1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích quan điểm hồ chí minh về tính tất yếu của việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở việt nam liên hệ thực tiễn với việt nam hiện nay

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về tính tất yếu của việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn P. ThS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập môn
Năm xuất bản 2017 - 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 53,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Họ và tên SV Trần Tùng Mã SV 11165773 Lớp tín chỉ Tư tưởng Hồ Chí Minh(117) 4 Năm học 2017 2018 ĐỀ BÀI Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP

MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Họ và tên SV: Trần Tùng

Mã SV: 11165773

Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh(117)_4

Năm học 2017 - 2018

Trang 2

ĐỀ BÀI: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về tính tất yếu của việc xây dựng xã hội Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam Liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay.

BÀI LÀM

1 Bối cảnh lịch sử - Con đường xác định quan điểm xây dựng xã hội Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam.

Giữa thế kỉ XIX, đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân phải chịu cảnh nô

lệ, lầm than, vừa bị đế quốc vừa bị phong kiến áp bức bóc lột Nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo trong phong trào Cần Vương đã nổ ra (Khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng, Yên Thế của Hoàng Hoa Thám,…), nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu Sau đó là các phong trào yêu nước như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, v.v…, đều bị thất bại Con đường cứu nước rơi vào bế tắc

về đường lối

Trong bối cảnh đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra

đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Trên cuộc hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển, Người đã có cơ hội được nghiên cứu về các cuộc cách mạng tư sản Âu – Mỹ và các thể chế chính trị - xã hội đương thời Người rút ra kết luận rằng các cuộc cách mạng tư sản là các cuộc “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”1 , “nó chỉ mang quyền lợi cho một số ít người”2 Theo quan điểm của Người: “Chúng ta đã

hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi

hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”3

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Bằng trí tuệ, phẩm chất, nhân cách và năng lực hoạt động thực tiễn của mình, từ chủ nghĩa yêu nước, chủ tích Hồ Chí Minh đã đi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin Khi đọc bản Sơ thảo luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã vui mừng đến

1 ,2,3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr.274, 274, 270

Trang 3

phát khóc lên, ngồi trong phòng mà Người nói to như đang đứng trươc đồng bào của mình: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” Từ

sự phân tích, nhìn nhận một cách khách quan, khoa học, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”1 Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đưa Cách mạng Việt Nam theo con đường của Cánh mạng Tháng Mười Nga, theo quỹ đạo của cách mạng vô sản Đây là bước chuyển vô cùng quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, bởi nó chấm dứt sự khủng hoảng về đuờng lối, mở ra hướng đi mới cho lịch sử dân tộc

Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”2 Bởi chỉ có gắn bó mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản phù hợp với xu thế phát triển của thời đại thì mới huy động được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước

và sức mạnh quốc tế để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, mới đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc, dân chủ, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, đã được chính thức khẳng định trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta năm 1930: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”3 Tư tưởng của Người đã đặt nền móng xây dựng đường lối và tạo nên chiến thắng vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong suốt thời gian qua

2 Tính tất yếu của việc xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

Thời kỳ 1920 – 1945

Trong tác phẩm “Con đường dẫ tôi đến với chủ nghĩa Lênin (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba Từng bước một, trong cuộc

11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr220

2 Sđd, t.12, tr 305

3 Sđd, t.3, tr.1

Trang 4

đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”1 Vậy là sau khi đọc Luận cương của Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành quan điểm: cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam muốn thắng lợi thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ:

“… tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư bản dân quyền C.M và thổ địa C.M để đi tới xã hội cộng sản”2 Như vậy, theo Người, mục tiêu cao nhất của con đường cách mạng vô sản là “đi tới xã hội cộng sản”. 

Thời kỳ 1945 – 1954

Thành quả của Cách mạng Tháng Tám là tuyên bố sự ra đời của chế độ xã hội mới – chế độ dân chủ nhân dân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, song đó là chế độ xã hội hướng tới xã hội chủ nghĩa, hay nói cách khác, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ ra đời từ chế độ dân chủ nhân dân. 

Năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, xong đây là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng chủ nghĩa nhân dân Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời và tồn tại hiện thực Với chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: 

Thứ nhất, mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam là “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” Thứ hai, ở Việt Nam, những mầm mống của chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa sẽ nảy sinh và phát triển trong lòng chế độ dân chủ nhân dân. 

1 Hồ Chí Minh: Sđd, t.12 tr.563

2 Hồ Chí Minh: Sđd, t.3 tr.1-2

Trang 5

Theo Người, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa

là bước chuyển về chất, và chuyển dần dần, “không thể một sớm một chiều”1

Như vậy, quan hệ của chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa trong

tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa hai giai đoạn trong quá trình vận động của xã hội Chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chế độ dân chủ nhân dân Đây là sự vận động, phát triển đặc thù của xã hội Việt Nam, vừa phù hợp, vừa không hoàn toàn trùng khớp với lôgic vận động chung của lịch sử toàn nhân loại

Về con đường quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”2 Tiến thẳng hiểu theo nghĩa là không phải “kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, song để tiến tới chủ nghĩa xã hội, chúng ta nhất định phải “kinh qua” một thời kỳ phát triển, đó là chế độ dân chủ nhân dân Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là quá trình từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà còn là quá trình từng bước các mầm mống của chủ nghĩa xã hội phát triển Rõ ràng, đối với Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là một tất yếu lịch sử trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thời kỳ 1954 – 1969

Sau năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ khi kháng chiến thắng lợi và hòa bình lập lại, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng dưới chế độ dân chủ nhân dân, đã bước vào thời kỳ quá

độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”3 Đây là thời kỳ Người trực tiếp bàn nhiều về vấn đề quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một tất yếu Tính tất yếu của việc lựa chọn định hướng

xã hội chủ nghĩa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh luận giải trên mấy phương diện sau:

1 Hồ Chí Minh: Sđd, t.10 tr258

2 Hồ Chí Minh: Sđd, t.12 tr.411

3 Hồ Chí Minh: Sđd, t.12 tr.367

Trang 6

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là tương lai của xã hội loài người Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”1; 

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tích cực, là nhân sinh quan của chủ thể hành động - những người cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang Trừ những bọn phản động quá sá, thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản”2;

Thứ ba, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành xu thế phát triển của lịch sử không thể đảo ngược Chủ tịch

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả năng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”3. 

Trên cơ sở nhận thức quy luật chung của lịch sử nhân loại và đặc điểm riêng của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau

Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta”4

Về thời kỳ quá độ, Người nói: “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là

cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và

1 Hồ Chí Minh: Sđd, t.12 tr.601-602

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8 Nxb Chính trị quốc gia H, 2011 Tr.294

3 Hồ Chí Minh: Sđd, t.14 tr.374-379

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8 Nxb Chính trị quốc gia H, 2011 Tr.293

Trang 7

cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng”5

3 Liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay.

Thế giới và Việt Nam trong thời điểm hiện nay

Ngày nay, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, thay đổi khó lường Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn Nhưng xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, khủng

bố quốc tế, xung đột dân tộc, tôn giáo vẫn diễn ra ở nhiều nơi Cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa tạo cơ hội cho các nuớc phát triển, nhưng cạnh tranh, tranh giành thị truờng, các nguồn nguyên liệu, năng lượng, nguồn lực khoa học công nghệ giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh tế diễn ra quyết liệt, đặt các quốc gia, nhất là các nước đang và kém phát trển trước những thách thức gay gắt Ở trong nước, bên cạnh thững thuận lợi cơ bản do những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đã giành được trong sự nghiệp đổi mới làm tăng thế và lực, uy tín quốc tế của đất nước, chúng ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn Chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Các cân đối kinh tế lớn, ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc Một số lĩnh vực xã hội còn có những mặt yếu kém như giáo dục, đào tạo, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, quản lý các hoạt động văn hóa, bảo đảm trật tự an toàn xã hội,

an toàn giao thông; tệ tham nhũng, lãng phí chậm được khắc phục, gây bức xúc trong nhân dân Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hết sức quyết liệt, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc: tuyên truyền vu cáo, xuyên tạc, đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”, âm mưu gây bạo loạn, bất

ổn chính trị Thêm vào đó, mặt trái của cơ chế thị truờng tác động làm suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của không ít cán bộ, đảng viên làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ

Trong bối cảnh đó, Đảng ta, nhân dân ta khẳng định kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, mục tiêu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn và được

5 Hồ Chí Minh: Sđd, t.11 tr.238

Trang 8

lịch sử phát triển của dân tộc ta gần một thế kỷ qua chứng minh rằng: chỉ có con đường xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho dân tộc ta có nền độc lập thật sự, đất nước ta phát triển ổn định, phồn vinh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, trong hoàn cảnh mới, Đảng ta tiếp tục tìm tòi, ngày càng làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, được khẳng định trong Cương lĩnh và văn kiện các đại hội của Đảng, là xã hội dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con nguời có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vì dân, do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới

Các con số ấn tượng

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất-kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển

So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Về tăng trưởng kinh tế, trong suốt 30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990)

Trang 9

với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua gần 20 năm với mức tăng trưởng rất ấn tượng

Giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân tăng 8,2%/năm gấp đôi so với 5 năm trước đó; giai đoạn 5 năm tiếp theo 1996-2000, mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997-1999), GDP vẫn duy trì bình quân tăng 7,6%/ năm; giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,34%; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm

Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới Quy mô nền kinh tế tăng nhanh

Năm 2003, sau 16 năm đổi mới, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam mới chỉ đạt 471 USD/năm thì đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD

Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng nếu ở giai đoạn

2001-2005 chỉ đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2% thì trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt 28,94% Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát

Những nỗ lực đổi mới trong 30 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu

Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có cải thiện đáng kể

Kim ngạch xuất khẩu thường xuyên tăng với tốc độ hai con số, giai đoạn

2011-2015 tăng đến 18%/năm Xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng sản

Trang 10

phẩm công nghiệp và giảm dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, giảm dần sản phẩm nguyên liệu thô Đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp

Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục, tốc độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và chất lượng, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao

Khu vực nông nghiệp phát triển khá ổn định; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển biến quan trọng, từ lúc cả nuớc còn thiếu ăn nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an ninh lương thực quốc tế; xuất khẩu càphê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới

Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường gắn với yêu cầu phát triển bền vững đã được quan tâm và đem lại kết quả bước đầu Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y tế Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, đã tạo những tiền đề để bước đầu chuyển sang xây dựng kinh tế tri thức

Qua 30 năm đổi mới, đất nước cũng đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Dưới

sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã

Ngày đăng: 06/03/2023, 15:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w