LỜI CẢM ƠN Sau khi học tập và nghiên cứu, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy[.]
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau khi h c t p và nghiên c u, em đã nh n đ c r t nhi u s quanọ ậ ứ ậ ượ ấ ề ựtâm và giúp đ c a th y cô, gia đình và b n bè V i lòng bi t n sâu s cỡ ủ ầ ạ ớ ế ơ ắ
nh t, em xin g i l i c m n chân thành t i các th y cô giáo Tr ng Đ iấ ử ờ ả ơ ớ ầ ườ ạ
h c Kinh doanh và Công ngh Hà N i, nh ng ng i đã truy n đ t choọ ệ ộ ữ ườ ề ạ
em nh ng ki n th c và kinh nghi m quý báu trong su t th i gian h cữ ế ứ ệ ố ờ ọ
t p v a qua, đ ng th i đã t o đi u ki n đ em đ c v n d ng nh ngậ ừ ồ ờ ạ ề ệ ể ượ ậ ụ ữ
ki n th c mình đã h c vào th c t Em đ c bi t xin g i l i c m n sâuế ứ ọ ự ế ặ ệ ử ờ ả ơ
s c đ n Cô Lê Th Ngoan đã t n tình ch b o, h ng d n em th c t p vàắ ế ị ậ ỉ ả ướ ẫ ự ậhoàn thi n lu n văn t t nghi p ệ ậ ố ệ
Em cũng xin phép đ c bày t l i c m n các cô, chú, anh, ch t iượ ỏ ờ ả ơ ị ạTòa án nhân dân huy n Tu n Giáo đã t o đi u ki n giúp đ cho em trongệ ầ ạ ề ệ ỡ
vi c ti p c n, làm quen v i nh ng v n đ th c ti n liên quan đ n cácệ ế ậ ớ ữ ấ ề ự ễ ế
ki n th c đã h c và h ng d n em hoàn thi n chuyên đ lu n văn t tế ứ ọ ướ ẫ ệ ề ậ ốnghi p ệ
Do trình đ lý lu n cũng nh th i gian nghiên c u có h n nênộ ậ ư ờ ứ ạchuyên đ lu n văn không th tránh kh i có sai sót Em r t mong nh nề ậ ể ỏ ấ ậ
đ c nh ng chia s và nh ng l i góp ý chân thành c a quý th y cô đượ ữ ẻ ữ ờ ủ ầ ể
em có th hoàn thi n h n chuyên đ lu n văn c a mình ể ệ ơ ề ậ ủ
Em xin chân thành c m n!ả ơ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng em Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ
ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án
do em tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp
với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên
cứu nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Ngọc Ánh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN 5
1.1 Những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai 5
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai 5
1.1.2 Đặc điểm tranh chấp đất đai 6
1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai 8
1.1.4 Nguyênnhânphát sinhtranhchấp đất đai 11
1.1.5 Hậu quả tranh chấp đất đai : 14
1.2 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 15
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND 15
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND 16
1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của việc xét xử tranh chấp đất đai thông qua TAND .17
1.2.4 Các nguyên tắc xét xử tranh chấp đất đai tại TAND 17
1.2.5 Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND 18
1.2.6 Thủ tục, trình tự xét xử giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN TUẦN GIÁO 21
Trang 42.1 Giới thiệu chung về huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 21
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện TuầnGiáo, tỉnh Điện Biên 212.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác giải quyết các tranh chấpđất đai tại huyện Tuần Giáo 22
2.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo 23
2.2.1 Tình hình thụ lý giải quyết các vụ án của Tòa án nhân dân huyệnTuần Giáo 232.2.2.Đánh giá về việc giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện TuầnGiáo 272.2.3 Một số tranh chấp đất đai điển hình đã được giải quyết tại Tòa ánnhân dân huyện Tuần Giáo 35
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên .36 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN 41 3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo,tỉnh Điện Biên 41
3.1.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai 413.1.2 Giải pháp về áp dụng pháp luật về giải quyết TCĐĐ 46
3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 46 KẾT LUẬN 48 DANH MỤC THAM KHẢO 49
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
3 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 : Tổng số các vụ án mà TAND huyện Tuần Giáo giải quyết từ năm
2015 đến năm 2018 25Bảng 2.2 Số vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất từ năm
2015 đến năm 2018 25Bảng 2.3 Số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất từ năm 2015 đếnnăm 2018 26Bảng 2.4 Số vụ án tranh chấp đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
từ năm 2015 đến năm 2018 26
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp tiết của đề tài:
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọngphát triển đất nước và xã hội Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng củađất đai đối với cuộc sống của con người, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đờisống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia
Trong điều kiện đổi mới của thời kỳ kinh tế thị trường đất đai ngày naycòn được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, là thành phần quan trọng trong thịtrường bất động sản Trong cơ chế thị trường đất đai là tài sản có giá trị, luônbiến động.Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cáctranh chấp đất đai ở nước ta đang ngày càng gia tăng Mỗi năm tòa án nhândân các cấp và UBND giải quyết hàng ngàn vụ án đất đai Hiện nay, nhà nước
ta rất quan tâm đến lĩnh vực đất đai và luôn hoàn thiện các chính sách đất đai
để quản lý, sử dụng đất hợp lý, nâng cao hiệu quả Vì đất đai có tầm quantrọng mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội như vậy, nên đất đai cũng là vấn đề rấtnhạy cảm, bức xúc, thực tế hiện nay việc quản lý sử dụng đất cũng có nơi, cólúc chưa đạt được chặt chẽ, kém hiệu quả, dễ làm phát sinh mâu thuẫn, tranhchấp, khiếu nại, tố cáo Tranh chấp đất đai càng ngày càng xảy ra nhiều hơntrong xã hội, đặc biệt khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường Các vụtranh chấp đất đai ngày càng trở nên phức tạp, kéo dài thời gian giải quyếtgây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội Để góp phần tháo "ngòi nổ" củacác điểm nóng do tranh chấp, khiếu kiện đất đai gây ra trên địa bàn huyệnTuần Giáo thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra các giải pháp nâng cao chấtlượng công tác giải quyết tranh chấp đất đai là một việc làm có ý nghĩa cả về
mặt lý luận và thực tiễn Với ý nghĩa đó, em lựa chọn đề tài “ Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, từ thực tiễn xét xử tại TAND huyện Tuần Giáo ,tỉnh Điện Biên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu :
Mục đích tổng quát của việc nghiên cứu luận văn là đưa ra các giải pháphoàn thiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ và nâng cao chất lượng của hoạtđộng xét xử TCĐĐ của TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu :
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định những nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau đây:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết TCĐĐ
tham chiếu với hoạt động xét xử của TAND thông qua việc giải quyết nhữngvấn đề cụ thể sau: Phân tích khái niệm và đặc điểm của TCĐĐ; phân loạiTCĐĐ; nguyên nhân và hậu quả của TCĐĐ
- Phân tích khái niệm và đặc điểm của giải quyết TCĐĐ; ý nghĩa của giảiquyết TCĐĐ; các nguyên tắc giải quyết TCĐĐ; các hình thức giải quyếtTCĐĐ; đặc điểm và tính ưu việt của giải quyết TCĐĐ thông qua TAND; yêucầu của việc giải quyết TCĐĐ thông qua TAND…
- Làm rõ khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật giải quyết TCĐĐthông qua hoạt động xét xử của TAND; ý nghĩa, nguyên tắc và yêu cầu của ápdụng pháp luật giải quyết TCĐĐ thông qua hoạt động xét xử của TAND
- Phân tích cơ sở lý luận, khái niệm và đặc điểm của pháp luật về giảiquyết TCĐĐ thông qua TAND; cấu trúc pháp luật về giải quyết TCĐĐ thôngqua TAND; các yếu tố bảo đảm thi hành pháp luật về giải quyết TCĐĐ thôngqua TAND …
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết TCĐĐ và
thực tiễn thi hành tại TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Ba là, đưa ra định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
giải quyết TCĐĐ và nâng cao hiệu quả thi hành tại TAND huyện Tuần Giáo,tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn xác định đối tượngnghiên cứu vào các nội dung cụ thể sau đây:
- Quy định về giải quyết TCĐĐ của Luật đất đai năm 2013 và các vănbản hướng dẫn thi hành
- Quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 và các văn bản hướng dẫnthi hành về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND
- Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn vềđường lối xét xử các vụ án TCĐĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND
- Các quan điểm lý luận, trường phái lý thuyết về TCĐĐ, giải quyếtTCĐĐ và áp dụng pháp luật về giải quyết TCĐĐ từ hoạt động xét xử củaTAND
- Các văn bản về nghiệp vụ xét xử các vụ việc TCĐĐ của TAND tỉnhĐiện Biên
- Thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết TCĐĐ tại TAND huyệnTuần Giáo,tỉnh Điện Biên
3.2 Phạm vi nghiên cứu :
- Về địa bàn, phạm vi: Thực tiễn áp dụng pháp luật của TAND từ hoạt
động xét xử các vụ TCĐĐ tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
- Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2018
- Về nội dung nghiên cứu: Giải quyết TCĐĐ từ thực tiễn xét xử của
TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên là đề tài có phạm vi nghiên cứurộng Tuy nhiên, luận văn này chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu chế định giải quyếtTCĐĐ của TAND cấp sơ thẩm Bởi lẽ, theo quy định của Luật tổ chức TANDnăm 2014, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sở thẩm các vụ án dân sựnói chung và các vụ án TCĐĐ nói riêng
Trang 114.Cơ cở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp so sánh thống kê, phân tích tài liệu, thu thập
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở tham chiếu với Luật đất đai năm 2013:
- Luận văn hệ thống hóa và góp phần bổ sung cơ sở lý luận pháp luật vềgiải quyết TCĐĐ từ hoạt động xét xử của TAND ở nước ta
- Luận văn phân tích, bình luận, đánh giá về thực trạng thi hành phápluật về giải quyết TCĐĐ từ hoạt động xét xử của TAND tại huyện Tuần Giáo,tỉnh Điện Biên
- Luận văn đề xuất định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiệnpháp luật về giải quyết TCĐĐ và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật vềgiải quyết TCĐĐ từ hoạt động xét xử của TAND tại huyện Tuần Giáo,tỉnhĐiện Biên
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1 : Những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyếttranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo,tỉnh Điện Biên Chương 2:Thực trạng pháp luật vê giải quyết tranh chấp đất đai từ thựctiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Chương 3 : Một số giải pháp và định hướng hoàn thiện pháp luật nhằmnâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyệnTuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Trang 12CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.1 Những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013 có quy định rằng:
“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử
dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệđấtđai.”
Có thể thấy khái niệm tranh chấp đất đai được nêu trong Luật đấtđai 2013 là một khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranhchấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính
Đất đang có tranh chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợppháp đất đó với cá nhân khác, với Nhà nước (về vấn đề bồi thường đất) hoặcgiữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp vềquyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, về mục đích sửdụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa hai cá
nhân chưa xác định được ai là người sử dụng đất hợp pháp Luật đất đai
2013 cũng đã phân thành hai hệ thống cơ quan xét xử về các tình huống tranh
chấp đất đai bao gồm: Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân
Ngoài ra, có rất nhiều quan điểm giải thích về khái niệm tranh chấp đấtđai này
Theo giáo trình Luật Đất Đai của Trường Đại Học Luật Hà Nội, thì
“tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, vềquyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đấtđai” Cách định nghĩa khái niệm này càng được khẳng định rõ hơn khi phápluật về đất đai cũng quy định với ý nghĩa tương đương Cụ thể, theo quy địnhtại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 (khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai
Trang 13năm 2013) thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ củangười sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Theo cách định nghĩa này thì khái niệm “tranh chấp đất đai” không hiểutheo nghĩa là tranh giành nhau đất để trồng trọt, sử dụng khi không rõ thuộc
về bên nào mà là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữahai hay nhiều bên trong quan hệ pháp luật đất đai Quan hệ pháp luật đất đaiđược hiểu là tổng thể các quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật đất đaiđiều chỉnh Hay nói cách khác, luật đất đai điều chỉnh tất cả các quan hệ xãhội thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nó Điều 1 Luật Đất đai năm
2013 quy định về phạm vi điều chỉnh như sau: “Luật này quy định về chế độ
sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữutoàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sửdụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộclãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Xuyên suốt LuậtĐất đai năm 2013 cũng là những quy định về đất đai và những tài sản gắn liềntrên nó Như vậy có cơ sở để khẳng định tranh chấp đất đai theo Điều 1,khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 nghĩa là tranh chấp về quyền, nghĩa
vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai
1.1.2 Đặc điểm tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnhnhững đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai cònmang những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranhchấp lao động, tranh chấp kinh tế Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủyếu sau đây:
Thứ nhất, đối tượng trong tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật
hiện hành không có đầy đủ ba quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
2005 Cụ thể, đối tượng trong tranh chấp đất đai không thể là quyền chiếmhữu (nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở
Trang 14hữu và thống nhất quản lý) mà chỉ có thể là quyền sử dụng đất và quyền địnhđoạt đối với quyền sử dụng đất.
Thứ hai, chủ thể trong quan hệ tranh chấp đất đai không phải là chủ sở
hữu đối với đất đai mà là chủ thể được quyền quản lý và sử dụng đất trongmột số trường hợp như: được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, giaođất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng, cho thuê lại,… Khác với chủ thểtrong tranh chấp một tài sản thông thường, chủ thể trong quan hệ tranh chấpđất đai không phải là chủ sở hữu đối với đối tượng tranh chấp
Thứ ba, đất đai không chỉ là một tư liệu sản xuất cực kì quan trọng mà
còn là một loại hàng hóa có giá trị Do đó, tranh chấp đất đai hiện nay khôngchỉ dừng lại ở việc tranh chấp về giá trị quyền quản lý, sử dụng đất mà còntranh chấp cả phần giá trị sinh lợi của nó Điều này nghĩa là, vấn đề tranhchấp đất đai hiện nay đã bao gồm cả những tranh chấp phát sinh trong hoạtđộng quản lý, sử dụng đất đai và những tranh chấp về những tài sản gắn liềntrên đất
Thứ tư, lợi ích của tất cả các tầng lớp trong xã hội đều gắn liền với đất
đai một cách trực tiếp hay gián tiếp Chính vì vai trò cực kì quan trọng của đấtđai nên khi có tranh chấp đất đai xảy ra thì tùy theo mức độ, lợi ích của từngngười, từng nhóm người khác nhau trong xã hội sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng nêntính chất và mức độ của tranh chấp đất đai rất quyết liệt, gay gắt hơn nhiều sovới những tranh chấp thông thường khác
Thứ năm, bất kì một tranh chấp nào cũng để lại những hậu quả nhất định.
Tuy nhiên, với tính chất quan trọng của đất đai thì hậu quả của tranh chấp đấtđai thường rất nặng nề và gây ảnh hưởng xấu về mọi mặt của đời sống xã hội
cả về kinh tế lẫn chính trị như: tốn chi phí cho một vụ tranh chấp, chi phí khắcphục hậu quả tranh chấp và những chi phí khác Hơn thế nữa, tranh chấp đấtđai còn gây ra mất đoàn kết trong nhân dân, làm cho những quy định củapháp luật về đất đai không được thực thi một cách triệt để, gây ra nhiều khókhăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai Nếu tranh chấp kéo dài và
Trang 15diễn ra gay gắt, thường xuyên thì lòng tin của người dân vào chính sách đấtđai của Nhà nước cũng sẽ bị giảm đi đáng kể.
Việc nghiên cứu những đặc điểm đặc thù của tranh chấp đất đai vừa nêutrên không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định những chế định vềđất đai cũng như tranh chấp về đất đai mà thông qua đó còn thấy được tínhchất, phạm vi của tranh chấp đất đai, góp phần hoàn thiện những quy định chitiết về loại tài sản đặc biệt này
1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai
Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khiđan xen lẫn nhau Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó làcác tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợppháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã
sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình:
1.1.3.1 Tranh chấp để xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp
Trong dạng này có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền
sử dụng một diện tích đất đai nào đó hoặc một phần trong diện tích đó Việcxác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp là trách nhiệmcủa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Có thể có dạng như sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địagiới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, haihuyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong pháttriển kinh tế, văn hóa, những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địagiới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi
có nguồn lâm, thổ sản quý Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chínhtỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tươngđối nhiều
- Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất:Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có
Trang 16nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà
do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sử dụng nữa Bây giờnhững người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp
- Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đấtkhi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liềnvới quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Đất tranh chấp có thể là đất nôngnghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữamột bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹcho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại
- Tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền vớiquyền sử dụng đất: Đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tàisản gắn liền với đất chết mà không để lại di chúc hoặc để lại di chúc khôngphù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế khôngthỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về phápluật dẫn đến tranh chấp
- Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa cácvùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới Loạitranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên khôngxác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tíchđất của người khác Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranhgiới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thườngsang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng Ngoài ra, việc tranh chấpranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất,
cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉcăn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự Sau này khiđương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng nhưgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc khi cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất có phần diện tích chồng lên nhau Do đó cũng gây nên tranh chấp
Trang 17giữa các hộ liền kề nhau Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩmquyền phải xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai -Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bàodân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên.Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nàochính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc ngườimới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dântộc sở tại.
- Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụngđất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tìnhtrạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượnglớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụngtheo hình thức phát canh, thu tô Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường,các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dânchiếm đất để sử dụng Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai
1.1.3.2 Tranh chấp phát sinh trong quá trình người sử dụng đất hợp pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Trong các dạng tranh chấp này thì người đang sử dụng đất đã sử dụnghợp pháp đất, không có ai tranh chấp Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa
vụ sử dụng đất của mình như thực hiện các giao dịch về dân sự hoặc do chủtrương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc dongười khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ sử dụng đấtcủa mình mà dẫn đến tranh chấp Có các dạng tranh chấp sau:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuêlại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sửdụng đất
- Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa
vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất
Trang 18- Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nôngnghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồngcao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quátrình phân bố và quy hoạch sử dụng Trong thực tế trường hợp tranh chấp nàyxảy ra như sau: Do mục đích sử dụng đất nên Nhà nước thu hồi đất của ngườiđang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đếnngười đang sử dụng đất khiếu kiện việc chuyển mục đích sử dụng đất haykhiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mụcđích khác Mặt khác, người được Nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụngkhiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết địnhgiao đất.
- Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợiích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa Trong tranh chấp loại nàychủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đấttái định cư và đền bù không đúng người, giải tỏa quá mức quy định để chừađất cấp cho các đối tượng khác Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mởmang đường xá, đô thị quá lớn đẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt,phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện
1.1.4 Nguyênnhânphát sinhtranhchấp đất đai
1.1.4.1 Các nguyên nhân chủ yếu:
Tranh chấp đất đai hiện nay diễn ra ngày càng phổ biến và gay gắt docác nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, do hoàn cảnh lịch sử để lại Như đã trình bày trên, đất đai có
tính lịch sử và khi các yếu tố lịch sử thay đổi kéo theo những yếu tố khác như
tư duy của những nhà lập pháp, chế độ sở hữu về đất đai, sự đổi mới về chínhsách kinh tế cũng thay đổi theo Ở nước ta trong lịch sử đã có rất nhiều cuộcchiến tranh dẫn đến chủ thể sử dụng đất đai bị thay đổi (do chết chóc, sơ tán,
…) Các tranh chấp này thường là tranh chấp giữa chủ thể đang thực tế sửdụng đất với chủ thể có quyền sử dụng đất Tranh chấp dạng này thường là
Trang 19tranh chấp về các quyền dân sự liên quan đến đất đai và chịu sự điều chỉnhcủa Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự Mặt khác, vấn đề thay đổi chế độ
sở hữu về đất đai (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá nhân về đất đai
và sở hữu toàn dân về đất đai) đã dẫn đến nhiều tranh chấp về việc trưng thu,trưng dụng, thu hồi đất xảy ra Về chính sách kinh tế, các chủ trương hợp táchóa trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã đã gây ra nhiềutranh chấp về đất nông nghiệp ở khu vực nông thôn Đây cũng là một dạngtranh chấp đất đai khá phổ biến trong tình hình hiện nay và chủyếu thường làcác tranh chấp về tính đúng hoặc sai của quyết định hành chính, hành vi hànhchính do chủ thể có thẩm quyền ban hành trong hoạt động quản lý đất đai của
cơ quan nhà nước
Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về đất đai qua các
thời kì lịch sử được ban hành quá nhiều nhưng lại không thống nhất, đồng bộ
về mặt nội dung Cụ thể, theo bản Hiến pháp năm 1959, nước ta có ba hìnhthức sở hữu đất đai, đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu cánhân Do đó, việc mua bán, chuyển nhượng đất đai được phép thực hiện Thời
kì sau Hiến pháp năm 1980 đến trước khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Nhànước trở thành đại diện duy nhất của chủ sở hữu đối với đất đai Luật Đất đainghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hìnhthức Từ khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực thì Nhà nước vẫn là đại diệnchủ sở hữu nhưng người có quyền sử dụng đất lại được phép thực hiện đầy đủcác quyền của chủ sở hữu đối với đất đai mà mình đang sử dụng Lúc này,quyền sử dụng đất đã trở thành một loại hàng hóa và được phép đưa vào tronggiao dịch dân sự Chính vì sự thiếu đồng bộ này nên trên thực tế các quan hệđất đai nảy sinh qua các thời kì là rất phức tạp, gây rất nhiều khó khăn trongviệc áp dụng pháp luật để giải quyết một tranh chấp cụ thể
Thứ ba, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường dẫn đến tranh chấp đất
đai Như trong phần mở đầu đã trình bày, đất đai không chỉ có giá trị sử dụng
mà giờ đây, người sử dụng đất còn khai thác cả giá trị thương mại trên đất Có
Trang 20thể thấy rằng, khi nền kinh tế phát triển thì điều tất yếu là tư liệu sản xuấtđóng vai trò quyết định đến nền kinh tế, nó thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tếphát triển Đóng vai trò như một tài sản có giá trị, khi các yếu tố của nền kinh
tế phát triển thì tất yếu đất đai càng có chỗ đứng trong nền kinh tế Người sửdụng đất có quyền chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn quyền sử dụngđất nên những lợi ích kinh tế gắn liền với đất cũng rất dễ bị xâm phạm và tấtyếu, tranh chấp đất đai thường xảy ra
Thứ tư, tranh chấp đất đai diễn ra ngày càng gay gắt và rất khó giải quyết
cũng là do những chủ thể giải quyết tranh chấp đất đai chưa đủ trình độchuyên môn cần thiết để giải quyết Ví dụ như cán bộ hòa giải ở cấp xã chưa
đủ trình độ chuyên môn về luật pháp nên đã căn cứ những điều luật khôngđúng khiến cho việc giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh
đó, thủ tục hòa giải cũng là một rào cản lớn làm cho vấn đề tranh chấp đất đaicòn tồn đọng và giải quyết không kịp thời
1.1.4.2 Các nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân kể trên, hiện nay tranh chấp đất đai xảy ranhiều cũng là do công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đaikhông được coi trọng và quan tâm đúng mức khiến cho phần đông ngườidân chưa nắm bắt hết các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn
đề về đất đai liên quan đến lợi ích của họ Chính vì thế, một bộ phận ngườidân ý thức pháp luật chưa cao, chưa tuân thủ nghiêm chỉnh các quy địnhcủa pháp luật về đất đai Chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật hoặc viphạm các quy định về các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai diễn rakhá phổ biến hiện nay Mặt khác, trong cơ chế thị trường, quyền sử dụngđất là tài sản có giá trị cao nên có một số đối tượng lợi dụng kẽ hở củapháp luật, lách luật, đòi lại nhà đất đã bán,… cũng là một trong nhữngnguyên nhân làm cho tranh chấp đất đai hiện nay trở nên gay gắt Cụ thể,
có một số nguyên nhân khác như sau :
Trang 21Nguyên nhân khách quan:
- Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất lâu đời chưa xác định rõ ranhgiới, việc quản lý và sử dụng trải qua từng giai đoạn phát triển của lịch sửđất nước như từng phong trào: “người cày có ruộng, phong trào cải cáchruộng đất, tổ đổi công, tập đoàn sản xuất hợp tác hoá, khoán sản phẩm,khoán ruộng đất…”
- Quy định về quản lý và sử dụng đất đai chưa đầy đủ và đồng bộ, cònchồng chéo chưa thiết lập mặt bằng pháp lý
- Sự hiểu biết về pháp luật đất đai của hầu hết người dân trong Quận cònhạn chế
Nguyên nhân chủ quan:
- Hồ sơ tồn đọng từ các năm trước chưa giải quyết dứt điểm
- Việc giải quyết các mâu thuẩn trong nhân dân chưa triệt để và thoảđáng một số hộ dân khiếu nại lên cấp trên
- Công tác quản lý ở một số nơi còn yếu, chưa cập nhật đầy đủ thông tin
về thừa đất trong hồ sơ địa chính của phường
- Tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai cho nhân dân chưa được kịpthời
1.1.5 Hậu quả tranh chấp đất đai :
- Về kinh tế : khi tranh chấp xảy ra trước hết sẽ ảnh ảnh đến tâm lý , thờigian , tiền của của các bên tranh chấp Tiếp đó, ảnh hưởng đến hoạt động củacác cơ quan nhà nước Các cơ quan nhà nước phải duy trì một bộ máy không
hề nhỏ để giải quyết các TCĐĐ Điều này gây tốn kém cho cả nhà nước vànhân dân, TCĐĐ có thể làm ngưng trệ các hoạt động sản xuất và kinh doanh,gây thiệt hại về lợi ích của các bên
- Về chính trị : Các tranh chấp phát sinh có thể gây ảnh hưởng xấu, gâymất ổn định tình hình kinh tế, xã hội làm giảm hiệu quả các đường lối, chínhsách của Đảng và pháp luật nhà nước Nếu không giải quyết triệt để các tranhchấp sẽ gây mất lòng tin trong nhân dân đối với Đảng và nhà nước ta
Trang 22- Về xã hội : Các tranh chấp này sẽ là nguyên nhân gây ra các rạn núttrong các mối quan hệ tình cảm giữa cha – mẹ, vợ - chồng, anh – em, trongnhiều trường hợp có thể dẫn đến việc phạm pháp hình sự của các bên cótrranh chấp.
Như vậy, khi đánh giá tác động của TCĐĐ đối với các mặt của đời sốngkinh tế - xã hội chúng ta càng thấy được mức độ nguy hại của TCĐĐ cũngnhư tính cấp bách trong việc giải quyết có hiệu quả các TCĐĐ nhằm ổn định
xã hội
1.2 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND
Trên cơ sở khái niệm tranh chấp đất đai chúng ta có khái niệm giải quyếttranh chấp đất đai như sau: “Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơquan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữacác tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sởpháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệđất đai.”
Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quyđịnh chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Theo đó, cá nhân, cơ quan,
tổ chức, có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởikiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi có bất động sản đó)
Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013 thì TCĐĐ màđương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tạiĐiều 100 Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 tranh chấp đất đai mà đương sựkhông có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy địnhtại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì đương sự được lựa chọn hoặc là yêu cầu
Trang 23UBND cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện đến Tòa án để giải quyếttranh chấp.
Dựa trên nội dung trên về giải quyết TCĐĐ có thể hiểu TCĐĐ bằng Tòa
án là việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những bấtđồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụngđất đai Tuy nhiên, không phải TCĐĐ nào cũng có thể được giải quyết thôngqua Tòa án Pháp luật có quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trongviệc giải quyết các TCĐĐ, theo đó Tòa án chỉ được giải quyết những TCĐĐnào thuộc thẩm quyền của mình được pháp luật quy định Cụ thể, pháp luậtđất đai căn cứ vào việc người sử dụng đất có hay không có GCNQSDĐ hoặc
có hay không có giấy tờ hợp lệ về đất đai và vào sự tự do lựa chọn hình thứcgiải quyết tranh chấp của đương sự để phân định thẩm quyền giải quyếtTCĐĐ.Giải quyết TCĐĐ là dùng những cách thức, gải pháp đúng đắn,phùhợp trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trongnội bộ nhân dân về những vấn đề liên quan đến đất đai
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND
Thứ nhất: Việc giải quyết TCĐĐ tại Tòa án được thực hiện bởi Tòa ánvới tư cách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được tiếnhành theo trình tự, thủ tục Tố tụng chặt chẽ
Tranh chấp đất đai có thể được giải quyết bởi nhiều cơ quan khác nhau.Việc giải quyết các TCĐĐ tại TAND đã thu được những kết quả đángkhích lệ Với nhiều vụ được giải quyết tại TAND,ngành Tòa án thực sự đã cónhững kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực này Việc tổng kết kinh nghiệmhàng năm đã được đề cập trong các báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân,trong đó có đánh giá những mặt ưu điểm và những tồn tại cần khắc phục, sửachữa Đó không chỉ là nhũng kinh nghiệm quý báu cho ngành Tòa án về côngtác xét xử mà còn là những kinh nghiệm để xây dựng các quy định tại Tòa ánnhân dân
Trang 24Thứ hai: Giải quyết TCĐĐ tại Tòa án là hoạt động giải quyết cuối cùngsau khi tranh chấp đã được giải quyết ở giai đoạn khác mà không đạt kết quả.Thứ ba: Các phán quyết của Tòa án về vụ án TCĐĐ được đảm bảo thihành bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án.
1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của việc xét xử tranh chấp đất đai thông qua TAND
Mục đích hàng đầu của đương sự khi khởi kiện là nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình: Sự bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án bằngsức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là một ưu điểm, tạo ra sự khác biệttrong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ quan khác
Phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế bởi TAND là cơ quan nằmtrong hệ thống tư pháp, nhân danh nhà nước để giải quyết các tranh chấp nóichung và tranh chấp lao động cá nhân nói riêng, thông qua đó bảo vệ quyềnlợi, tài sản của cá nhân, công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật Khiđương sự không tự giác thi hành án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành
án có quyền tổ chức cưỡng chế buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ củamình theo quy định của Tòa án, với đặc điểm này, hiệu lực thi hành phánquyết của Tòa án sẽ có hiệu quả và mang tính cưỡng chế cao nhất
Do đó các TCĐĐ khởi kiện tại Tòa án được giải quyết dứt điểm và cókhả năng bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
1.2.4 Các nguyên tắc xét xử tranh chấp đất đai tại TAND
- Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sởhữu; Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai,đòi hỏi khi xem xét giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luậtđất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệquyền lợi cho người đại diện của chủ sở hữu
- Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người SDĐ, nhất là lợi ích kinh tế,khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân; Xét vềnguyên tắc này, lợi ích bao giờ cũng là vấn đề cốt lõi trong hầu hết các quan
hệ xã hội và đất đai là một trong những lợi ích quan trọng nhát của mọi tầng
Trang 25lớp Nếu lợi ích của người sử dụng đất không được bảo đảm thì việc sử dụngđất không thể đạt được hiệu quả mong muốn, đây là giải pháp thuyết phục khigiải quyết các tranh chấp đất đai.
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn địnhtình hình kinh tế -xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổchức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai cần chú trọng đến việc bố trí
cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh doanh tổng hợp, thâm canh tăng
vụ, mở mang ngành nghề, phân bố lại lao động, khu dân cư phù hợp với pháttriển làng nghề, đặc điểm đất đai và quy hoạch ở địa phương;
- Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2.5 Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND.
Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong các
trường hợp:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tạikhoản 1,2 và 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013
- Các đương sự không có các loại giấy tờ trên nhưng lựa chọn khởi kiệntại Tòa án mà không giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
1.2.6 Thủ tục, trình tự xét xử giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án.
Thủ tục giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án chính là nói đến pháp luật về hìnhthức Để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống nói chung và cáctranh chấp về đất đai nói riêng thì hệ thống các văn bản về hình thức để điềuchỉnh hoạt động này là điều không thể thiếu Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổchức có quyên tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để viết đơnkhởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết TCĐĐ (Tòa án nơi có bấtđộng sản)
Trang 26-Sau khi nhận được đơn khởi kiện thì trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa
án phải xem xét và có một trong các quyết định : tiến hành các thủ tục thụ lý giảiquyết vụ án nếu thuộc thẩm quyền; chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩmquyền, nếu không thuộc thẩm quyền thì báo cho người khởi kiện biết; trả lại đơnkhởi kiện nếu không thuộc thẩm quyền của Tòa án Tuy nhiên, một điểm mớicủa Bộ luật Tố tụng 2015 đó là việc Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện với
lý do chưa có pháp luật điều chỉnh Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi vàđảm bảo tối đa quyền lợi của các đương sự khi xảy ra tranh chấp; đồng thời cũnggiải quyết tình trạng Tòa án không thụ lý giải quyết vụ án vì những lý do khôngkhách quan, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự
-Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án thìngười khởi kiện phải tiến hành nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai để Tòa
án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án
-Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét
xử là 04 tháng đối với vụ án và 02 tháng đối với việc dân sự; nếu vụ án cótính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng khôngđược vượt quá 02 tháng đối với vụ án và 01 tháng đối với yêu cầu dân sự.Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án vẫn phải tiến hành thủ tục hòagiải bắt buộc tại phiên Tòa trừ những vụ án không được hòa giải hoặc hòa giảikhông được
Thủ tục hòa giải phải tuân thủ theo quy định của
BLTTDS Trong quá trình hòa giải nếu các đương sự thỏa thuận đượccác vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì lập biên bảm hòa giải thành và trongthời hạn 07 ngày kể từ thời điểm lập biên bản hòa giải mà các đương sựkhông thay đổi ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự Nếu tại phiên hòa giải mà các đương sự không thỏa thuận đượcthì Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm vụ án mà các đương sự không đồng ývới bản án, quyết định của Tòa án thì có thể kháng cáo để Tòa án cấp trên giải
Trang 27quyết theo thủ tục phúc thẩm Đương sự phải gửi đơn kháng cáo có đầy đủcác nội dung theo yêu cầu tại Điều 272 BLTTDS năm 2015 Kèm theo đơnkháng cáo là các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh chokháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Khi nhận thấy việc kháng cáo có cơ sở và đủ thẩm qyền để xét xử phúcthẩm thì Tòa án tiến hành các thủ tục thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự thủtục giải quyết phúc thẩm vụ án dân sự được quy định tại BLTTDS năm 2015 (từĐiều 270 đến Điều 315) Cũng như trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc nói chung
và TCĐĐ nói riêng bởi vì tính chất của TCĐĐ thường đa dạng, phức tạp và ảnhhưởng đến quyền, lợi ích của các đương sự tham gia tranh chấp
Ngoài ra, theo Điểm b Khoản 1 Điều 33 Luật tố tụng hành chính năm
2015 cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyếttranh chấp lần đầu thì vẫn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quyđịnh của pháp luật Tố tụng hành chính Quy định này tạo điều kiện thuận lợicho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phươngthức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quantrong quá trình giải quyết TCĐĐ
Tiểu kết chương
Như vậy, có thể thấy rằng tranh châp đất đai là một hiện tượng đang diễn
ra phổ biến trong đời sống xã hội Tranh chấp đất đai xảy ra sẽ tác động khôngnhỏ đến tâm lý, tinh thần của các bên, gây nên tình trạng mất ổn định, bất đồngtrong nội bộ nhân dân , làm cho những quy định của nhà nước về đất đai khôngđược thực hiện một cách triệt để Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các tranh chấpnày do quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự Nhằm giải quyếtcác tranh chấp này một cách công bằng, bình đẳng, Đảng và Nhà Nước đã xâydựng, ban hành những chính sách và quy phạm pháp luật, các trình tự, thủ tụcthích hợp để điều chỉnh các vấn đề này, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết các
vụ việc tranh chấp này, ổn định đời sống, kinh tế, xã hội
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂNHUYỆN TUẦN GIÁO.
2.1 Giới thiệu chung về huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Điều kiện tự nhiên :
Huyện Tuần Giáo nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, là huyện cửa ngõphía Nam của tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích tự nhiên trên 113 ngàn ha,gồm 19 xã, thị trấn, 237 khối bản, 9 dân tộc sinh sống với 18.115 hộ dân, hơn
80 nghìn người, nhân dân các dân tộc có truyền thống cách mạng, lao độngcần cù, có tinh thần đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cách thủ đô
Hà Nội 405 km Phía Đông giáp huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La); phía Tâygiáp huyện Điện Biên và huyện Mường Chà; phía Nam giáp huyện ThuậnChâu (tỉnh Sơn La) và huyện Điện Biên Đông; phía Bắc giáp huyện MườngChà, huyện Tủa Chùa
Huyện Tuần Giáo có diện tích tự nhiên 157.949,80 ha, trong đó diện tíchđất nông nghiệp là 93.836,96 ha (đất sản xuất nông nghiệp 38.460,08 ha; đấtlâm nghiệp 55.126,65 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản 250,23 ha); đất phi nôngnghiệp 2.410,58 ha; còn lại là đất chưa sử dụng 19.181,02 ha.Địa hình huyện Tuần Giáo hiểm trở và đa dạng Khu vực núi non của huyệnchạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, sườn vách sừng sững như toà thànhthiên nhiên với 70% diện tích là các dãy núi cao từ 800 m trở lên, còn lại làcác dãy có độ cao 500 - 700 m, độ dốc trung bình 120-200 Dãy Pú HuổiLuông (xã Nà Sáy) cao 2.179m so với mặt nước biển, dãy Pơ Mu (xã TênhPhông) cao 1.848 m
Khí hậu Tuần Giáo thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa miền Bắc ViệtNam Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam (gió Lào) khô và nóng,