TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI KHOA LUẬT KINH TẾ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu[.]
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa,
tỉnh Thanh Hóa
Giáo viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Ngoan
Sinh viên thực hiện : Lý Thị Thảo
Mã sinh viên : 15130501
Lớp : HP20.02
Hà Nội, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Thị Ngoan đã tận tình hướngdẫn, góp ý và động viên em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật Kinh Tế - Đại học Kinh doanh
và Công nghệ Hà Nội, các bạn lớp Hp20.02 đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốtthời gian học
Em cũng xin gửi lời cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ của Tòa án Nhân dânhuyện Thiệu Hóa – tỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện và hỗ trợ em về tài liệu vụviệc thực tế cũng như số liệu thống kê có giá trị trong quá trình nghiên cứu của em.Những lời cảm ơn sau cùng xin dành cho những người thân trong gia đình đãhết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng em có sự hỗtrợ và hướng dẫn từ Giáo viên hướng dẫn, cũng như những người em đã cảm ơn vàtrích dẫn trong luận văn này Các kết quả nêu trong Luận văn do em nghiên cứuchưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫntrong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 4
1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinhdoanh, thương mại 4
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp Kinh doanh, thương mại bằng phương thứcTòa án 9
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA 17
2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa 17
2.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dânhuyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa 21
2.3 Những tồn tại và nguyên nhân trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thươngmại tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa 23
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA 30
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giảiquyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 303.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết các tranh chấp kinhdoanh, thương mại tại Tòa án 31
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BLTTDS : Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự
2 HĐXX : Hội đồng xét xử
3 KDTM : Kinh doanh thương mại
4 LTM : Luật Thương mại
5 TAND : Tòa án nhân dân
6 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
7 VKS : Viện kiểm sát
8 VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
9 VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1 Số lượng vụ án dân sự và số lượng vụ án kinh doanh, thương mại 22
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, vấn đề nângcao hiệu quả xét xử của Tòa án luôn được Đảng và Nhà nước Tòa án quan tâm.Chủ trương này được thể hiện rất rõ ràng trong Nghị quyết 08/NQ-TW Nghị quyết
48/NQ-TW và được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49/NQ-TW “Xây dựng nền
tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ , nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng nước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” Với nền kinh tế nước ta, Tòa án đang bước vào giai đoạn hội nhập quốc
tế, các xung đột về lợi ích giữa các bên xảy ra ngày càng nhiều và gay gắt giữa các
cá nhân với nhau, giữa các cá nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân vớinhau Theo đó, những xung đột về lợi ích ngày càng phức tạp về nội dung và gaygắt về mức độ gắn liền với sự phát triển của các quan hệ kinh doanh, thương mạithì các tranh chấp trong hoạt động Kinh doanh thương mại sẽ càng nhiều và phứctạp là quy luật tất yếu khách quan Vậy nên các tranh chấp cần được giải quyếtnhanh chóng, kịp thời Sự phát triển của nền kinh tế hình thành những phương thứcgiải quyết tranh chấp thuận lợi, nhanh chóng, linh hoạt và chính xác, các phươngthức đều đảm bảo quyền tự định đoạt, quyền dân chủ và bình đẳng giữa các bêntranh chấp Nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể có mâu thuẫn tự giải quyếtvới nhau, nếu không giải quyết được có thể thông qua Trọng tài thương mại vàviệc giải quyết bằng con đường Tòa án là giải pháp cuối cùng
Biện pháp giải quyết tranh chấp KDTM thông qua Tòa án mới có thể đảm bảotối đa quyền lợi của các bên, bởi Tòa án có những công cụ đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ các bên bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành Hiệu quả của giải quyếttranh chấp KDTM có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên,cũng như sự phát triển của nền kinh tế
Theo số liệu đánh giá, của ngành Tòa án, hàng năm mỗi đơn vị Tòa án cấpquận huyện thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp KDTM Từnăm 2005 trở lại đây, tòa án áp dụng chủ yếu là BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sungmột số điều năm 2011), Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005, cùng vớicác văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, thực tiễn trong việc giải quyết tranhchấp KDTM cũng bộc lộ nhiều vướng mắc do hệ thống văn bản hướng dẫn cònthiếu đồng bộ, chậm được ban hành và chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đếncách hiểu không thống nhất và việc vận dụng không đạt được tính thuyết phục.Điều này làm cho hoạt động xét xử của Tòa án còn gạp nhiều khó khăn, vướng
Trang 8mắc, dẫn đến án bị sửa, bị hủy Do đó, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giảiquyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử ở Tòa án có ý nghĩa về lý luận cũngnhư thực tiễn, nhất là khi hàng loạt các văn bản pháp luật mới được ban hành cóđiều chỉnh về vấn đề này đã lần lượt ra đời và có hiệu lực như BLTTDS 2015, Luậtdoanh nghiệp 2014, với nhiều thay đổi quan trọng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, em xin lựa chọn và thực hiện đề tài “Pháp
luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để làm rõ các vấn đề lý
luận về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và đánh giá thực tiễn thi hành tạiTAND huyện Thiệu Hóa, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung và tại TANDhuyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nói riêng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Khi tiếp cận, nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề “Pháp luật về giải quyết tranh
chấp kinh doanh,thương mại từ thực tiễn xét xử của TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” , người viết mạnh dạn phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật
và trên cơ sở tổng hợp các ý kiến khác nhau nhằm chỉ ra những ưu, nhược điểm,những vướng mắc khi áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa
án từ thực tiễn xét xử Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện phápluật và nâng cao hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và TAND huyệnThiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nói riêng trong tranh chấp KDTM
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để Luận văn đạt được những mục đích đề ra thì việc nghiên cứu phải thựchiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây :
- Thứ nhất, Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về tranh chấp KDTM
và giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND;
- Thứ hai, đánh giá toàn diện và khách quan thực trạng áp dụng trong quá
trình giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
- Thứ ba, chỉ ra các phương hướng cụ thể, đề xuất các phương án giải quyết
phù hợp của TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhằm góp phần giúp cơquan chức năng tháo gỡ khó khăn, cũng như hoàn thiện các quy định của pháp luật
về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án;
3 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số nội dung chủ yếu của BLTTDS 2015 ( đối chiếu
Trang 9với BLTTDS 2004 ) về thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết và trình tự, thủtục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, Luận văn chủ yếu tập trung vàoviệc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranhchấp KDTM tại TAND, phân tích thẩm quyển giải quyết tranh chấp KDTM qua sốliệu thống kê các vụ án tranh chấp KDTM được giải quyết của TAND huyện ThiệuHóa, tỉnh Thanh Hóa những năm gần đây Tuy nhiên, do tính bao quát các đề tài,Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu một số vấn đề bức xúc, cần thiết liênquan đến pháp luật về tranh chấp KDTM bằng TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnhThanh Hóa Từ đó đề xuất, phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Luận văn được viết dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của triết học Mác – Lenin để phân tích mối quan hệ giữa thượng tầngkiến trúc và hạ tầng cơ sở, mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật, của Lí luận Nhànước và Pháp luật trong điều kiện kinh tế hiện nay
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản củaĐảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển kinh tế đềcác quy định đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp KDTM hiện nay.Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng những phương pháp như phân tích, so sánh,đối chiếu, tổng hợp, khảo sát thực tiễn, để giải quyết vấn đề đặt ra
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Luận văn củng cố, bổ sung thêm vào hệ thống các công trình nghiên cứu vềvấn đề giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án
Luận văn cung cấp những bất cập, hạn chế trong những quy định của pháp luật
về vấn đề tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, từ đó cónhững kiến nghị, đề xuất giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM nóichung và trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nói riêng
6 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các từviết tắt và kết luận, Luận văn gồm 03 chương :
Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại và
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của
Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Trang 10NỘI DUNGCHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấpkinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế có từ rất lâu trước khi Nhà nước xuấthiện và đưa ra các chế định để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội Cùng với sự
ra đời và phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội, tranh chấp cũng phát sinh và đặt
ra nhu cầu cần được giải quyết công bằng và hợp lý nhất trong bối cảnh kinh tế chính trị - xã hội đó Theo Triết học Mác – Lê-nin, mâu thuẫn là quy luật chungcủa xã hội, là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển Mâu thuẫn luôn luôn tồn tạinhư một tất yếu khách quan trong mọi lĩnh vực của xã hội Tranh chấp là nhữngxung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích riêng Tuynhiên, mâu thuẫn và tranh chấp tạo nên sự phát triển của xã hội, góp phần xây
-dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt,
“Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất động thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên”.
Tranh chấp KDTM được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh
và thương mại, cụ thể :
Theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “Kinh
doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Theo quy định tại Khoản 1 điều 3 Luật Thương
mại năm 2005 thì : “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và
thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạtđộng đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Do đó,hai hoạt động này đã được BLTTDS gọi chung là hoạt động kinh doanh, thươngmại và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu thuẫnphát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược nhau
Trang 11trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ, gọi chung là hoạt độngKDTM
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh, thương mại thì Giaotrình Luật thương mại, tập 2 của trường Đại Học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan
điểm về tranh chấp thương mại : “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn
(bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại”
Như vậy có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bấtđồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thưc hiện các hoạt động có liên quanđến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại Và có thể định nghĩa một cách
ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau : “Tranh chấp KDTM là những mâu
thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia
1.1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại
-Thứ nhất, về lĩnh vực phát sinh tranh chấp KDTM
Tranh chấp KDTM là tranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM Theo LuậtThương mại, hoạt động KDTM là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm muabán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mụcđích sinh lợi khác(2)(2)
-Thứ hai, về chủ thể tranh chấp KDTM
Tranh chấp KDTM chủ yếu diễn ra giữa các thương nhân với nhau Tuynhiên, trong một số trường hợp các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhâncũng không phải làthương nhân Khoản 3 điều 29 BLTTDS 2004 có quy định vềmột lại tranh chấp không diễn ra giữa các thương nhân với nhau, đó là tranh chấpgiữa các công ty và thanh viên của công ty, giữa các thành viên của công ty vớinhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia,tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Trong BLTTDS 2015 cũng bổsung thêm các tranh chấp như : Tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và được bảo vệ tập thể; Tranh chấp giữa ngườichưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần gópvốn với công ty Tóm lại, chủ thể của tranh chấp KDTM rất đa dạng, nhưng đaphần là các thương nhân có đăng ký kinh doanh
-Thứ ba, về nội dung của tranh chấp KDTM
Chính là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các(1)(1) Giáo trình Luật thương mại, tập 2 trường ĐH Luật HN
(2)(2) Khoản 1, Điều 3 Luật thương mại
Trang 12bên trong hoạt động KDTM Nói cách khác, tranh chấp KDTM có nội dung liênquan đến lợi ích vật chất của các tranh chấp Lợi ích vật chất đó thường được xemxét dưới góc độ là giá trị của tranh chấp KDTM.
1.1.1.3 Các loại tranh chấp kinh doanh, thương mại
Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS 2004 thì tranh chấp KDTM thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án bao gồm 04 nhóm :
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được liệt kê
từ điểm a đến điểm o khoản 1 Điều 29 ;
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổchức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận quy định tại khoản 2 Điều 29 ;
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viêncủa công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt độngcủa công ty được quy định tại khoản 3 Điều 29 ;
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định tạikhoản 4 Điều 29;
BLTTDS 2015 khi phân loại các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án đã có sự sửa đổi, bổ sung đáng kể :
- Không liệt kê cụ thể các tranh chấp thuần túy là tranh chấp KDTM giữa cácbên có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích sinh lợi như trong Khoản 1 Điều 29BLTTDS 2004, mà chỉ nêu bản chất của tranh chấp;
- Bổ sung thêm một loại tranh chấp là : “Tranh chấp giữa người chưa phải là
thành viên của công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với
- Bổ sung thêm nhóm tranh chấp : “Tranh chấp giữa công ty với người quản lí trong công ty trách nhiệm hữu hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc, đến việc hình thành giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao
1.1.2.Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.2.1.Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng từ hoạt độngsản xuất, đầu tư hay cung ứng dịch vụ Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,thương mại là các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành(3)(3) Khoản 2 điều 30 BLTTDS 2015
(4)(4) Một phần khoản 4 điều 30 BLTTDS 2015
Trang 13các giải pháp nhằm loại bỏ mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằmbảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Giải quyết tranh chấp KDTM đượchiểu là quá trình phân xử để làm rõ quyền, nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc viphạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên vi phạm.
1.1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
- Thứ nhất, phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời Kinh doanh, thương mại làmột quan hệ mang đậm màu sắc kinh tế, yếu tố lợi nhuận là yếu tố luôn được đặtlên hàng đầu Và một trong các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các chủ thểtrong quan hệ KDTM là vấn đề quỹ thời gian Thời gian có thể ảnh hưởng tới giátrị hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ, quy mô, khả năng luân chuyển hàng hóa, dịch
vụ ở các thời điểm khác nhau là rất khác nhau, ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận
- Thứ hai, giải quyết tranh chấp KDTM phải đảm bảo tôn trọng tối đa quyền tựđịnh đoạt của các bên KDTM là một hoạt động mang đậm màu sắc dân sự ở sự tư
do, tự nguyện và bình đẳng Vậy nên, trong giải quyết tranh chấp KDTM sự tôntrọng quyền tự định đoạt giữa các bên tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của cácbên, về phương thức, thời hạn, thời gian giải quyết tranh chấp là vô cùng quantrọng
- Thứ ba, yếu tố bí mật, duy trì quan hệ tốt đẹp giữa các bên tranh chấp là yếu
tố cần cân nhắc khi giải quyết tranh chấp KDTM
- Thứ tư, phương thức giải quyết tranh chấp KDTM rất đa dạng Để giải quyếttranh chấp KDTM, các bên có thể thông qua rất nhiều phương thức khác nhau, nhưthương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án
1.1.2.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh, thươngmại ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực sảnxuất, thương mại,dịch vụ Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấptrong kinh doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp Phápluật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết kinh doanh như sau : Thươnglượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp KDTM cácbên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau.Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thểđược thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải,Trọng tài hoặc Tòa án, trong đó :
*Hòa giải
Hòa giải là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với sự
hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của
Trang 14các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyếtđịnh cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải
mà hoàn toàn phụ thuộc vào các bên tranh chấp
Hình thức giải quyết này có nhiều ưu điểm : Thủ tục hòa giải được tiến hànhnhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kì người nào
là trung gian hòa giải cũng như thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải Họ không bị
gò bó về mặt thời gian cũng như trong thủ tục tố tụng tại Tòa án Hòa giải mangtính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vìlợi ích của cả hai bên
Bên cạnh những ưu điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòagiải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định : Việc hòa giải có được tiến hànhhay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa
ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp;thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của Trọng tàihay của Tòa án
*Trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấpkhông thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh
ưa chuộng Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hộiđồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giảiquyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc cácbên phải thi hành
Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạoquyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian bởi có thểrút ngắn thủ tục tố tụng Trọng tài và đảm bảo bí mật Trọng tài tiến hành giải quyếttranh chấp theo nguyên tắc : Quyết định, Trọng tài không được công bố công khai,rộng rãi
Nhược điểm : Giai quyết bằng phương thức : Trọng tài đòi hỏi chi phí tươngđối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí Trọng tài càng cao Việc thi hànhquyết định Trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hànhbản án, quyết định của Tòa án
*Tòa án
Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại Tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng cónhững nhược điểm nhất định Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thôngqua Tòa án là : Do cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Tòa án cótính cưỡng chế cao Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra Tòa
Trang 15án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện cótài sản để thi hành án.
Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức này cũng có nhiều nhược điểm nhấtđịnh vì thủ tục tại Tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó.Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án tuy là nguyên tắc được xem
là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khinhững bí mật kinh doanh được tiết lộ
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp Kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án
1.2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án ở Việt Nam hiện nay
1.2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án
Các nguyên tắc giải quyết vụ án KDTM là những tư tưởng chỉ đạo, hướngdẫn việc giải quyết vụ án KDTM và được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật
về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM Là một bộ phận của TAND, Tòa Kinh tếcũng phải tuân theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Tòa án nóichung được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật tổ chức TAND Ngoài ra, là một tòachuyên trách độc lập, trong hoạt động xét xử các vụ án KDTM, Tòa Kinh tế cũngphải tuân theo những nguyên tắc riêng, cụ thể:
- Các nguyên tắc chung
Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tòa kinh tếphải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng được quy định trong Hiến pháp,Luật Tổ chức TAND và BLTTDS Đó là các nguyên tắc như : Khi xét xử, Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc xét xửcông khai; xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Tòa án đảm bảo cho nhân dânđược dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa
- Các nguyên tắc riêng
+ Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự bắt nguồn từ nguyên tắcđảm bảo quyền tự do kinh doanh ( Điều 33 Hiến pháp 2013) Nguyên tắc này đượcghi nhận tại Điều 5 BLTTDS năm 2015 Đây là nguyên tắc rất căn bản của tố tụng
vụ án kinh doanh, thương mại Trên cơ sở đảm bảo quyền tự do kinh doanh, Nhànước không can thiệp và hoạt động kinh doanh của các nhà kinh doanh nếu họ kinhdoanh trong khuôn khổ pháp luật quy định
Trang 16+ Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của người kinh doanh đượcghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp 2013 Quyền này được cụ thể hóa trong nhiều văn
bản pháp luật, trong đó có BLTTDS Điều 8 BLTTDS quy định : “Các đương sự
đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” Việc cụ thể hóa
quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng vụ án kinh doanh, thương mại có ýnghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, khi các doanh nghiệp, người kinh doanh tham gia tố tụng thì không phân biệtthuộc loại hình doanh nghiệp nào, thuộc thành phần kinh tế gì, các bên đều cóquyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng
+ Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu thậpchứng cứ khi cần thiết
Nguyên tắc này được ghi nhận tài điều 6 và điều 7 BLTTDS Khi giải quyếtcác tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tòa án chủ yếu chỉ căn cứ vào các chứng
cứ đương sự đưa ra Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh
để bảo vệ quyền lợi của mình Tòa án sẽ nghe các bên trình bày và xác minh, đánhgiá chứng cứ Tòa án không tiến hành xét hỏi như tố tụng hình sự Các bên cóquyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết Tòa án không bắtbuộc phải thu thập thêm chứng cứ mà chỉ tiến hành thu nhập, xác minh chứng cứkhi thấy cần thiết, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác
+ Nguyên tắc hòa giải
Khi có tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra, trước hết các bên tự tiếnhành hòa giải Khi không tự hòa giải được, các bên mới yêu cầu Tòa án can thiệp.Nhưng khi đã yêu cầu cơ quan Tòa án can thiệp, các đương sự vẫn có thể tiến hànhhòa giải dưới sự hướng dẫn, công nhận của Tòa án (Điều 10 BLTTDS)
+ Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Việc giải quyết tranh chấp không những đảm bảo pháp luật mà còn phảinhanh chóng, dứt điểm, tránh dây dưa, kéo dài Việc giải quyết tranh chấp nhanhchóng vụ án KDTM thể hiện trong nhiều quy định rút ngắn các thời hiệu, thời hạn;thủ tục rút gọn, hạn chế việc giao vụ án cho Tòa án cấp dưới để xét xử lại
+ Nguyên tắc xét xử công khai
Xét xử công khai là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của Tòa án và
được cụ thể hóa trong BLTTDS Điều 15 BLTTDS quy định “Vụ án kinh doanh,
thương mại được xét xử công khai, trừ trường hợp cần giữu gìn bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”
Trang 171.2.1.2 Bản chất, đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án
Về bản chất, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án làmột phương thức mang ý chí quyền lực Nhà nước, Tòa án nhân danh quyền lựcnhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Quyếtđịnh của Tòa án có hiệu lực khiến các bên bắt buộc phải thực thi và có thể kèmtheo các biện pháp cưỡng chế thi hành
Đặc điểm :
- Thứ nhất, Tòa án là cơ quan tài phán nhân danh nhà nước để giải quyết tranhchấp, do đó, phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡngchế
- Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án phảituân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức cũng như các quy định vềthẩm quyền, thủ tục các nguyên tắc giải quyết tranh chấp KDTM của pháp luật tốtụng, nhất là các quy định của BLTTDS
- Thứ ba, Tòa án giải quyết tranh chấp KDTM theo nguyên tắc xét xử côngkhai
- Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét
xử : sơ thẩm và phúc thẩm; bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể đuộc xét lạitheo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
- Thứ năm, Tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo
1.2.1.3 Cơ quan tiến hành tố tụng
Tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết tại Tòa án nhân dân cấphuyện bởi các Thẩm phán được phân công giải quyết tranh chấp KDTM Đối vớiTAND cấp huyện mà đã xây dựng được Tòa chuyên trách thì thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp KDTM thuộc về Tòa dân sự TAND cấp huyện (khoản 1 điều
36 BLTTDS 2015) Tòa Kinh tế hiện nay được thành lập là một tòa chuyên tráchcủa TAND cấp tỉnh và TAND cấp cao, song song với các Tòa chuyên trách khácnhư : Tòa Dân sự, Tòa Hình sự, Tòa Lao động, Tòa Hành chính trước đó và nay làthêm Tòa Gia đình và người thành niên Tòa Kinh tế chính là bộ phận giải quyết
Trang 18các tranh chấp KDTM của TAND cấp tỉnh và TAND cấp cao Việc tổ chức nhưvậy vừa hiệu quả,vừa hệ thống, vừa đảm bảo tổ chức bộ máy gọn nhẹ thống nhấttrong hoạt động xét xử của TAND Như vậy, Tòa Kinh tế chỉ được tổ chức ở haicấp :
- Ở Trung ương : Trong TAND cấp cao, Tòa Kinh tế là một trong sáu Tòachuyên trách cố định, bên cạnh các Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòalao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên(5)(5) Tòa Kinh tế TAND cấp caocó: Chính tòa, các Phó Chính tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký tòa án TòaKinh tế TAND cấp cao chuyên trách giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ
án kinh doanh, thương mại mà bản án, quyết định của TAND tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực phápluật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng Hiện nay, có 3 TANDcấp cao được tổ chức và có trụ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ ChíMinh
- Ở địa phương : Chỉ tổ chức Tòa Kinh tế ở TAND cấp tỉnh bên cạnh 5 Tòachuyên trách khác giống các Tòa chuyên trách của TAND cấp cao (Điều 38 Luật tổchức TAND 2014), Tòa Kinh tế TAND cấp tỉnh có thẩm quyền: Sơ thẩm những vụ
án KDTM và Phúc thẩm những vụ án KDTM mà bản án, quyết định sơ thẩm vềKDTM chưa có hiệu lực pháp luật của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh và trung ương bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng(6)(6)
Ở cấp huyện, Tòa án không xây dựng Tòa Kinh tế, nhưng cũng có các Thẩmphán chuyên trách để xét xử những vụ án kinh doanh, thương mại theo thẩm quyềnluật định thuộc cấp huyện giải quyết Còn nếu TAND cấp huyện có tổ chức, Tòachuyên trách thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM thuộc về Tòa dân sựTAND cấp huyện
Nhìn chung, mô hình tổ chức Tòa án Kinh tế như quy định hiện nay bảo đảmtính thống nhất về tổ chức, cơ quan xét xử, tổ chức bộ máy nhà nước gọn nhẹ,tránh thêm đầu mối, không gây ra tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
1.2.1.4 Thủ tục, quy trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án
*Giai đoạn 1 : Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Để thực hiện quyền khởi kiện của mình, bên khởi kiện (nguyên đơn) phảichuẩn bị hồ sơ khởi kiện và nộp tại Tòa án có thẩm quyền Trong trường hợpnguyên đơn mời Luật sư thì công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn bởi Luật sư là người
có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, trường hợp ngược lại đòi hỏi(5)(5) Khoản 1 điều 30 Luật Tổ chức TAND năm 2014
(6)(6) Điều 40 Luật tổ chức TAND năm 2014, khoản 3 Điều 38 BLTTDS 2015)
Trang 19nguyên đơn phải nắm vững thủ tục tố tụng và có kinh nghiệm soạn thảo văn bản
Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ gửi kèm theođơn khởi kiện Đơn khởi kiện là chứng thư pháp lý quan trọng để Tòa án xem xét
và giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn, do đó nó phải được chuẩn bị kĩ lưỡng
và phải đáp ứng 2 yêu cầu sau :
+ Thứ nhất, về hình thức, đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm viếtđơn, tên Tòa án yêu cầu giải quyết và người ký trong đơn khởi kiện phải đúngthẩm quyền;
+ Thứ hai, về nội dung, đơn khởi kiện phải có đầy đủ nội dung theo hướngdẫn tại Nghị quyết 05/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao như : thôngtin về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tóm tắt nội dung
vụ kiện, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn Nội dung của đơn kiện phải trình bày đầy
đủ, ngắn gọn, lập luận chặt chẽ và thật logic
*Giai đoạn 2 : Nộp hồ sơ khởi kiện và chuẩn bị xét xử
Hồ sơ khởi kiện được nộp tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án Sau khixem xét thấy có đủ các điều kiện thụ lý vụ án thì Tòa án sẽ thông báo cho ngườinộp đơn kiện biết mức tạm ứng án phí phải nộp Sau khi nộp tạm ứng án phí, ngườinộp đơn xuất trình cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thụ lý vụ án
và ghi vào sổ thụ lý và như vậy vụ án đã được đưa vào quy trình giải quyết củaTòa án
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hồ sơ sẽ được phân cho Thẩm phán thụ lýnghiên cứu để tiến hành xét xử vụ án và Thẩm quyền thụ lý có thể yêu cầu các bênthực hiện các công việc sau : yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệucần thiết liên quan đến vụ việc, triệu tập lên Tòa án để lấy lời khai hoặc để đốichất, triệu tập đến hòa giải Trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án lập biênbản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
*Giai đoạn 3 : Chuẩn bị trước phiên tòa sơ thẩm
Nguyên đơn hoặc người đại diện nguyên đơn cần phải chuẩn bị kỹ các nộidung sau đây :
- Xác định lại lần cuối cùng các yêu cầu cụ thể của đơn vị mình;
- Chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án như hóa đơn,chứng từ, sổ sách kế toán để kịp thời xuất trình cho Tòa án khi được yêu cầu
- Chuẩn bị đầy đủ các văn bản pháp luật quy định về các vấn đề đang tranhchấp để có thể trích dẫn chính xác, nhanh chóng
- Nắm vững các tình tiết có liên quan đến vụ án để trình bày một cách chính
Trang 20xác và có lợi nhất cho đơn vị mình khi được yêu cầu tại phiên tòa.
- Tìm hiểu kỹ lưỡng những chứng cứ do bị đơn xuất trình Trong trường hợpcần thiết có thể yêu cầu của Tòa án cho xem những chứng cứ đó
- Kiểm tra lại lần cuối xem có chứng cứ nào có giá trị cho việc giải quyết vụ
án chưa được làm rõ, có người làm chứng nào chưa được triệu tập hay không
- Xem xét khả năng tham gia phiên tòa Trong trường hợp cần thiết có thểyêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa
- Chuẩn bị luận cứ để bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tốtụng khác cũng cần có những chuẩn bị tương tự như vậy
* Giai đoạn 4 : Tham gia phiên tòa sơ thẩm
Phiên tòa sơ thẩm được thể hiện theo trình tự và thủ tục như sau : thủ tục bắtđầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa; thủ tục tranh luận (theo BLTTDS 2015) thìhai thủ tục hỏi và tranh luận kết hợp với nhau thành Tranh tụng tại phiên tòa sơthẩm; thủ tục nghị án; thủ tục tuyên án
Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, các bên phải tựnguyện thi hành Nếu một bên không thi hành, bên được thi hành án có quyền yêucầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành Bên thi hành án làm đơn gửitới Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh đối với bản án quyết định có hiệu lực pháp luật
do Tòa án cấp huyện xét xư sơ thẩm thì bên được thi hành án làm đơn đề nghị thihành án gửi tới chi cục thi hàn án dân sự cấp huyện Bên được thi hành án cóquyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặcyêu cầu cơ quan thi hành án dân sự nơi bên phải thi hành án có trụ sở hoặc nơi cótài sản
Ngoài ra, vụ án còn có thể được Tòa án giải quyết ở cấp phúc thẩm nếu cókháng cáo, kháng nghị, thậm chí bản án, quyết định KDTM còn có thể bị xét lạitheo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong một số trường hợp
1.2.2 Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.2.1 Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án trên Thế giới
Phạm vi và thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTMđược pháp luật mỗi nước quy định khác nhau, trong đó có hai khuynh hướng chủyếu thường thấy là :
- Khuynh hướng thứ nhất : Tổ chức Tòa án chuyên trách để giải quyết các
Trang 21tranh chấp KDTM với tính chất là một dạng tranh chấp đặc thù Ví dụ : Tòathương mại của Pháp tồn tại độc lập với Tòa án thường về mặt tổ chức và chỉ xét
xử sơ thẩm Thẩm phán hầu hết là các thương gia giàu kinh nghiệm, làm việc tìnhnguyện và không hưởng lương Ở Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa án Thương mạicũng được thành lập với tư cách là một tòa độc lập, có thẩm quyền giải quyết tranhchấp mà các bên đương sự là thương gia
- Khuynh hướng thứ hai : Trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh,thương mại cho Tòa án thường Ở Mỹ, Nhật và nhiều nước khác, mọi tranh chấpthương mại đều do Tòa án thường giải quyết, với quan niệm cho rằng, mọi sự tranhchấp thương mại thực chất cũng chỉ là một dạng của tranh chấp dân sự mà thôi.Thường thì nếu các bên tham gia tranh chấp là thương gia thì luật áp dụng là phápluật thương mại Ngược lại, nếu đó không phải là tranh chấp giữa các thương giahoặc nội dung tranh chấp không được quy định trong pháp luật thương mại thì sẽđược giải quyết trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự
Xem xét về thẩm quyền của cơ quan tài phán nhà nước ở các quốc gia khácnhau về giải quyết tranh chấp thương mại thì đa số thẩm quyền của các cơ quan tàiphán này giải quyết những tranh chấp phổ biến là :
- Tranh chấp về hợp đồng kinh doanh;
- Tranh chấp liên quan đến tổ chức và hoạt động của các công tyy, bao gồmtranh chấp giữa các công ty với các thành viên của công ty và giữa các thành viêncông ty với nhau;
- Tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu thương mại;
- Tranh chấp thương mại hàng hải;
- Tranh chấp phát sinh trong quá trình bảo hộ cạnh tranh và chống cạnh tranhbất hợp pháp;
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động phát hành và kinh doanh chứngkhoán
1.2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tòa án là cơ quan tài phán của Nhà nước tiến hành áp dụng pháp luật trongtrường hợp xảy ra tranh chấp KDTM phát sinh trong hoạt động thương mại giữacác chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và một bên làm đơn khởikiện yêu cầu can thiệp của Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình Áp dụng phápluật trong việc giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án là một hoạt động rất phứctạp Trong quá trình giải quyết tranh chấp trên cơ sở áp dụng pháp luật hiện hành.Tòa án có thẩm quyền sẽ nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng thẩm quyền nhànước đề ra bản án hoặc quyết định có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp và tổ
Trang 22chức; cá nhân có liên quan phải thực hiện Bản án, quyết định của Tòa án được cơquan thi hành án của Nhà nước bảo đảm thi hành Vì vậy, để Tòa án áp dụng phápluật có hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp KDTM, đảm bảo quyền lợi củacác đương sự, đòi hỏi Thẩm phán phải trau dồi chuyên môn, nâng cao trình độnghiệp vụ Mặt khác, việc áp dụng pháp luật có tốt hay không phụ thuộc rất lớn ởbản thân các quy định pháp luật của nhà nước Do đó, pháp luật thương mại vàpháp luật tố tụng ngày càng phải hoàn thiện, tạo điều kiện cho Tòa án có cơ sởpháp lý đầy đủ, rõ ràng để giải quyết các tranh chấp KDTM ngày càng phổ biếntrong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Cơ chế giải quyết các tranh chấpKDTM trên thế giới cùng truyền thống lập pháp của Việt Nam chính là cơ sở đểNhà nước quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án.
Trang 23CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
2.1.Khái quát về Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
* Đặc điểm chính của địa phương
Thiệu Hóa là huyện có một vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm các huyệnđồng bằng của tỉnh Thanh Hóa và có ranh giới giáp với nhiều huyện: Phía Đông( giáp Thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa ); Phía Tây ( giáp huyện TriệuSơn và Thọ Xuân); Phía Nam ( Giáp huyện Đông Sơn và Triệu Sơn); Phía Bắc( giáp huyện Yên Định) Trung tâm huyện là Thị trấn Vạn Hà
Tổng quỹ đất toàn huyện quản lý sử dụng là 17.547,52 ha, trong đó đã sửdụng 14.842,83 ha bằng 84,6% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Đơn vị hànhchính của huyện gồm 29 xã, 01 thị trấn với tổng số dân là 193.454 người, tốc độtăng dân số tự nhiên là 0,64% (năm 1997 là 1,23%) Dân số nông thôn chiếm96,4%, thành thị chiếm 3,6%; sự phân bố dân cư khá đều đặn trên toàn huyện nằmdọc theo 2 bờ tả và hữu sông Chu, hình thành 6 cụm kinh tế thuận tiện cho việc chỉđạo của huyện
Thiệu Hóa nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa Nềnkinh tế còn kém phát triển so với mặt bằng chung của cả nước, dân cư chủ yếu sảnxuất nông, lâm nghiệp; trình độ dân trí thấp Trong những năm qua, tình hình anninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn huyện có nhiều diễn biến phức tạp, cáctranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại lao động tăng mạnh
so với trước đây Điều đó cũng đặt ra cho các cơ quan tư pháp những nhiệm vụ hếtsức nặng nề trong công tác giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự trị an cho địa phương,đặc biệt là trong công tác xét xử của Tòa án
*Qúa trình thành lập của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa
Hệ thống Tòa án Việt Nam ra đời ngay sau khi Nhà nước ta ra đời và từngbước hoàn thiện trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong thời kỳ đổi mới hiện nay Lịch sử hìnhthành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam gắn liền với lịch sử xây dựng,củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ta nói chung, các cơ quan tư pháp nóiriêng Cho đến nay, ngành Tòa án Việt Nam bao gồm hệ thống Tòa án nhân dânđược tổ chức từ Trung ương đến cấp huyện và hệ thống Tòa án quân sự trung ươngđến các Tòa án quân sự khu vực
Cùng với sự trưởng thành và phát triển của hệ thống Tòa án nhân dân cả
Trang 24nước, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã được thành lập Tòa
án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa được thành lập vào ngày01/01/1997 (sau khi thành lập huyện Thiệu Hóa ngày 18/11/1196 được tách từhuyện Thiệu Yên và huyện Đông Sơn bởi Nghị định số 72/CP của Chính phủ )theo sắc lệnh số 13/SL vào ngày 13/09/1945
Trong những năm qua, Tòa án nhân dân Huyện Thiệu Hóa luôn phát huytruyền thống vẻ vang của quê hương và của Ngành Tòa án nhân dân Đội ngũ cán
bộ, công chức tại Tòa án nhân dân Huyện Thiệu Hóa luôn quyết tâm học tập, phấnđấu và rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị, chuyênmôn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháptrong tình hình mới
*Về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa
Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa hiện biên có 16 cán bộ Trong đó có 06Thẩm phán (01 Chánh án, 02 Phó Chánh án), 06 Thư ký, 01 Văn thư, 01 Cán sự và
01 Kế toán Ngoài ra, TAND huyện Thiệu Hóa còn có 01 bảo vệ theo NDD68/CP.Tất cả các Thẩm phán và Thư ký của TAND huyện Thiệu Hóa đều có trình độchuyên môn từ đại học trở lên Có 01 Thẩm phán có trình độ Trung cấp lý luậnchính trị; 04 Thẩm phán có trình độ Sơ cấp lý luận chính trị Nhìn chung, đội ngũcán bộ làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ vàquy định của Nhà nước cả về số lượng và chất lượng
Chi bộ TAND huyện Thiệu Hóa trực thuộc Đảng bộ Huyện Thiệu Hóa, Chi
bộ hiện có 12 Đảng viên Chi bộ hiện có 01 Bí thư và Chi ủy viên
Công đoàn TAND huyện Thiệu Hóa thuộc Liên đoàn Lao động huyện ThiệuHóa có 16 đoàn viên Ban chấp hành Công đoàn gồm 03 đồng chí : 01 Chủ tịch, 01Phó Chủ tịch và 01 Ủy viên
*Về cơ sở vật chất của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa
Được sự quan tâm của ngành Toà án và chính quyền địa phương, hiện đơn vị
có trụ sở gồm : 2 dãy nhà 2 tầng được xây dựng trên diện tích hơn 1000m2 Trong
đó, có 1 phòng họp, 2 hội trường xét xử được trang bị âm ly, loa đài; 1 nhà côngvụ; 9 phòng làm việc; đảm bảo mỗi Thẩm phán có phòng làm việc riêng và đượctrang bị máy tính có kết nối mạng Internet
*Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa
Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một TAND cấp huyệntrong hệ thống Tòa án của Việt Nam nên có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của TAND nói chung quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014 :