1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quan điểm hồ chí minh về việc xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần giá trị, ý nghĩa đối với việt nam ngày nay

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu và tính

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP LỚN:

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI:

Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần Giá trị, ý nghĩa đối với Việt Nam ngày nay.

Họ và tên SV: Lưu Thị Kim Anh Lớp: Kinh tế phát triển CLC 60

Mã SV: 11180219

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG 3

I Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần 3

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH 3

1.1 Quan điểm của C.Mác 3

1.2 Luận điểm của Lênin 3

II Quan niệm về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh 4

1 Tính tất yếu xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần khi lên CNXH ở Việt Nam 4

2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần 5

III Giá trị, ý nghĩa đối với Việt Nam ngày nay 8

1 Thực tiễn 8

2 Giá trị, ý nghĩa 9

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

NỘI DUNG

I Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH 1.1 Quan điểm của C.Mác

Trong lý luận về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác cho thấy sự biến đổi của các xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên và khi vận dụng quy luật đó vào phân tích xã hội tư bản thì C.Mác và Ăngghen đều cho rằng: Phương thức sản xuất TBCN có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất yếu bị thay thế bằng xã hội mới –

xã hội cộng sản chủ nghĩa

C.Mác và Ăngghen dự báo những nét lớn về đặc trưng cơ bản của xã hội mới đó là:

+ Có lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao

+ Chế độ tư hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu

+ Nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn

xã hội

+ Sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội

+ Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí thức và lao động chân tay bị xóa bỏ…

Tuy nhiên để xây dựng xã hội mới với những đặc trưng trên cần trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp (giai đoạn đầu) và giai đoạn cao (giai đoạn sau) Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản

1.2 Luận điểm của Lênin

Vận dụng học thuyết của C.Mác vào công cuộc xây dựng CNXH ở Liên

Xô trước đây, Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH với nội dung như sau:

Trang 4

+ Thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào đi lên CNXH đều phải trải qua kể cả các nước có nền kinh tế rất phát triển

+ Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi một cách sâu sắc

Theo Lênin, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự xen kẽ của “những yếu tố, những bộ phận nhỏ, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội” Dựa trên những tư tưởng của C.Mác và Ăngghen về CNXH sau Cách mạng tháng 10/1917, Lênin đã vận dụng vào xây dựng CNXH thông qua hai mô hình:

mô hình chính sách cộng sản thời chiến và mô hình chính sách kinh tế mới Và

mô hình chính sách kinh tế mới của Lênin là sự đổi mới cả về phương diện lý luận và chỉ đạo thực tiễn Điều đó được thể hiện rõ ở nội dung trong đó có nội dung quan trọng về sở hữu và các thành phần kinh tế Theo V.I.Lênin, đối với các nước kinh tế kém phát triển đi lên CNXH thì không thể xóa bỏ ngay các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế, phải sử dụng ngay cả sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa để xây dựng CNXH Trong chính sách kinh tế mới của Lênin chủ trương không nôn nóng xóa bỏ các thành phần kinh tế, không trực tiếp chuyển sang nền kinh tế XHCN ngay được mà phải có một thời kỳ quá độ tương ứng với

nó là sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế

II Quan niệm về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh

1 Tính tất yếu xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần khi lên CNXH ở Việt Nam

Hồ Chí Minh luôn coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “cẩm nang thần kỳ” vì vậy học thuyết Mác xít đặc biệt là chính sách kinh tế mới của Lênin luôn được Người quan tâm, tiếp thu và vận dụng vào chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trang 5

Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần không chỉ là tất yếu khách quan

mà còn là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển LLSX xã hội vì:

+ Nâng cao hiệu quả, thúc đẩy kinh tế; tăng năng suất lao động do tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau của LLSX

+ Tạo tiền đề đẩy mạnh cạnh tranh, khắc phục tình trạng độc quyền… do sự đa dạng, phong phú các chủ thể kinh tế

+ Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước Đó là những “cầu nối”, “trạm trung gian” cần thiết để đưa đất nước ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN + Là một trong những nội dung cơ bản của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta…

2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh đã chỉ

ra rằng: Con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có thể khác với Liên Xô Người viết: “Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô

Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta…”

Để đi lên chủ nghĩa xã hội, nước ta cần phải trải qua giai đoạn dân chủ

mới, bởi vì “… đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông

nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” Chính điểm xuất phát thấp này đã quy định tính chất phức tạp của kết cấu kinh tế – xã hội và sự tồn tại đồng thời của các thành phần kinh tế khác nhau Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và chỉ ra các loại hình kinh

tế, các hình thức sở hữu khác biệt nhưng được cố kết lại thành một chỉnh thể kinh tế – xã hội quá độ trong quá trình vận động Đặc biệt, khi sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau vẫn còn là một tất yếu khách quan và có vai trò

Trang 6

nhất định đối với sự phát triển của nền kinh tế thì cần phải tiếp tục sử dụng, phát triển chúng theo định hướng XHCN Người cho rằng: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm thành phần kinh tế khác nhau:

+ Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân)

+ Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội) + Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác

xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội)

+ Tư bản của tư nhân

+ Tư bản của Nhà nước (…)

Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả, cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”

Năm thành phần kinh tế nêu trên tồn tại khách quan trong suốt thời kỳ quá

độ Do đó, chúng ta cần phải sử dụng chúng một cách triệt để nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội, mà không sợ khuynh hướng phát triển tự phát theo CNTB của các thành phần kinh tế phi XHCN Chúng ta cần có những ưu tiên đúng mức đối với thành phần kinh tế quốc doanh để nó phát triển và trở thành thành phần kinh tế chủ đạo, đủ sức hướng dẫn các thành phần kinh tế khác vận động và phát triển theo định hướng XHCN Kinh tế quốc doanh cũng nằm trong quá trình vận động theo các tầng nấc từ thấp đến cao, tương ứng với trình độ phát triển của LLSX và quy mô xã hội hóa của nền sản xuất xã hội

Trong rất nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến việc thành lập các tổ chức hợp tác xã từ trình độ thấp đến trình độ cao Người coi đây là cách thức tổ chức thích hợp với điều kiện một nước mà lực lượng lao động xã hội phần lớn là nông dân và hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp như nước ta Người đã nhấn mạnh rằng: Tất cả đường lối,

Trang 7

phương châm, chính sách của Đảng đều nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của nông dân nói riêng Muốn đạt mục đích đó thì nhất định phải củng cố và phát triển hợp tác xã cho thật tốt, phải không ngừng nâng cao thu nhập của xã viên

Từ sau năm 1945, đặc biệt là trong thời kỳ khôi phục kinh tế ở miền Bắc, những tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng vào thực tiễn một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo Có thể nói, trong suốt giai đoạn từ năm 1955 đến 1960, miền Bắc thực sự bước vào “thời kỳ vàng son“ của quá trình khôi phục và phát triển kinh tế Những thành tựu kinh tế thu được trong thời kỳ đó là toàn diện và vững chắc; chất lượng, tốc độ và năng suất lao động đều vượt xa so với trước chiến tranh (năm 1939) và mấy thập kỷ sau đó Đó chính là thắng lợi của đường lối phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH Nó trở thành nguồn động lực to lớn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, tạo cơ sở vật chất làm nền tảng cho quá trình xây dựng CNXH ở nước ta Sau thời kỳ khôi phục và cải tạo XHCN, cuối tháng 12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc Điều cần lưu ý là miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt: đất nước còn đang có chiến tranh, ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều khá mạnh khi hầu hết các nước thuộc hệ thống XHCN đều áp dụng nguyên bản mô hình xây dựng CNXH kiểu Liên Xô… Trong điều kiện phức tạp như vậy, để bảo đảm xây dựng thắng lợi CNXH ở miền Bắc, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chủ động và sáng suốt vạch ra một đường lối phát triển kinh tế độc đáo, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam Người chỉ rõ:

“Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau:

+ Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân

Trang 8

+ Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.

+ Sở hữu của người lao động riêng lẻ

+ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản

Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ các hình thức không XHCN, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể “

Theo quan điểm của Người, việc cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, đưa người lao động vào con đường làm ăn tập thể nhằm xóa bỏ lối sản xuất manh mún, ít hiệu quả và xóa bỏ mọi hình thức bóc lột đối với người lao động không thể tiến hành một cách nóng vội, mà phải tuân thủ các nguyên tắc: từng bước, vững chắc và hoàn toàn tự nguyện; phải quán triệt phương châm cải tạo để sử dụng và sử dụng để cải tạo Bất cứ một hình thức tổ chức sản xuất nào cũng phải hướng đến mục tiêu cao nhất là phát triển sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm lợi ích của các thành phần kinh tế cũng như của người lao động Đặc biệt, các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể cần phải chứng tỏ bằng thực tế sự ưu việt, tính hơn hẳn của mình so với nền kinh tế cá thể Sự chỉ đạo có tính nguyên tắc đó đã thể hiện tư duy kinh tế sắc bén của Người Đáng tiếc là, trong quá trình xây dựng CNXH, có những lúc việc cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế nói chung và sử dụng các thành phần kinh tế nói riêng vẫn còn được tiến hành một cách máy móc, rập khuôn theo kinh nghiệm của nước ngoài Vì thế, những tư tưởng đúng đắn của

Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ chưa được nhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn

III Giá trị, ý nghĩa đối với Việt Nam ngày nay

1 Thực tiễn

Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế

Trang 9

thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI và ngày càng được hoàn thiện Hai mươi năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên CNXH Đây là một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam

Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao Sự tăng lên của sức mạnh tổng hợp quốc gia đã tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng: sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém, nhiều vấn đề

xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt Xây dựng XHCN là một quá trình, là một mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập, tạo ra những điều kiện, tiền đề của CNXH đồng thời tránh nguy cơ chệch hướng Với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại thì phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp

2 Giá trị, ý nghĩa

Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là sản phẩm của quá trình Đảng và nhân dân ta nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước đổi mới, trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại ở nước ta trong một thời gian tương đối dài Việc cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN được thực

Trang 10

hiện một cách gò ép, không xem xét, căn cứ vào trình độ phát triển của LLSX Những sai lầm này tất yếu dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX Trước tình hình đó, để tìm ra con đường, bước đi phù hợp tiến lên CNXH đòi hỏi Đảng

ta phải có những thay đổi lớn trong cả nhận thức và hành động

Tại Đại hội VI, khi đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta chủ trương

đa dạng hoá các loại hình sở hữu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Đây là bước tiến quan trọng về tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn Đảng không chỉ thừa nhận sự tồn tại như một tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ, mà còn nhận thấy sự cần thiết phải

có chính sách đúng đắn nhằm sử dụng và phát triển các thành phần kinh tế, trong

đó có kinh tế tư nhân nhằm thực hiện những mục tiêu của CNXH Cùng với sự vận động của thực tiễn và sự phát triển của nhận thức, lý luận về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X Tại Đại hội

X, Đảng ta xác định cơ cấu nền kinh tế nước ta gồm 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Điểm mới ở đây là đã gộp kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân thành thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời khẳng định đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân Văn kiện Đại hội X cũng khẳng định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta và chúng bình đẳng với nhau Điều này có tác dụng tích cực tạo sự yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế phi nhà nước

Sự phát triển không đồng đều của LLSX, tính kế thừa trong phát triển cũng như đặc điểm cụ thể của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, quy định sự tồn tại đa dạng, đan xen của các hình thức sở hữu và tương ứng với đó là

Ngày đăng: 10/04/2022, 15:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w