lọc ung thư cổ tử cung ở Ibadan đã chỉ ra rằng 70% các ông chồng đều
có kiến thức tốt liên quan đến ung thư cổ tử cung Về thái độ sàng lọc, 55,1% các ông chồng sẽ khuyến khích vợ mình sàng lọc ung thư cổ tử cung nếu họ biết xét nghiệm có thể phát hiện sớm ung thư cổ tử cung Chồng khuyến khích người vợ sàng lọc cho thấy những người vợ của 55,2% người chồng chưa đi xét nghiệm phết
tế bào, 89,1% người chồng không biết khi nào vợ của họ nên đi xét nghiệm pap smear và 80% không nhắc nhở vợ đi xét nghiệm pap smear kiểm tra [29] Nghiên cứu tìm ra kết luận rằng kiến thức liên quan đến ung thư cổ tử cung của người chồng có mối tương quan với tập quán khuyến khích các bà vợ đi kiểm tra ung thư
cổ tử cung, còn thái độ của họ không có mối liên quan đối với sàng lọc Từ đó đã có khuyến nghị rằng cần tăng cường giáo dục người chồng về sàng lọc ung thư cổ tử cung và cần thiết phải hỗ trợ cho vợ của họ trong khám sàng lọc ung thư cổ tử cung [29], [24]
Trong nghiên cứu của Joelle I Rosser, Jennifer M Zakaras và cộng sự năm
2014 tại Kenya, đã khảo sát 110 đàn ông có bạn tình ở Tây Kenya về kiến thức và thái độ của họ liên quan đến ung thư cổ tử cung và sàng lọc ung thư cổ tử cung Cho biết kiến thức cụ thể về các yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung, phòng ngừa và điều trị còn thấp Chỉ một nửa 50% những người đàn ông nhận thấy bạn tình của họ có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung 94,5% cho rằng họ cần được trang bị thêm kiến thức
Trang 34về sàng lọc Tuy nhiên, tất cả những người tham gia cho biết họ sẽ khuyến khích các đối tác của mình được sàng lọc [55]
Như vậy, có thể nói, việc thiếu kiến thức là một nguyên nhân hạn chế hoạt động sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, các hoạt động truyền thông chưa rộng rãi sẽ tác động đến việc phòng ngừa và sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung của phụ nữ Các nghiên cứu hầu hết đều đưa ra một số yếu tố tác động đến việc thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung là kiến thức về ung thư cổ tử cung của các đối tượng Ngoài ra văn hóa niềm tin, dịch vụ y tế, và sự hỗ trợ của gia đình, của người chồng cũng có liên quan đến thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung của các đối tượng nhưng ít được các nghiên cứu đề cập đến
Nghiên cứu tổng quan về của Tiyas Kusumaningrum tại Indonesia năm
2017, đã tổng hợp 9 bài báo khoa học nghiên cứu về sự hỗ trợ của người chồng trên
cả hai phương diện đó là sự hỗ trợ đánh giá thông qua khảo sát người vợ và trực tiếp phỏng vấn trên người chồng Nghiên cứu này cho biết có rất ít nghiên cứu định lượng và định tính được sử dụng để khai thác thông tin từ người chồng về sự hỗ trợ trong sàng lọc ung thư cổ tử cung tại nước này Nghiên cứu đã khuyến nghị cần sử dụng nam giới tham gia vào hỗ trợ sàng lọc, làm đối tượng nghiên cứu đễ làm tăng thêm nguồn dữ liệu làm rõ hơn về những người đàn ông tham gia vào quá trình hỗ trợ sàng lọc phát hiện ung thư cổ tử cung ở Indonesia
1.4.3 Yếu tố người chồng trong sàng lọc ung thư cổ tử cung
Tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) năm 1994, được tổ chức tại Cairo, đại diện của hơn 180 quốc gia chính thức công nhận tầm quan trọng của nam giới đối với sức khỏe sinh sản của phụ nữ.Từ đó Chương trình hành động (ICPD) khuyến khích các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản áp dụng cách tiếp cận toàn diện hơn, bao gồm cả nam giới và tập trung vào các cặp vợ chồng Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ tư năm 1995 của Liên Hợp Quốc, được tổ chức tại Bắc Kinh, cũng khuyến khích nam giới thực hiện các bước để đạt được bình đẳng giới và sức khỏe sinh sản tốt hơn đã kêu gọi nam giới tham gia với các chủ đề như:
“Người đàn ông trách nhiệm, sự tham gia của nam giới, đàn ông là đối tác quan
Trang 35trọng, nam giới và sức khỏe sinh sản” Kêu gọi đàn ông có trách nhiệm hơn với công việc gia đình và nuôi dưỡng trẻ em Để đạt được các nội dung đó là cả một quá trình thay đổi nhận thức xã hội đạt đích đến là thay đổi hành vi [18]
Sự hiểu biết và những tiếp cận mới của người chồng trở thành đối tác toàn diện của chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản Cũng như phụ nữ, đàn ông đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhưng việc nam giới tham gia vào vẫn còn hạn chế Những điều tra chủ yếu ở thực hiện tại Châu Phi, Ấn
Độ và môt số nước Châu Á… khẳng định ngày càng nhiều nam giới ủng hộ và quan tâm hơn về sức khỏe sinh sản những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi của người chồng đã và đang thay đổi, mở ra những triển vọng mới đó là: “người chồng đóng vai trò quan trọng, chi phối trong các quyết định hệ trọng đối với sức khỏe sinh sản của vợ; hiểu biết và tác động, sự cân bằng về quyền năng giữa vợ và chồng có thể giúp ích cho việc cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản; những cặp vợ chồng có sự trao đổi với nhau về chăm sóc sức khỏe sinh sản có thể đạt được những quyết định tốt hơn có lợi cho sức khỏe” [18]
Vài nghiên cứu tìm ra các rào cản khác nhau đến việc sàng lọc ung thư cổ
tử cung ở các nước châu Phi cận Sahara có thể giải thích tại sao chỉ có một ít phụ nữ được sàng lọc Nghiên cứu của Chioma A Suzu đánh giá người chồng về kiến thức, thái độ về ung thư cổ tử cung thực hành khuyến khích vợ của họ sàng lọc ung thư
cổ tử cung ở Ibadan Kết quả cho thấy kiến thức về sàng lọc ung thư cổ tử cung của ông chồng có mối liên quan với việc nhắc nhở, hỗ trợ người vợ trong sàng lọc ung thư cổ tử cung Từ đó chỉ ra rằng sàng lọc ung thư cổ tử cung sẽ hiệu quả hơn nếu
có được sự hỗ trợ của người chồng sớm hơn Cần truyền thông giáo dục và vận động nam giới cũng như phụ nữ trước khi phụ nữ được sàng lọc [29] Điều này chúng minh rằng vai trò của người chồng có ảnh hưởng lớn đến việc tham gia khám sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ Ibadan Với phong tục tập quán của người Việt Nam, người vợ thường bị ảnh hưởng bởi những quyết định của người chồng trong các công việc gia đình nói chung và lựa chọn biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng Vai trò của người chồng liên quan tới tất cả các vấn đề: Lựa chọn biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản, có hay không có thêm con, sử dụng những
Trang 36biện pháp tránh thai Ở một số vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, người chồng không đồng ý cho vợ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám phụ khoa, phòng tránh thai vì những lí do riêng của họ [19] Tại Việt Nam, chưa có các nghiên cứu đánh giá nào hướng đến người chồng để xác định vai trò của họ trong sàng lọc ung thư cổ tử cung của người vợ Mới chỉ có một số nghiên cứu về vai trò của người chồng đối với chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, như nghiên cứu can thiệp cộng đồng hướng tới người cha về dự định và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của tác giả Trần Hữu Bích (2017),cho thấy can thiệp tác động vào người cha có thể làm thay đổi dự định và tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ tăng 4,1% so với địa bàn không can thiệp [2] Như vậy, người chồng hỗ trợ bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ có tác ảnh hưởng tốt đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu, đây là một bằng chứng khẳng định vai trò quan trọng của người chồng ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe của phụ nữ Nghiên cứu của Vũ Thị Hà (2014), người chồng khuyến khích và hỗ trợ bà
mẹ tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ, có khả năng tăng thêm thời gian nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ Ngoài ra, các bà mẹ không có sự giúp đỡ, chia sẻ việc nhà hàng ngày từ người chồng thì khả năng ngừng cho trẻ bú sữa mẹ cao gấp 3,13 lần những
bà mẹ nhận được hỗ trợ, giúp đỡ từ người chồng [9] Sự hỗ trợ của người chồng có
ý nghĩa đối với việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nói chung tuy nhiên cần phải tiếp tục có các nghiên cứu can thiệp và đánh giá cụ thể để chứng minh
Người chồng là nhân tố tham gia vào hoạt động chăm sóc SKSS cùng với phụ nữ thể hiện trong các hoạt động: Cùng chia sẻ, làm giúp vợ nhiều công việc gia đình, việc chăm sóc sức khỏe tình dục cũng như chăm sóc con cái, động viên và cùng đưa vợ đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung… Cụ thể là người chồng chủ động hỗ trợ vợ đi khám phụ khoa định kì, tìm hiểu về bệnh phụ nữ thường mắc phải, động viên vợ khám sàng lọc nhằm biết sớm các nguy cơ đe dọa đến sức khỏe của phu nữ, quan tâm để người vợ có trạng thái tâm lý tốt, hiểu biết đầy đủ về những bệnh lây truyền qua đường tình dục để phòng tránh, phòng ngừa ung thư cổ
tử cung
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Trang 37Huyện Krông Pắc nằm phía đông của tỉnh Đắk Lắk, dọc theo hai bên Quốc lộ
26, trung tâm huyện cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km, với diện tích tự nhiên là 62.581 ha, dân số 220.345 người, với 21 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 35% dân số của huyện chủ yếu là người Ê Đê, Tày, Nùng, M'nông , H'Mông, Vân Kiều Huyện gồm có 01 thị trấn và 15 xã Là khu vực có thời tiết khí hậu tương đối ổn định mang màu sắc đặc trưng của thời tiết khí hậu vùng Tây Nguyên, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, thời gian còn lại là mùa khô Huyện Krông Pắc là khu vực có đất đai tương đối màu mỡ, phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu
và trồng cây nông sản Huyện Krông Pắc được nối liền với các huyện trong tỉnh bởi
hệ thống giao thông là các tuyến Quốc lộ và Tỉnh lộ rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế - xã hội, thương mại, dịch vụ và du lịch địa phận huyện Krông Pắc nằm trên trục Quốc lộ 26, cách thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hoà khoảng 160 km, cách sân bay Buôn Ma Thuột khoảng 30 km, đây chính là điều kiện khá thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của huyện; thuận lợi trong việc đẩy mạnh các quan hệ hợp tác đầu tư phát triển kinh tế xã hội [17]
Tình hình dịch bệnh tại địa phương khá ổn định trong những năm gần đây, năm 2018 số mắc/chết hầu như các bệnh truyền nhiễm đều giảm Từ năm 2015 huyện đã triển khai việc truyền thông theo chủ điểm hướng đến nữ giới từ 15-49 tuổi về ung thư cổ tử cung và khuyến khích phụ nữ tiếp cận sớm với việc sàng lọc ung thư cổ tử cung tại cơ sở y tế Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung của phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số có phần hạn chế Phụ nữ
từ 30 – 50 tuổi có chồng thăm khám phụ khoa kết hợp sàng lọc ung thư cổ tử cung đạt 19,44% [17] Đối với sàng lọc ung thư cổ tử cung ở cộng đồng trên địa bàn huyện chủ yếu thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng quan sát cổ tử cung sau bôi acid acetic (Visual Inspection with Acetic acid – VIA) tại hai xã Ea Phê và Tân Tiến là 2 địa bàn trong huyện Krông Pắc được lựa chọn và tiến hành nghiên cứu có
sự tương đồng nhau về kinh tế, văn hóa và đặc điểm dân tộc [17]
Cộng đồng người Ê Đê sống theo chế độ mẫu hệ, trong gia đình chủ nhà là người phụ nữ, theo đó tất cả tài sản quan trọng như đất đai, nhà cửa, ruộng
Trang 38vườn và của cải, sẽ được truyền từ mẹ sang con gái Chế độ mẫu hệ của người Ê Đê tại Đắk Lắk với những đặc điểm như: con sinh ra sẽ mang họ mẹ, cô gái cưới chồng
về nhà mình, trước đây khi con trai được cô gái bắt làm chồng rồi thì không được hưởng tài sản thừa kế từ nào từ nhà mình, hiện nay đã có sự bình đẳng tương đối trong nhà, người con trai cũng có một phần nếu cha mẹ có điều kiện Người phụ nữ chịu trách nhiệm điều hành gia đình, chăm sóc và nuôi dạy con cái, chăm lo mồ mả
tổ tiên, quyết định việc chia tài sản cho con cái Đối với đàn ông Ê Đê, họ là người chịu trách nhiệm trong việc đối ngoại như ngoại giao, giao lưu buôn bên ngoài, lao động sản xuất của cải vật chất đồng thời các vấn đề chính trị, tôn giáo tín ngưỡng cũng là nhiệm vụ của người đàn ông trong gia đình Do đó, đàn ông Ê Đê có vai trò quan trọng bên ngoài xã hội Người con trai Ê Đê sau khi bị bắt làm chồng thì sinh sống trong nhà vợ Thực hiện tục nối dây, tức là khi vợ chết sẽ lấy em gái hoặc chị gái ruột của vợ Nếu như vợ chết nhưng nhà vợ không còn người thay thế thì người chồng đó phải trở về sống chung với gia đình chị em gái ruột của mình Khi chết, người đần ông đó được đưa về chôn cất bên người thân ruột thịt Chỉ có con gái hưởng tài sản của cha mẹ để lại, người con gái út được ở nhà cha mẹ có trách nhiệm thờ cúng ông bà, đồng thời phải nuôi dưỡng cha mẹ đẻ cho đến khi họ qua đời Người Ê Đê rất yêu rừng, họ có ý thức bảo vệ rừng vì họ thích cuộc sống với thiên nhiên, họ cũng là cộng đồng rất chịu thương, chịu khó trong lao động sản xuất, chăm chỉ, nhiệt tình trong công việc, nhưng họ cũng rất dễ nổi nóng, thường nổi loạn chống lại khi bị bóc lột, áp bức Điều này đã thể hiện trong chiều dài ngàn năm lịch sử đấu tranh bảo vệ đất đai, bảo vệ cộng đồng của đồng bào người Ê Đê Người
Ê Đê sống thật thà và rất đoàn kết Vì vậy, đối với họ chỉ cần một lần bị phản bội, lừa dối hoặc bị gây mâu thuẫn thì cũng đủ để họ mất hết lòng tin thậm chí còn để lại hiềm khích cho đến cả thế hệ con cháu đời sau [22]
Mặc dù sống trong chế độ mẫu quyền, nhưng theo cán bộ địa phương thì vai trò của người chồng có ảnh hưởng lớn đối với những quyết định của người vợ là người đồng bào dân tộc Ê Đê trong gia đình cũng như trong cộng đồng Trong các nghiên cứu trước đây đã được thực hiện chưa có nghiên cứu xác định về sự hỗ trợ của người chồng liên quan hoặc sự ảnh hưởng của ông chồng đối với kiến thức, thái
Trang 39độ, thực hành về sàng lọc ung thư cổ tử cung của người vợ Đối với người Ê Đê, việc để lộ cơ thể nhất là cơ quan sinh dục lúc bình thường chưa có ốm đau cũng hết sức khó khăn, nếu không có sự hỗ trợ động viên của người chồng thì phụ nữ cũng còn thiếu chủ động và ngại ngùng Người Ê Đê cũng rất ít chia sẻ về đời sống tình dục, đa phần chỉ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản khi cảm thấy cơ thể có vấn đề về sức khỏe [22]
Người Ê Đê có sự gắn kết trong cuộc sống lao động, đời sống kinh tế đa phần sản xuất nông nghiệp, trồng cây nông sản và chăn thả gia súc là nguồn thu nhập chính của các gia đình Những gia đình hạt nhân không có ông bà sống cùng thông thường cứ đến mùa vụ thì cả vợ, chồng,con cái đều cùng nhau vào nương rẫy toàn thời gian khiến cho sự tiếp nhận thông tin về chăm sóc sức khỏe nói chung bị hạn chế, thậm chí việc đi khám sàng lọc ung thư cổ tử cung tại cơ sở y tế nếu như
có các chiến dịch sàng lọc vào các thời điểm sản xuất cũng khó thực hiện đối với
họ Ngoài ra hết những vụ mùa phụ nữ Ê Đê thường tham gia chăn thả gia súc, khiến cho thời gian của họ ở nhà rất ít Thông tin mà họ tiếp nhận được từ các kênh truyền thông rất hạn chế Như vậy, nghề nghiệp, tập quán lao động sản xuất cũng ít nhiều có khả năng ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc ung thư
cổ tử cung người Ê Đê [22]
Trang 401.6 Khung lý thuyết
Yếu tố cá nhân của phụ nữ:
-Đặc điểm nhân khẩu học:
Yếu tố cá nhân của người chồng:
-Đặc điểm nhân khẩu học
-Thu nhập
Đặc điểm hộ gia đình:
-Loại hình hộ gia đình -Số con trong gia đình
Kiến thức, thái độ, thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung của phụ nữ Ê Đê 30-
50 tuổi
Chia sẻ công việc
nhà với vợ
Động viên vợ đi khám sàng lọc
Hỗ trợ thông tin về sàng lọc cho vợ Cùng vợ đi khám sàng lọc
Hỗ trợ chăm sóc con cái