1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kinh tế trang trại ở việt nam hiện nay và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở việt nam hiện nay

19 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Kinh Tế Trang Trại Ở Việt Nam Hiện Nay Và Giải Pháp Chủ Yếu Để Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 39,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục A Mở đầu B Nội dung I Cơ sở lý thuyết II Thực trạng Kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay III Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay C Kết luận A Mở đầu Nông n[.]

Trang 1

Mục lục

A Mở đầu

B Nội dung

I Cơ sở lý thuyết

II Thực trạng Kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay

III Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện

nay

C Kết luận

Trang 2

A Mở đầu

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản xuất hàng hoá Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau Cho đến nay qua thử thách của thực tiễn, một số nơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ

ra hiệu quả Trong khi đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới So với nền kinh tế tiểu nông thì kinh

tế trang trại là một bước phát triển của kinh tế hàng hoá Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại là một quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu, mang tính sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá có quy mô từ nhỏ tới lớn

Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay của nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thân canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lướn khối lượng nông sản đước ản xuất, dáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác

nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của người lao động trong các trang trại Kinh tế trang trại đã đem lại thi nhập cho nhiều gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhiều hộ nông dân Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa

Trang 3

B Nội dung

I Cơ sở lý thuyết

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp, có mục đích sản xuất chủ yếu là sản xuất hàng hóa; tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng thuộc chủ thể độc lập, quy mô sản xuất tương đối lớn, tổ chức quản lí tiến bộ, trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ gắn với thị trường

Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hóa, phát sinh và phát triển trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cung tư cấp  Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hóa xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc ngành nông, lâm, ngư nghiệp ở cac vùng kinh tế khác nhau  

Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kì công nghiệp hóa Quá trình hình thành

và phát triển gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đến cao Thời kì bắt đầu công nghiệp hóa kinh tế trang trại với tỉ trọng còn thấp, quy mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hóa phục vụ công nghiệp hóa Thời kì công nghiệp hóa đạt trình độ kinh tế trang trại với tỉ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hóa cũng ngư hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hóa  

Kinh tế trang trại phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hóa trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế,

là một tất yếu khách quan của nền kinh tế công nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa  

Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới

có tính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuát hàng hóa thời kì công nghiệp hóa ở các ngành sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp ở các vùng kinh tế nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hóa khác nhau

Vai trò của trang trại là khai thác nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển nông nghiệp – nông thôn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy công nghiệp – dịch vụ ở nông thôn Về xã hội, trang trại làm tăng hộ giàu ở nông

Trang 4

thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển

Phát triển kinh tế trang trại trang trại có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân và có tác động lớn về kinh tế, xã hội và môi trường Vì nó là hình thức

tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hóa Vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội Trang trại là tế bào quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện

sự phân công lao động xã hội trong điều kiện nước ta chuyển từ sản xuất tự cấp

tự túc sang sản xuất hàng hóa

Có nhiều tiêu chí để nhận diện kinh tế trang trại Thông tư 69 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục thống kê đưa ra hai tiêu chí: Một là, giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm của trang trại (Miền Bắc có quy mô 40 triệu đồng và Miền Nam 50 triệu đồng trở lên) Hai là, quy

mô sản xuất của trang trại phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế hộ nông dân tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

Các đặc trưng của kinh tế trang trại bao gồm sản xuất hàng xóa cho thị trường; tư liệu sản xuất của chủ trang trại hoặc đi thuê; quy mô sản xuất đủ lớn theo yêu cầu sản xuất hàng hóa; cách thức tổ chức tiên tiến, thực hiện hạch toán kinh doanh; chủ trang trại là người có ý chí, năng lực tổ chức, có hiểu biết về kinh doanh và kinh tế thị trường

Ngay khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nước công nghiệp hóa Tây Âu, Các Mác đã là người đầu tiên đưa ra nhận xét chỉ rõ đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại khác với kinh tế tiểu nông Người chủ trang trại sản xuất

và bán tất cả các sản phẩm của họ làm ra và mua vào tất cả kể cả thóc giống, còn người tiểu nông sản xuất và tự tiêu thị hầy hết các sản phẩm làm ra mua, bán càng ít càng tốt, cho đến nay trải qua hàng thế kỷ phát triển

Điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại là có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước; có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để taaoj trung ruộng đất; có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến; có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, thủy lợi; có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên mô hóa; có sự phát triển nhất định của các hình thức liến kết kinh tế trong nông nghiệp; có môi trường pháp lý thuận lợi cho trang trại ra đời và phát triển; chủ trang trại phải là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông; chủ trang trại phải có sự tích lũy nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh; có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền

Trang 5

vốn; quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh

Xu hướng phát triển kinh tế trang trại gồm khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế trang trại, nhưng đặc biệt quan tâm đến hình thức trang trại gia đình; khuyến khích mọi hình thức kinh doanh của trang trại, tập trung phát triển các lâm trại, các trang trại cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc

ở các vùng trung du và miền núi Đối với vùng đồng bằng, khuyến khích các trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến Đối với vùng ven biển, khuyến khích các trang trại nuôi trồng thuỷ, hải sản; khuyến khích các hình thức trang trại tư nhân phát triển ở các vùng đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá ở trung du, miền núi và vùng ven biển

II Thực trạng kinh tế trang trại của Việt Nam hiện nay

Thực tế cho thấy, kinh tế trang trại góp phần tạo việc làm ổn định với thu nhập khá cho nhiều lao động nông thôn; góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Quan trọng hơn, kinh tế trang trại đã làm thay đổi tư duy phát triển kinh tế của một bộ phận nông dân, giúp chủ động và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng thị trường… từ đó hình thành một lực lượng lao động mới năng động hơn trong nông nghiệp

Bên cạnh đó, phát triển kinh tế trang trại tập trung bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh tạo nền tảng cho sản xuất nông nghiệp bền vững tốt hơn Phát triển kinh tế trang trại với các khu trang trại tập trung không những tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng tốt mà còn tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Tổ chức quản lý tốt chất thải và nguồn thải nông nghiệp là điều kiện giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong nông thôn, bảo đảm sức khỏe cho người sản xuất và sức khỏe cho cả cộng đồng Đây

là một trong những biện pháp giải quyết tiêu chí về môi trường đang đặt ra trong xây dựng nông thôn mới hiện nay

Bởi thế, để tạo điều kiện cho người dân phát triển các mô hình trang trại, gia trại, thời gian qua, các cấp, ngành quan tâm, hỗ trợ và đưa ra nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khuyến khích nông dân đầu tư, mở rộng sản xuất

Đến nay, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có 29.600 trang trại, trong đó có 29,83% trang trại tổng hợp, 37,2% trang trại chăn nuôi, 17,86% trang trại thủy sản, 13,66% trang trại tổng hợp và 1,46% trang trại lâm nghiệp Các mô hình trang trại được phân bố đều khắp trong các vùng sinh thái, và đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần

Trang 6

kinh tế tham gia Đã có nhiều mô hình trang trại phát huy được lợi thế, mang lại hiệu quả kinh tế cao, doanh thu từ 1 – 3 tỷ đồng/năm; thậm chí một số mô hình cho doanh thu từ 5 – 10 tỷ đồng/năm, khẳng định kinh tế trang trại là một trong những loại hình mũi nhọn trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

Đơn cử như tại Hưng Yên, toàn tỉnh hiện có 865 mô hình kinh tế trang trại, tổng giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 2.158,2 tỷ đồng, bình quân mỗi trang trại đạt 2,5 tỷ đồng Điển hình như trang trại chăn nuôi lợn của ông Nguyễn Hữu Cơ (xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ), doanh thu 21,9 tỷ đồng/năm, lãi 5,8 tỷ đồng/năm; trang trại trồng trọt của ông Hoàng Hữu Quốc (Tiên Tiến, Phù Cừ) doanh thu 5

tỷ đồng/năm, lãi 1 tỷ đồng/năm; trang trại chăn nuôi lợn của ông Đỗ Văn Chuyên, thị trấn Yên Mỹ (Yên Mỹ) với diện tích 3,77ha, doanh thu 2,2 tỷ đồng/năm

Tại Bắc Giang, tính đến tháng 4/2017, trên địa bàn đã có 778 trang trại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tăng 8 trang trại so với năm 2016, trong đó số trang trại được cấp giấy chứng nhận là 671 trang trại, chiếm 86,2% Tổng diện tích đất trang trại sử dụng là 1.771ha, tổng số lao động làm việc tại trang trại là 3.850 người Giá trị sản xuất thu được từ loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đạt 1.540 tỷ đồng

Hay như Hà Nội có hơn 1.320 trang trại với gần 700 trang trại có thu nhập

từ 1-3 tỷ đồng/năm…

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kết quả đạt được, kinh tế trang trại cũng đang bộc lộ những hạn chế, bất cập Công tác quy hoạch sản xuất chưa rõ nét nên các sản phẩm manh mún, chất lượng không đồng đều dẫn đến khó phát triển công nghiệp chế biến Tình trạng được mùa, mất giá, hoặc sản phẩm đến

kỳ thu hoạch không tiêu thụ được vẫn xảy ra Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, việc áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế Công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch lạc hậu, làm cho sản phẩm của nông dân luôn chịu sức ép về tính thời vụ, giảm sức cạnh tranh trên thị trường

Ở một số địa phương, phát triển kinh tế trang trại mang tính tự phát, không

có và không theo quy hoạch Vẫn còn những trang trại giống như vườn tạp, chỉ

là mô hình VAC hoặc VAC cải tiến; Nhu cầu sử dụng, tích tụ đất cho trang trại tăng cao nhưng việc giao đất, cho thuê đất, đấu thầu đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại thực hiện chậm, thời hạn thuê, đấu thầu đất còn ngắn và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến các chủ trang trại chưa yên tâm đầu tư vào sản xuất; Chất lượng sản phẩm chưa cao, sản

Trang 7

phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến, vệ sinh

an toàn thực phẩm chưa đảm bảo nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu; Nhiều trang trại thiếu vốn đầu tư, chưa đủ sức đầu tư theo chiều sâu, đầu tư không đồng bộ

Nhiều tổ chức tín dụng, ngân hàng chưa thực sự quan tâm, đánh giá đúng mức thị trường cho vay phát triển kinh tế trang trại, chưa tạo điều kiện cho các trang trại đầu tư phát triển lâu dài; Chi phí sản xuất của trang trại tăng nhanh do giá vật tư nông nghiệp đầu vào tăng mạnh nên hiệu quả sản xuất – kinh doanh thấp, bị thua lỗ Mặt khác do thời tiết khí hậu bất thường, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi liên tục xảy ra, làm nhiều trang trại bị thiệt hại và gặp nhiều khó khăn;

Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề lớn đối với các trang trại, nhất là những trang trại chăn nuôi, thủy sản năm gần khu dân cư do chất thải chưa được xử lý, gây khó khăn cho việc phòng chống dịch bệnh cho người và gia súc, gia cầm Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến giữa năm 2009, cả nước có khoảng 150.102 trang trại, bình quân mỗi tỉnh có 2.382 trang trại, chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng Từ năm 2000 đến 2009, mỗi năm tăng thêm khoảng 8.600 trang trại Những địa phương có nhiều quỹ đất nông, lâm nghiệp và diện tích  mặt nước chưa sử dụng, hay vùng kinh tế năng động, thì kinh tế trang trại phát triển nhanh

Hiện nay, có 47,2% trang trại trồng trọt nông nghiệp; 26,1% trang trại nuôi trồng thủy sản; 13,3% trang trại chăn nuôi; 0,7% trang trại lâm nghiệp và 9,7% trang trại sản xuất, kinh doanh tổng hợp Các loại hình trên có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và Nam Trung Bộ đã chuyển hàng ngàn ha lúa sang nuôi trồng thủy sản Ở những vùng sản xuất nguyên liệu gắn với khu công nghiệp chế biến, như mía đường, dứa… thì trang trại trồng trọt nông nghiệp vẫn

ổn định và phát triển.  

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế trang trại là 13,8% Năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 tỉ đồng, vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương,

Bà Rịa-Vũng Tàu có quy mô vốn bình quân hơn 500 triệu đồng Lợi nhuận bình quân từ kinh tế trang trại đạt gần 120 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần so với lợi nhuận bình quân của nông hộ Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10% Tỉ lệ hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại đã kết hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 8

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến giữa năm 2009, cả nước có khoảng 150.102 trang trại, bình quân mỗi tỉnh có 2.382 trang trại, chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm tăng thêm khoảng 8.600 trang trại Những địa phương có nhiều quỹ đất nông, lâm nghiệp và diện tích mặt nước chưa sử dụng, hay vùng kinh tế năng động, thì kinh tế trang trại phát triển nhanh Hiện nay, có 47,2% trang trại trồng trọt nông nghiệp; 26,1% trang trại nuôi trồng thủy sản; 13,3% trang trại chăn nuôi; 0,7% trang trại lâm nghiệp và 9,7% trang trại sản xuất, kinh doanh tổng hợp Các loại hình trên có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng nuôi trồng thủy sản

và chăn nuôi Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và Nam Trung

Bộ đã chuyển hàng ngàn ha lúa sang nuôi trồng thủy sản Ở những vùng sản xuất nguyên liệu gắn với khu công nghiệp chế biến, như mía đường, dứa… thì trang trại trồng trọt nông nghiệp vẫn ổn định và phát triển Trong 5 năm qua, tốc

độ tăng trưởng bình quân của kinh tế trang trại là 13,8% Năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 t ỉ đồng, vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu có quy mô vốn bình quân hơn 500 triệu đồng Lợi nhuận bình quân từ kinh tế trang trại đạt gần 120 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần so với lợi nhuận bình quân của nông hộ Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10% Tỉ lệ hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại đã kết hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao. 

Khai thác mặt nước và đất trống : Theo ông Trương Văn Quy, Phó cục trưởng cục Hợp tác nông thôn Việt Nam (khu vực phía Nam): “Kinh tế trang trại phát triển đã góp phần khai thác diện tích mặt nước, đất hoang hóa, đất ven sông, ven biển… đưa vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển” Trong kết quả điều tra năm 2002 của Cục Thống kê, các trang trại đã sử dụng 369.600 ha đất và mặt nước, bình quân diện tích sử dụng đất của một trang trại là 6,08ha Đến năm nay, diện tích đất và mặt nước mà các trang trại sử dụng đã đạt con số hơn 990.000ha (trong đó 49% trang trại sản xuất và kinh doanh tổng hợp; 29% chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản) Những năm vừa qua, nhiều chủ trang trại ở TP Hồ Chí Minh đã đầu tư mạnh vào các tỉnh như: Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai Hàng trăm ngàn ha đồi trọc, đất trống đã chuyển mình thành rừng cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, keo lai, vườn cây ăn trái,

hồ nuôi cá sấu, cá ba sa, tôm… Không chỉ diện tích đất trống, đồi trọc, mặt

Trang 9

nước để hoang phí, mà ngay cả diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả ở các địa phương cũng được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trở thành vùng đất sản xuất-kinh doanh hiệu quả Hiện nay, mặc dù tình hình suy giảm xuất-kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại, song diện tích đất hoang hóa vẫn đang được khai thác ngày càng nhiều hơn Các địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng, miền Đông Nam bộ vẫn là những nơi tận dụng đất đai, mặt nước để phát triển nhiều hơn cả Nếu như chính quyền các địa phương, các chủ trang trại đầu tư tốt trong khảo sát, xây dựng kế hoạch phát triển, thì sẽ khai hoang, phục hóa đất đai hiệu quả hơn

Thu hút vốn, tạo thêm việc làm: Từ khi có chính sách phát triển trang trại của Nhà nước, các chủ trang trại đã đầu tư một lượng vốn lớn để mở rộng, phát triển sản xuất - kinh doanh Năm 2007, bình quân mỗi trang trại được đầu tư hơn 285 triệu đồng Bước sang năm 2008 và 2009, mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới và suy giảm kinh tế trong nước, các trang trại vẫn tiếp tục được đầu tư đáng kể Ông Lê Duy Minh, Quyền Chủ tịch Hội doanh nghiệp Trang trại Việt Nam cho biết: “Ở khu vực miền Đông Nam

Bộ, có trang trại được đầu tư 1,14 tỉ đồng/năm Các trang trại ở Tây Nguyên cũng có vốn đầu tư từ 269 đến 300 triệu đồng/năm” Ngoài nguồn vốn tự có (khoảng 85%), các chủ trang trại còn vay tiền từ ngân hàng, huy động vốn của người thân để mở rộng và phát triển Trang trại phát triển, đã thu hút một lượng lao động đáng kể vào làm việc, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi Nếu như năm 2001, các trang trại đã thu hút được 374.701 lao động vào làm việc, thì đến năm 2007 số lượng này tăng lên là 488.277; và đầu năm 2009 đạt con số trên 510.000 lao động, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm khoảng 40%, còn lại là lao động thuê ngoài Với nhiều địa phương khi đất sản xuất nông nghiệp

bị chuyển đổi mục đích sử dụng, th ì các trang trại đã góp phần tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người dân, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ Lao động làm thuê được trả công trung bình là 50.000 đồng/ngày Ở những trang trại cao su, hồ tiêu, cà phê hay nuôi trồng thủy sản còn được trả cao hơn và được thưởng thêm

Theo ông Trương Văn Quy, Phó cục trưởng cục Hợp tác nông thôn Việt Nam (khu vực phía Nam): “Kinh tế trang trại phát triển đã góp phần khai thác diện tích mặt nước, đất hoang hóa, đất ven sông, ven biển… đưa vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển” Trong kết quả điều tra năm 2002 của Cục Thống kê, các trang trại đã sử dụng 369.600 ha đất và mặt nước, bình quân diện tích sử dụng đất của một trang trại là 6,08ha Đến năm 2009, diện tích đất và mặt nước

Trang 10

mà các trang trại sử dụng đã đạt con số hơn 990.000ha (trong đó 49% trang trại sản xuất và kinh doanh tổng hợp; 29% chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản)

Những năm vừa qua, nhiều chủ trang trại ở TP Hồ Chí Minh đã đầu tư mạnh vào các tỉnh như: Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai Hàng trăm ngàn ha đồi trọc, đất trống đã chuyển mình thành rừng cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, keo lai, vườn cây ăn trái, hồ nuôi cá sấu, cá ba

sa, tôm… Không chỉ diện tích đất trống, đồi trọc, mặt nước để hoang phí, mà ngay cả diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả ở các địa phương cũng được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trở thành vùng đất sản xuất-kinh doanh hiệu quả Hiện nay, mặc dù tình hình suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại, song diện tích đất hoang hóa vẫn đang được khai thác ngày càng nhiều hơn Các địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng, miền Đông Nam bộ vẫn là những nơi tận dụng đất đai, mặt nước để phát triển nhiều hơn cả Nếu như chính quyền các địa phương, các chủ trang trại đầu tư tốt trong khảo sát, xây dựng kế hoạch phát triển, thì sẽ khai hoang, phục hóa đất đai hiệu quả hơn

Từ khi có chính sách phát triển trang trại của Nhà nước, các chủ trang trại

đã đầu tư một lượng vốn lớn để mở rộng, phát triển sản xuất - kinh doanh Năm

2007, bình quân mỗi trang trại được đầu tư hơn 285 triệu đồng Bước sang năm

2008 và 2009, mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới

và suy giảm kinh tế trong nước, các trang trại vẫn tiếp tục được đầu tư đáng kể Ông Lê Duy Minh, Quyền Chủ tịch Hội doanh nghiệp Trang trại Việt Nam cho biết: “Ở khu vực miền Đông Nam Bộ, có trang trại được đầu tư 1,14 tỉ đồng/năm Các trang trại ở Tây Nguyên cũng có vốn đầu tư từ 269 đến 300 triệu đồng/năm” Ngoài nguồn vốn tự có (khoảng 85%), các chủ trang trại còn vay tiền từ ngân hàng, huy động vốn của người thân để mở rộng và phát triển. 

Trang trại phát triển, đã thu hút một lượng lao động đáng kể vào làm việc, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi Nếu như năm 2001, các trang trại đã thu hút được 374.701 lao động vào làm việc, thì đến năm 2007 số lượng này tăng lên là 488.277; và đầu năm 2009 đạt con số trên 510.000 lao động, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm khoảng 40%, còn lại là lao động thuê ngoài Với nhiều địa phương khi đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, thì các trang trại đã góp phần tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người dân, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung

Bộ Lao động làm thuê được trả công trung bình là 50.000 đồng/ngày Ở những trang trại cao su, hồ tiêu, cà phê hay nuôi trồng thủy sản còn được trả cao hơn

và được thưởng thêm

Ngày đăng: 04/03/2023, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w