1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Triết mác lý luận về tính phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phân tích tính tất yếu của việc đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam hiện nay

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính tất yếu của việc đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Ngô Hải Sơn
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 166,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI Lý luận về tính phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Phân tích tính tất yếu của việc đẩy mạnh phát tri[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

LÝ LUẬN VỀ TÍNH PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH

ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH

TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Tác giả : NGÔ HẢI SƠN

Mã học viên : CH260162

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Trang 2

I Lý luận về tính phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển. 

Nói cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế. 

I.1 Khái niệm về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

a) Phương thức sản xuất:

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở nhưng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Sự thay thế

kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

Trong sản xuất, con người có “quan hệ song trùng”: một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, biểu hiện ở lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

b) Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp sức lao độn của mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình

Vậy, lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”1 Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và

kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất

Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, nó “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất Công cụ lao động là

1 V.I.Lenin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1977, t.38, tr.430.

Trang 3

yếu tô động nhất của lực lượng sản suất Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động

đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đó trình

độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử

Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn

Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành

“lực lượng sản xuất trực tiếp” Sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn chỉ là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại

Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định Tổng thể các nhân tố đó gọi là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động

để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là yếu

tố quan trọng nhất linh hoạt nhất Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá, được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lượng sản xuất Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Tuy nhiên LêNin viết:  “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” có thể coi yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất. 

Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại

c) Khái niệm về quan hệ sản xuất:

Trang 4

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra

Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội. 

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan

hệ sở hữu tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác. 

Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt: 

- Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – biểu hiện thành chế độ sở hữu Trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác

Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình

mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp

đỡ nhau Ngược lại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc

về một số ít người các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng. 

- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức

có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội. 

- Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm

Trang 5

lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội

I.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 

a) Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: 

- Tính chất:

Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất và lao động Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá

- Trình độ của lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phương thức sản xuất: Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở:  Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao động. 

Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau 

b) Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng

độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài. 

Sự biến đổi của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân: 

 Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng lên. 

 Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. 

 Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất được. 

Trang 6

Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân mà phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp Những quan hệ sản xuất cũ và hiện

có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như  CácMác

đã nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội” Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất

Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn được phát hiện

mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất

Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của lực lượng sản xuất

mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa chúng có sự phù hợp Đôi khi sự phát triển chệch hướng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải

do tính chất đặc thù của quy luật đó. 

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất  bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất , nó là yếu tố quyết định là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bước

đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất. 

Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội  quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Do đó nó tạo

ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động. 

II Khái quát quá trình vận dụng lý luận nêu trên vào thực tiễn Việt Nam:

(thời kỳ trước, sau đổi mới)

Trang 7

Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm 80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

II.1 Thời kì trước đổi mới (trước 1986):

Trước thời kì đổi mới nước ta nước ta có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện cụ thể:

- Nước ta đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ào ạt,

trong khi đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển lực lượng sản xuất (vi phạm tính lịch sử cụ thể)

- Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo quan hệ

sản xuất, chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển (đi ngược lại với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với phát triển của lực lượng sản xuất)

Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất và cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường, thúc đẩy lực lượng sản xuất cùng phát triển Việc áp dụng quan niệm ấy là hoàn toàn sai lầm, minh chứng cho điều đó là lực lượng sản xuất trong thời gian qua thấp kém, quan hệ sản xuất được duy trì ở trình độ quá cao Từ đó làm mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta Mâu thuẫn đó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nước nhà: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, ngân sách thiếu hụt, giá

cả hàng năm tăng 20%, nhập khẩu chiếm 4-5 phần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng,…

Qua đó, ta có thể thấy một thực tế của việc làm trái quy luật đã gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước là rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Như vậy, quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất lực lượng sản xuất

II.2 Thời kỳ sau đổi mới

- Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm: Nền kinh tế phát

triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu đề ra Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngoài Hệ thống tài chính-ngân hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ cấu đầu

tư chưa hợp lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều Nhịp độ thu hút đầu tư

Trang 8

trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót Quan hệ một số mặt chưa phù hợp Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới

và phát triển doanh nghiệp nhà nước

Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết Tỷ lệ thất nghiệp

ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản  chủ nghĩa, nhà nước ta đã không thấy rõ bước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển điều đó có nghĩa là đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để  khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Những chính sách mới của Đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà

Để làm rõ hơn về nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này Tại đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã nhận định:"…Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất ( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Nxb Sự thật, HN, 1987, tr.57) Trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội phải kể đến yếu tố chủ quan của việc Đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nước vốn có của

họ Tuy nhiên, theo nhận định trên của Đảng, ta thấy rằng, không thể cho rằng những yếu

tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề sự thúc đẩy phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian chuẩn bị vào những năm đầu bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của Đảng Tại thời điểm đó nền sản xuất nông nghiệp không ổn định,

Trang 9

nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói kém Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn Mâu thuẫn đó thể hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất  theo hướng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu phân tán Theo một số nhà nhận định, đây là mâu thuẫn vốn có và mâu thuẫn là phổ biến trong các nền sản xuất Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến trình độ cao thì tự bản thân chế độ tư hữu nhỏ không thể nào tồn tại như cũ, nó buộc phải thay đổi Nhìn lại quá trình chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây Đảng ta đã rút ra được sự cần thiết của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: "Cần phải nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết

Công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp trên từng địa bàn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 32) Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trước hết sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế trong khu vực và trên thế giới Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới

do Đảng đề ra, đời sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân cũng khá hơn trước

III Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân

Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1 Quan điểm chỉ đạo của Ban Chấp hành như sau:

- Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách

quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển

- Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế nhà nước,

kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển

Trang 10

nhanh lành mạnh và đúng định hướng Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng,

chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”,

thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính

- Kinh tế tư nhận được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không

cấm Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước có

đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu

- Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh

nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhận với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo ra sự lan tỏa rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ

- Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực tự

cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân

2 Mục tiêu tổng quát:

Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

3 Mục tiêu cụ thể:

- Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân.

Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền

kinh tế Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 -65%

- Bình quân giai đoạn 2016 - 2025, năng suất lao động tăng khoảng 4 - 5%/năm Thu

hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân so với nhóm dẫn đầu ASEAN-4; nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu

Ngày đăng: 06/03/2023, 15:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w