1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quy định pháp lý về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại phương thức trọng tài thương mại

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Pháp Lý Về Giải Quyết Tranh Chấp Trong Kinh Doanh Thương Mại Phương Thức Trọng Tài Thương Mại
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 61,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Mục lục Mục lục CHƯƠNG I 1 I Khái niệm đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại 1 1 Khái niệm 1 2 Đặc điểm 1 II Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại 2 III Phương thức g[.]

Trang 1

Mục lục

CHƯƠNG I 1

I Khái niệm đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm 1

II Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại 2

III Phương thức giải quyết thông qua trọng tài thương mại 3

1 Các hình thức của trọng tài thương mại 3

1.1 Trọng tài vụ việc ( trọng tài ad – hoc ) 3

1.2 Trọng tài thường trực 4

2 Ưu điểm và hạn chế của phương thức trọng tài thương mại 7

2.1 Ưu điểm 7

2.2 Hạn chế 9

IV Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 10

V Thẩm quyền, điều kiện giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại 12

1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại: 12

2 Điều kiện giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại 15

VI Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 16

CHƯƠNG II 21

Trang 2

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG

KINH DOANH THƯƠNG MẠI – PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

I Khái niệm đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại

1 Khái niệm

Tại Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định:

“ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”

Theo quy định trên, có thể hiểu: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn ( bấtđồng hoặc xung đột ) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạtđộng thương mại. 

2 Đặc điểm

Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân: Quan hệ

thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân vớibên không phải là thương nhân Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ítnhất một bên là thương nhân Ngoài ra cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức kháccũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên côngty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,hợp nhất, giải thể, chia, tách…công ty; …

Thứ hai,căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi

phạm pháp luật: Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi

phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâmhại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Nội dung của tranh chấp

Trang 3

thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt độngthương mại Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranhchấp thương liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Ngoài ra, tranh chấp thươngmại còn chịu chi phối của các yếu tố cơ bản của hoạt động này như: mục đích sinh lợi, cácyêu cầu về thời cơ kinh doanh và yêu cầu giữ bí mật thông tin liên quan đến hoạt động kinhdoanh.

Thứ ba, về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương

mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giáo dục ý thứctôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt độngthương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội Hiện nay tranh chấp thương mạiđược giải quyết bằng các phương thực : thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa

án Mỗi phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiếnhành Các bên có quyền tự do lựa chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗiphương thức có thể mang lại, mức độ phù hợp của phương thức so với nội dung tính chất củatranh chấp và thiện chí của các bên

II Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Điều 317 Luật thương mại 2005 quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp

thương mại bao gồm:

+ Thương lượng giữa các bên

+ Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏathuận chọn làm trung gian hoà giải

+ Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án

Thương lượng và hòa giải là hai hình thức giải quyết tranh chấp thương mại một cáchhiệu quả và ít tốn thời gian, tiền bạc nhất, được nhiều chủ thể trong tranh chấp thương mại ápdụng

Các bên đương sự được đảm bào quyền tự định đoạt, có quyền tự thương lượng, hòagiải với nhau mà không bị giới hạn bởi điều luật nào, nếu không thành thì sẽ được giải quyết

Trang 4

bằng con đường trọng tài hay tòa án Điều kiện để thương lượng, hòa giải một tranh chấpthương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn : có tranh chấp thương mại xảy ra, các bênmong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các bênđều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau.

Các tranh chấp sử dụng phương thức này thường có giá trị nhỏ, ít phức tạp, chưa trởnên gay gắt, các bên hiểu về nhau, sẵn sàng nhân nhượng và duy trì mối quan hệ lâu dài Nóivậy không có nghĩa là các tranh chấp phức tạp, giá trị tài sản lớn, liên quan đến nhiều tổchức, quốc gia thì không thể thương lượng hòa giài mà vấn đề là các bên phải có thiện chíhợp tác mà mong muốn dùng phương pháp này để giải quyết nhanh chóng các tranh chấp đó

Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hànhtheo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định

III Phương thức giải quyết thông qua trọng tài thương mại

1 Các hình thức của trọng tài thương mại

1.1 Trọng tài vụ việc ( trọng tài ad – hoc )

Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập

để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài vụ việc sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giảiquyết xong vụ tranh chấp Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và được sử dụngrộng rãi ở các nước trên thế giới Tuy nhiên quy định của pháp luật các nước về hình thứctrọng tài này cũng ở mức độ sâu, rộng khác nhau

Theo khoản 7, điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trọng tài thương mại là hìnhthức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự thủ tục do các bên tự thỏathuận”

Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:

+ Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạtđộng khi giải quyết xong tranh chấp Theo đó, trọng tài chỉ được thành lập theo thỏa thuận

Trang 5

của các bên tranh chấp để giải quyết vụ việc tranh chấp cụ thể giữa các bên Khi giải quyếtxong tranh chấp, trọng tài tự chấm dứt hoạt động.

+ Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành vàkhông có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉđịnh có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tàinào

+ Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà quy tắc tốtựng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Thông thường, cácbên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường làquy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế

 Ưu thế của trọng tài vụ việc:

+ Có thể giải quyết nhanh chóng và ít tốn kém vì nó vẫn chủ yếu phụ thuộc vào ýchí của các bên tranh chấp;

+ Quyển lựa chọn trọng tài viên của các bên không bị giới hạn bởi danh sách trọngtài viên như trọng tài quy chế;

+ Các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng để giảiquyết tranh chấp giữa các bên, khi nếu lựa chọn hình thức trọng tài quy chế, các bên sẽ bịràng buộc bởi quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài

1.2 Trọng tài thường trực

Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ,

có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách trọng tài viên hoạt động theođiều lệ và quy tắc tố tụng riêng Ở Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạngcác trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân,

có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định

Trang 6

Theo khoản 6 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010: “ Trọng tài quy chế là hình

thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của luật này và quy tắc

tố tụng của Trung tâm trọng tài đó.”

Các trung tâm trọng tài có một số đặc trưng cơ bản sau:

 Các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan

nhà nước; nhưng đồng thời vẫn nhận sự hỗ trợ của nhà nước.

Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên sau khi được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải được thành lập bởi nhà nước.Các trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lí nhà nước, cũng khôngthuộc hệ thống cơ quan xét xử nhà nước

Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấpkinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước

Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước

mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết

Là tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lí

và hỗ trợ của Nhà nước Nhà nước quản lí đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc bạnhành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâmtrọng tài Ngoài ra, nhà nước còn quản lí thông qua hoạt động quản lí hệ thống các cơ quannhà nước có thẩm quyền trong việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập,đăng kí hoạt động của các trung tâm trọng tài

 Các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau

Theo khoản 1, điều 27 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trung tâm trọng tài có tư

cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.”

Trang 7

Mỗi trung tâm trọng tài là một pháp nhân, tồn tại độc lập và bình đẳng với cac trungtâm trọng tài khác Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấpdưới.

 Tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ

Theo khoản 4, điều 27 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trung tâm trọng tài có

Ban điều hành và Ban thư ký Cơ cấu, bộ máy của Trung tâm trọng tài do điều lệ của Trungtâm quy đinh

Ban điều hành Trung tâm trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trungtâm trọng tài, có thể có Tổng thư ký do Chủ tịch trung tâm trọng tài cử Chủ tịch trung tâmtrọng tài là Trọng tài viên”

 Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng

riêng.

Mỗi trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình tùy theo khả năngchuyên môn của đội ngũ trọng tài viên và phải ghi rõ trong điều lệ của trung tâm trọng tài.Trong quá trình hoạt động, trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnhvực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Mỗi trung tâm trọng tài đều có điều lệ riêng, đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xâydựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của trung tâm và không trái với quy định củapháp luật về trọng tài thương mại Khi giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng tài hoặc trọng tàiviên duy nhất phải tuân thủ quy tắc tố tụng này

Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ sở làmột số bản quy tắc trong tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như bản quy tắc

tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín

 Hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của

trung tâm

Trang 8

Theo khoản 5 Điều 27 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trung tâm trọng tài có

danh sách trọng tài viên.”

Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về trọng tài viên của trung tâm Việcchọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trọng danhsách trọng tài viên của trung tâm Vì vậy, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ đượctiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm

2 Ưu điểm và hạn chế của phương thức trọng tài thương mại

2.1 Ưu điểm

Thứ nhất, phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm: đa số các quyết

định trọng tài không bị kháng cáo, chỉ trừ trường hợp một bên trong tranh chấp yêu cầu và có

một trong các căn cứ quy định tại Khoản 2 điều 68 Luật trọng tài năm 2010 thì quyết định

trọng tài bị hủy theo quyết định của tòa án

Thứ hai, các quyết định trọng tài được công nhận quốc tế thông qua một loạt các công

ước quốc tế được kí kết đặc biệt là công ước New York năm 1958 về thi hành quyết địnhtrọng tài nước ngoài, hiện nay có khoảng 120 quốc gia là thành viên của công ước này

Thứ ba, cơ quan trọng tài hoàn toàn trung lập, các trọng tài viên có trình độ chuyên

môn cao Để trở thành trọng tài viên thì cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu mà pháp luậtquy định, theo Luật trọng tài thương mại 2010 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thì người đáp ứng đủ các yêu cầu quy định tại Điều 20 thì có thể làm trọng tài viên

“ Điều 20: Tiêu chuẩn Trọng tài viên

1 Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;

b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

Trang 9

c) Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.

2 Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:

a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;

b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

3 Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.”

Thứ tư, trọng tài thương mại mang tính linh hoạt, đảm bảo tốt hơn quyền tự định đoạt

của các bên Nghĩa là các bên có quyền tự quyết định chọn hình thức tổ chức trọng tài cũngnhư trọng tài viên mà mình ưa thích; có quyền lựa chọn địa điểm, thời gian sao cho tiện vớidoanh nghiệp Như vậy so với tòa án, các công việc đó do thẩm phán có thẩm quyền quyếtđịnh và doanh nghiệp phải tuân theo thì hình thức trọng tài thương mại tạo cho các bên tranh

chấp có thể chủ động hơn ( Điều 11 Luật trọng tài thương mại 2010 )

Thứ năm, trọng tài thương mại mang tính bí mật: các phiên họp giải quyết tranh chấp

của trọng tài không được tổ chức công khai và chỉ có các bên nhận được quyết định Đây làmột ưu điểm lớn của phương thức trọng tài khi các tranh chấp liên quan đến các bí mậtthương mại và phát minh

Thứ sáu, giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài có thế giúp các

bên tiết kiệm được thời gian và chi phí hơn so với phương thức thông qua tòa án Trọng tài

có thể tiến hành rất nhanh trong vòng vài tuần hoặc vài tháng nếu các bên mong muốn Trong

Trang 10

hợp đồng với tổ chức trọng tài, các bên có thể thỏa thuận giới hạn thời gian cần thiết để đưa

ra quyết định trọng tài

2.2 Hạn chế

Thứ nhất, các trọng tài viên có thể gặp khó khăn trong quá trình điều tra, xác minh và

thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng vì tuy pháp luật có ghi nhận các quyền này tại

Điều 45, Điều 46 và Điều 47 Luật trọng tài thương mại 2010 nhưng quyền của họ chỉ

dừng lại ở mức được “yêu cầu” còn việc có cung cấp chứng cứ hay không phải dựa vào sự tựnguyện và thiện chí của các bên và người làm chứng

Thứ hai, trọng tài ad-hoc phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một

bên không có thiện chí, quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi khôngthể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng vàkhông có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên Vì vậy,kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tốtụng của các Trọng tài viên Cả Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sựủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sựkiện không dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được

vụ việc Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ các Tòa án

Thứ ba, hình thức trọng tài thường trực có nhược điểm là tốn kém nhiều chi phí Rõ

ràng giải quyết tranh chấp tại Trọng tài quy chế, ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho cácTrọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của

các trung tâm trọng tài Theo khoản 1, Điều 34 Luật trọng tài thương mại 2010:

“Phí trọng tài là khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Phí trọng tài gồm:

a) Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên;

b) Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài

Trang 11

c) Phí hành chính;

d) Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp

đ) Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài.”

Ngoài ra trong một số trường hợp quá trình giải quyết tranh chấp bị kéo dài mà Hộiđồng Trọng tài các các bên bắt buộc phải tuân thủ vì phải tuân theo các thời hạn theo quyđịnh của Quy tắc tố tụng trọng tài làm giảm hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thươngmại bằng trọng tài

IV Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 :

“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận

và được tiến hành theo quy định của pháp luật”. 

Điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 đã quy định rất cụ thể nguyên tắc giải quyết

tranh chấp bằng Trọng tài:

1 Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên.

 Nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội Một trong những

ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài là các bên có tranh chấp đượcđảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết Cácbên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết

mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định của hội đồngtrọng tài theo bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên (Theo quy định tại Điều 68 - Luật trọngtài thương mại 2010)

2 Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.

 Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài việc phải thực sự là người

thứ ba có đủ các điều kiện nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập, vô tư, khách quan trongviệc giải quyết tranh chấp, không liên các quan đến bên tranh chấp cũng như không có bất kì

Trang 12

lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó  Điều 20 - Luật trọng tài thương mại 2010 có cácquy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một độingũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xãhội Đặc biệt, Luật dành cho các Trung tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn caohơn đối với các Trọng tài viên trong danh sách của mình.

Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng

tài thương mại 2010 không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó cónghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu cácbên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tếtrong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

Để giải quyết tranh chấp một cách công bằng, hợp lí, bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của các bên, trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật Khi giải quyết các tranh chấpthương mại theo thủ tục trọng tài, trọng tài viên phải căn cứ vào pháp Tư tưởng chỉ đạo đốivới trọng tài viên là pháp luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết đượctranh chấp một cách vô tư, khách quan được

3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Nguyên tắc này trước hết đòi hỏi chính các bên tranh chấp phải tôn trọng các quyền tốtụng của nhau, nhưng chủ yếu nhằm yêu cầu Hội đồng trọng tài tạo điều kiện để họ thực hiệncác quyền và  nghĩa vụ của mình Ví dụ, trọng tài phải tạo điều kiện cho bị đơn trình bàyquan điểm bảo vệ của mình đối với nguyên đơn, và tạo điều kiện cho nguyên đơn trình bàyquan điểm bảo vệ Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 68 - Luật trọng tài thươngmại 2010, việc trọng tài không tạo điều kiện hoặc thậm chí không để các bên thực hiện quyềnđược trình bày trước Trọng tài có thể dẫn đến hậu quả phán quyết trọng tài không phù hợpvới quy định của Luật này.   

4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trang 13

Để hạn chế tối đa sự ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín bí mật kinh doanh, giữ cho các bêntranh chấp cơ hội hợp tác thì nguyên tắc của giải quyết tranh chấp thương mại bẳng conđường trọng tài được tiến hành không công khai.

5 Nguyên tắc giải quyết một lần và phán quyết trọng tài là chung thẩm.

Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại là nhanh chóng, dứt điểm, tránh

dây dưa, kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Để các tranh chấp thương mạigiữa các nhà kinh doanh được giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, thủ tục trọng tài rất đơngiản, không có nhiều giai đoạn xét xử như tố tụng tại tòa án đã ra đời Với tư cách là một tổchức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết củatrọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưbản án sơ thẩm của tòa án và cũng không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tố tụng trọngtài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là các tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết mộtlần trọng tài

V Thẩm quyền, điều kiện giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại

1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại:

1.1 Thẩm quyền chung của trọng tài thương mại

Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:

“ Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”

Theo quy định trên, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp sau đây:+  Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;

+ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thươngmại;

Trang 14

+ Tranh chấp khác giữa các bên mà phát luật qui định được giải quyết bằng Trọngtài.

1.2 Thẩm quyền của trọng tài với Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

 Đối với loại “ tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại ” thì các

bên tranh chấp đó đều phải là các chủ thể tiến hành hoạt động thương mại Luật trọng tàithương mại 2010 không định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại, mà sử dụng khái niệm

hoạt động thương mại tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động

thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”

Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết là thương  nhân, bao gồm thươngnhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài Thương nhân Việt Nam là các chủ thể như được

quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005: “ Thương nhân bao gồm tổ chức kinh

tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên

và có đăng ký kinh doanh.” Còn thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập,

đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài

công nhận (Khoản 1 Điều 16 Luật thương mại 2005 ).

Bên cạnh hoạt động thương mại của thương nhân, hoạt động của các cá nhân dướihình thức tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được phápluật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinhlợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” cũng được xem là hoạt động thươngmại

Cần chú ý rằng, Luật trọng tài thương mại 2010 không giới hạn thẩm quyền của trọngtài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại được thực hiệntrên lãnh thổ Việt Nam Vì vậy các bên là thương nhân Việt Nam, thương nhân  nước  ngoài (

kể cả thương nhân ngoài không hoạt động thương mại tại Việt Nam ) đều có thể thỏa thuận

Ngày đăng: 07/03/2023, 13:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w