1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ) kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần thuỷ sản nhật hoàng

108 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế Toán Quản Trị Chi Phí Sản Xuất Tại Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Nhật Hoàng
Tác giả Võ Thị Hoa Huệ
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Công Phương
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 727,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Luan van Vo Thi Hoa Hue doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG VÕ THỊ HOA HUỆ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KIN[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Công Phương

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

VÕ THỊ HOA HUỆ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3.Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa thực tiễn 4

7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 8

1.1 TỔNG QUAN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 8

1.1.1.Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất 8

1.1.2.Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý 10

1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 12

1.2.1.Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất 12

1.2.2.Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 18

1.2.3.Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành 21

1.2.4.Phân tích và kiểm soát chi phí sản xuất 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN KTQT SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG 30

2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG 30

2.1.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng 30

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty 36

Trang 5

2.2 YÊU CẦU THÔNG TIN KTQT CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO CHỨC NĂNG CHI PHÍ TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG 37

2.2.1 Yêu cầu thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty 37

2.2.2 Quản trị chi phí sản xuất theo chức năng chi phí 38

2.3 THỰC TRẠNG KTQT CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY THỦY SẢN NHẬT HOÀNG 40

2.3.1 Công tác lập dự toán chi phí sản xuất 40

2.3.2 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty 51

2.3.3 Phân tích chi phí phục vụ cho kiểm soát chi phí sản xuất 60

2.3.4 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Thủy Sản Nhật Hoàng 61

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG 64

3.1 PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT PHỤC VỤ CHO KTQT CHI PHÍ SẢN XUẤT 64

3.2 HOÀN THIỆN TIÊU THỨC PHÂN BỔ CHI PHÍ 69

3.3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN 72

3.4 HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH 75

3.5 HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC KIỂM SOÁT CHI PHÍ 77

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KTQT Kế toán quản trị KTTC Kế toán tài chính

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp KPCĐ Kinh phí công đoàn CNTTSX Công nhân trực tiếp sản xuất

Trang 7

2.7 Bảng dự toán tiền ăn trưa và các khoản trích theo lương của

công nhân trực tiếp sản xuất năm 2012

47

2.8 Bảng dự toán chi phí NCTT sản xuất năm 2012 48 2.9 Bảng tổng hợp dự toán chi phí sản xuất chung năm 2012 49 2.10 Tổng hợp dự toán chi phí SXC chế biến tháng năm 2012 50 2.11 Bảng tổng hợp dự toán giá thành sản phẩm năm 2012 51

2.13 Bảng tổng hợp chi phí NVL phụ năm 2012 54 2.14 Bảng tổng hợp chi phí NVL TT năm 2012 54

2.16 Bảng tổng hợp chi phí NCTT chế biến năm 2012 56 2.17 Bảng tổng hợp chi phí SXC chế biến tháng năm 2012 58 2.18 Bảng tổng hợp giá thành theo sản phẩm năm 2012 59 2.19 Bảng phân tích biến động CP sản xuất so với dự toán năm 2012 60 3.1 Bảng phân loại chi phí theo cách ứng xử 66

Trang 8

3.6 Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung năm 2012 71

3.8 Bảng phân bổ biến phí sản xuất chung dự toán năm 2012 74 3.9 Bảng dự toán biến phí cho các mặt hàng năm 2012 75 3.10 Bảng tổng hợp biến phí SXC chế biến năm 2012 76 3.11 Bảng tổng hợp giá thành theo sản phẩm năm 2012 76 3.12 Phân tích biến động CPNVL TT mặt hàng hải sản tại Công

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin chi phí sản xuất do kế toán quản trị cung cấp có vai trò hết sức quan trọng trong các doanh nghiệp, nó là bộ não điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu đối với nhà quản lý, là

cơ sở để nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn và tối ưu Ở các nước phát triển, kế toán quản trị chi phí đã được các doanh nghiệp vận dụng để giúp các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, từ đó đưa ra những phương án kinh doanh tối ưu Còn ở nước ta, khái niệm kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện từ đầu những năm 1990 Đến ngày 12 tháng 6 năm 2006 Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC hướng dẫn về kế toán quản trị trong doanh nghiệp Trong những năm qua sự hiểu biết về kế toán quản trị

ở nước ta còn khá mới mẻ, áp dụng cụ thể vào từng loại hình doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế Dẫn đến các thông tin chi phí cung cấp cho nhà quản

lý chưa hợp lý, kịp thời và chính xác.Việc triển khai, áp dụng cụ thể vào từng loại hình doanh nghiệp như thế nào thì còn nhiều vấn đề phải xem xét và nghiên cứu

Chế biến thủy sản là một trong những ngành đang được Nhà Nước quan tâm hỗ trợ nhằm phát triển chương trình kinh tế biển, khai thác lợi thế về biển của Việt Nam Đứng trước xu thế hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp chế biến thủy sản nói chung và Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng nói riêng muốn xây dựng doanh nghiệp có thương hiệu, có khả năng cạnh tranh cao, xây dựng một điểm đến thỏa mãn nhu cầu khách hàng … Nhiều vấn đề đặt ra cho Công ty cần phải giải quyết, trong đó làm thế nào để kiểm soát chi phí sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn thị trường là một vấn

đề được Công ty đặt lên hàng đầu

Trang 11

Qua tìm hiểu cho thấy việc ứng dụng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty

cổ phần thủy sản Nhật Hoàng chưa được quan tâm một các đúng mức Mặc

dù công ty đã thực hiện việc xây dựng định mức, dự toán sản xuất cho công ty nhưng việc lập dự toán cũng chỉ dừng lại ở dự toán tĩnh chưa thể hiện được sự vận động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Điều này chưa đáp ứng thông tin cho nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định phù hợp với những diễn biến phức tạp của thị trường khi có sự thay đổi về quy mô sản xuất, khả năng gia tăng khi có sự thay đổi về giá sản phẩm Giá thành sản phẩm vẫn tính theo phương pháp truyền thống, phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, song về góc độ quản trị phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị khi mức độ hoạt động của đơn vị thay đổi Bên cạnh đó công tác kiểm soát chi phí chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức, Công ty chưa có báo cáo nào phân tích một cách cụ thể sự biến động của chi phi do những nhân tố nào ảnh hưởng và mỗi nhân tố ảnh hưởng là bao nhiêu, báo cáo chỉ dừng lại ở việc so sánh Vì vậy, kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty chưa cung cấp nhiều thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị

Xuất phát từ những tồn tại được nhận diện nói trên, việc thực hiện đề tài

“Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần thủy sản Nhật

Hoàng” là rất cần thiết, giúp cho Công ty hình thành KTQT rỏ nét, cung cấp

nhiều thông tin hơn cho quản trị chi phí sản xuất

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm chỉ ra những tồn tại về vận dụng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng; qua đó đề xuất hoàn thiện việc vận dụng KTQT chi phí sản xuất phù hợp với đặc thù của Công ty

Trang 12

3 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng đặt ra những vấn đề gì cần phải hoàn thiện?

Cần hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng như thế nào để vận dụng đầy đủ hơn KTQT chi phí tại Công ty, góp phần nâng cao hiệu quả chi phí?

4 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn nghiên cứu các nội dung liên quan đến KTQT chi phí sản xuất, bao gồm công tác lập dự toán chi phí sản xuất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, phân tích và kiểm soát chi phí sản xuất

Phạm vi nghiên cứu: Nhật Hoàng là doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản phẩm khác nhau như: Sản xuất, chế biến

và kinh doanh các mặt hàng thuỷ sản, dịch vụ hậu cận nghề cá, sản xuất nước

đá, nuôi trồng thuỷ sản và chuyển giao công nghệ kinh doanh, vận tải hàng hoá giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, dịch vụ kho vận, kinh doanh nhà hàng, thiết bị điện tử viễn thông nghề cá ,đại lý mua bán kí gửi hàng hoá Luận văn giới hạn nghiên cứu về hoạt động sản xuất các mặt hàng hải sản tại Công ty

cổ phần Thủy Sản Nhật Hoàng

Số liệu chi phí thực tế liên quan đến đề tài được thu thập trực tiếp tại Công ty năm 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp mô tả, giải thích và lập luận logic

Phương pháp quan sát, khám phá và mô tả được vận dụng nhằm tìm hiểu thực trạng KTQT chi phí sản xuất ở Công ty Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích hiện tượng quan sát được, dựa vào cơ sở lý thuyết có

Trang 13

liên quan Qua đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm về KTQT chi phí sản xuất ở Công ty

Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến KTQT chi phí sản xuất, từ quy trình sản xuất, quá trình lập dự toán, xây dựng định mức chi phí sản xuất và việc kiểm soát chi phí sản xuất đến KTQT chi phí sản xuất Các số liệu thu thập ở phòng kế toán Thông tin về sản xuất, quy trình sản xuất có được từ quan sát trực tiếp và nghiên cứu tài liệu về quy trình sản xuất của Công ty Số liệu dự toán, phân tích được thu thập từ các phòng ban chức năng như phòng kinh doanh

Phương pháp lập luận logic được vận dụng nhằm đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất ở Công ty Phương pháp lập luận logic dựa vào cơ sở lý thuyết về KTQT chi phí sản xuất, đối chiếu với thực

trạng KTQT chi phí sản xuất

6 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp Công ty nhận thức và vận dụng đầy đủ hơn kế toán quản trị chi phí sản xuất Qua đó cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho quản trị chi phí sản xuất ở Công ty Kết quả nghiên cứu này cũng có thể nhân rộng để áp dụng cho các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực

7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Việc nghiên cứu KTQT chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp được nhiều tác giả quan tâm Đối với vấn đề KTQT chi phí sản xuất, không chỉ trong luận văn mà còn nhiều bài báo, tạp chí cũng đã đề cập đến

Đối với luận văn, các tác giả đã tập trung nghiên cứu KTQT chi phí sản xuất trong các lĩnh vực như ngành may mặc, vật liệu & xây dựng, thực phẩm, cao su, bánh kẹo, Hầu hết trong nội dung tập trung nghiên cứu ba nội dung bao gồm: cơ sở lý thuyết về KTQT chi phí sản xuất, thực trạng kế toán QTCP

Trang 14

sản xuất tại doanh nghiệp đó và hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất Tuy nhiên, mỗi luận văn đều có những điểm khác nhau về khả năng vận dụng KTQT chi phí sản xuất trong từng lĩnh vực

Nghiên cứu trong ngành may mặc của tác Nguyễn thị Hồng Oanh (2010)

về “kế toán quản trị chi phí sản xuất tại tổng Công ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ” đã tìm hiểu thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại tổng Công ty, nhận diện những thiếu sót về vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất như phân loại chi phí, lập dự toán chi phí và kiểm soát chi phí Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại tổng Công ty tổ chức theo dõi, phân loại chi phí, lập dự toán linh hoạt nhằm tăng cường kiểm soát chi phí sản xuất, tổ chức chứng từ, tổ chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất, phân tích biến động chi phí để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán phục vụ cho hoạt động quản trị tại tổng Công ty

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh (2010) nghiên cứu đề tài “ kế toán quản trị chi phí sản xuất tại tổng Công ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ” đã nghiên

cứu thực trạng kế toán quản trị sản xuất tại Công ty Qua đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại tổng Công ty

Tác giả Đinh Tuyết Diệu (2011) nghiên cứu đề tài “kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ Phần XNK Lam Sơn” đã đánh giá được thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty, nhận diện những thiếu sót

về vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất như phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung Bên cạnh đó và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty như: phân loại chi phí

Trang 15

sản xuất theo cách ứng xử, lập dự toán linh hoạt, xác định lại đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung

Tác giả Trần Thanh Dũng (2013) nghiên cứu về “ kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần sản xuất vật liệu và xây dựng Cosevco-I Quảng Bình” đã đánh giá được thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty, nhận diện những thiếu sót về vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất như phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung Bên cạnh đó và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty như: phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử, lập dự toán linh hoạt, xác định lại đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung

Ngoài những luận văn nêu trên, có nhiều bài báo và tạp chí kế toán đã trình bày quan điểm cũng như các vấn đề xoay quanh đến KTQT chi phí sản xuất Trong đó có bài viết được đăng trên tạp chí kế toán của PGS.TS Phạm Văn Dược (2009) về “giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp” Bài báo này đã nói lên sự cần thiết phải kiểm soát chi phí và giải pháp nâng cao vấn đề về kiểm soát chi phí Từ đó đưa ra các biện pháp giảm chi phí để nâng cao hiệu quả chi tiêu trong doanh nghiệp [tr.44-46]

Bài viết của Th.S Vũ Thị Kim Anh (2008) về “vai trò của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp”, đã tập trung đề cập đến vai trò của KTQT chi phí trong việc cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp Từ đó đưa ra nhận xét trong từng khâu sẽ giúp nhà quản trị nắm bắt được thông tin như thế nào [ tr.24-26]

Trang 16

Bài viết của tác giả TS Nguyễn Thị Minh Phương (2009) bàn về phương pháp tính giá thành và tình hình áp dụng tại các doanh nghiệp Bài viết đã đề cập đến phương pháp tính giá thành theo phương pháp nào từ đó

có thể cung cấp được thông tin chính xác và hợp lý cho nhà quản trị doanh nghiệp [tr.30-31]

Các tác giả thông qua các đề tài nghiên cứu của mình đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí sản xuất và vận dụng vào các ngành khác nhau

Trên cơ sở kế thừa những lý luận về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng, cũng như nghiên cứu thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất ở Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

CHI PHÍ SẢN XUẤT

1.1.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất

Các tổ chức trong xã hội dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán để tồn tại và phát triển Tổ chức doanh nghiệp cần thông tin kế toán để theo dõi chi phí và kết quả kinh doanh trong từng kỳ hạch toán, tổ chức nhà nước cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ phục vụ cộng đồng, tổ chức phi lợi nhuận cần thông tin kế toán để theo dõi hoạt động của tổ chức, xác định mức độ phục vụ xã hội…Như vậy, đối với bất kỳ một tổ chức nào thì thông tin kế toán đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với hoạt động của tổ chức đó và chính thông tin kế toán lại có ảnh hưởng quyết định đến mức độ đạt được của các mục tiêu Cùng với sự ra đời của bút toán kép và việc sử dụng thước đo tiền tệ thống nhất, con người đã tạo cho thông tin kế toán có thêm nhiều chức năng mới Thông tin kế toán từ chổ chỉ mang tính chất xử lý số liệu sau đó thêm tính chất tư vấn và đặc biệt còn trở thành khoa học dự đoán, một khoa học cho phép thu được những quyết định quản lý tối ưu

Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội bộ tổ chức Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các

cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ qua thuế… Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức

Trang 18

Để cung cấp thông tin cho hai đối tượng trên hệ thống kế toán trong tổ chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị Kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động

về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được

sử dụng để cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên ngoài tổ chức, kế toán quản trị là bộ phận kế toán của doanh nghiệp, là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các hoạt động, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và đặc biệt là chi phí sản xuất nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá bán của sản phẩm nên

có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, thông tin chi phí nói chung và thông tin chi phí sản xuất nói riêng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí sản xuất có chức năng tính toán, đo lường chi phí sản xuất phát sinh trong bộ phận sản xuất của doanh nghiệp theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin và giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán trên các báo cáo kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí sản xuất có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí sản xuất và khẳ năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp phục

vụ cho các quyết định sản xuất, điều chỉnh tình hình sản xuất theo thị trường, phục vụ tốt quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh

Như vậy, kế toán chi phí sản xuất vừa có trong hệ thống kế toán tài chính

và vừa có trong hệ thống kế toán quản trị, trong đó bộ phận kế toán chi phí sản xuất trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí sản xuất Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận của kế toán, chính

Trang 19

vì vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí sản xuất có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí sản xuất là quá trình đa dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất của bộ phận sản xuất

Với các phân tích trên, KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin về chi phí sản xuất để bộ phận sản xuất thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực cho hoạt động sản xuất, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát và đưa ra các quyết định hợp lý [6 Tr.7]

1.1.2 Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý

Thông tin kế toán quản trị có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của các tổ chức hoạt động Đó là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường [6.tr.14]

Ra quyết định là chức năng đồng thời là nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị doanh nghiệp Nhiệm vụ cơ bản của nhà quản trị trong bất kỳ tổ chức hoạt động nào cũng bao gồm những chức năng: xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm soát; đánh giá và ra quyết định Mối liên hệ giữa các chức năng của các nhà quản trị thể hiện trong một chuỗi các quyết định liên tiếp sau [6,tr14]:

- Kế hoạch và dự toán: Lập kế hoạch là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai, hoặc tổng thể các chỉ tiêu kinh tế đã được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được mục tiêu kỳ vọng Để xây dựng kế hoạch các nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chi tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học sẵn có Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rỏ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai

Tóm lại, kế hoạch là phương hướng chỉ đạo để các hoạt động kinh doanh

Trang 20

diễn ra một cách bình thường, đồng thời cũng là căn cứ để đánh giá các kết quả kinh doanh thu

- Tổ chức thực hiện: Kế hoạch và dự toán là những định hướng cho quá trình tổ chức thực hiện Tổ chức thực hiện là chức năng cơ bản của các nhà quản trị Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã phê duyệt Chức năng này các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các bộ phận với nhau sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất sao cho kế hoạch đạt được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụng tổng hợp các thông tin của nhiều bộ phận trong doanh nghiệp, các thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin định lượng và thông tin định tính để từ đó phán đoán và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo kế hoạch, dự toán đã xây dựng

Tổ chức thực hiện còn là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất và vai trò của các nhà quản trị để thực hiện các khâu công việc theo như kế hoạch đã đề ra nhằm đạt được mục tiêu của quá trình kinh doanh Đây là giai đoạn quyết định nhất, bởi vì các quyết định kinh doanh phải hết sức linh hoạt, phù hợp với các điều kiện thực tiễn khi đó mới khai thác hết khả năng tiềm tàng của các yếu tố sản xuất và đạt được mục tiêu tối ưu Ví dụ: Quyết định mua vật tư ở thị trường nào vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo chi phí thấp nhất

- Kiểm tra và đánh giá các kết quả thực hiện Căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp Thông qua đó để phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo

Trang 21

- Ra quyết định Đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin kế toán quản trị Dựa vào nguồn thông tin thu thập, thông qua phân tích, chọn lọc thông tin để đưa ra quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí…

1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT

Kế toán quản trị chi phí sản xuất về cơ bản xuất phát từ bộ phận kế toán chi phí trong kế toán tài chính nên cũng có đầy đủ các nội dung của các kế toán chi phí nói chung và kế toán chi phí sản xuất nói riêng như nhận diện và phân loại, thu thập, tập hợp và tính giá thành sản xuất

1.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất

a Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại chi phí khác nhau, các khoản chi phí này có tác dụng và ý nghĩa khác nhau ảnh hưởng đến

cơ cấu giá thành sản phẩm Từ đây việc nhận diện và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc lập kế hoạch giá thành và phân tính giá thành, so sánh giá thành sản phẩm giữa các thời kỳ và các xí nghiệp, giữa các loại hình doanh nghiệp cùng ngành với nhau Việc phân loại chi phí sản xuất của doanh nghiệp là nhằm mục đích phục vụ cho quản trị hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Do đó tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu quản trị của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh để lựa chọn tiêu thức phân loại phù hợp [6, tr.47]

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Khoản mục chi phí này bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp trong từng quá trình sản xuất sản phẩm như chi phí NVL chính

và chi phí NVL phụ Trong đó, NVL chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm, thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá thành sản phẩm

Trang 22

nhưng dễ nhận diện, định lượng chính xác, kịp thời khi phát sinh Trong quản

lý chi phí sản xuất, chi phí NVLTT thường được định mức theo từng loại sản phẩm Chi phí NVLTT được tập hợp trực tiếp theo từng loại sản phẩm căn cứ vào chứng từ kế toán và cũng thay đổi tỷ lệ với số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ

Đối với chi phí NVL gián tiếp, thường rất khó xác định tách biệt cho từng loại sản phẩm Vì vậy, chúng được tập hợp chung đến cuối kỳ kế toán sẽ tiến hành phân bổ cho các sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp

Chi phí nhân công trực tiếp

Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và những khoản trích theo lương được tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Tuy nhiên chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm trong khoản

mục chi phí này mà được tính một phần của khoản chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất cần thiết khác phát sinh trong phạm vi các phân xưởng sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí NVLTT và chi phí NCTT Khoản mục chi phí này bao gồm: Chi phí vật liệu phục vụ quản lý phân xưởng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất, chi phí khấu hao máy móc thiết bị và TSCĐ khác dùng trong hoạt động sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất

Chi phí SXC có một số đặc điểm: Bao gồm nhiều yếu tố chi phí có nguồn gốc phát sinh, đặc điểm khác nhau Liên quan đến nhiều hoạt động của quá trình sản xuất sản phẩm khác nhau Các yếu tố chi phí khác nhau thuộc

Trang 23

nhiều bộ phận quản lý nên khó kiểm soát

Vì vậy, việc thu thập thông tin chi phí SXC thường chậm trễ; mặt khác, đây cũng là bộ phận chi phí mà việc tập hợp, phân bổ dễ làm sai lệch chi phí trong từng quá trình sản xuất dẫn đến độ tin cậy của các chi tiêu giá thành giảm

Cách phân loại chi phí theo chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính giá thành sản phẩm, theo khoản mục chi phí, giúp kiểm soát chi phí sản xuất theo chức năng chi phí, làm cơ sở cho việc ra quyết định về cơ cấu chi phí sản xuất trong sản phẩm

b Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí

Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch chi phí, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí, ra quyết định kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả, kế toán quản trị tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí Theo tiêu thức này chi phí trong kỳ kế toán bao gồm biến phí, định phí

và chi phí hỗn hợp

Biến phí

Biến phí hay còn gọi là chi biến đổi và chi phí khả biến là các khoản chi phí thường tỷ lệ với mức độ hoạt động Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành…Biến phí phát sinh khi có các hoạt động xảy ra, tổng chi phí biến đổi thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi, biến phí đơn vị không đổi khi thay đổi mức độ hoạt động, biến phí bằng 0 nếu không có hoạt động

Trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất, biến phí thể hiện như chi phí NVLTT, chi phí NCTT Những chi phí này khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp tăng giảm thì tổng số biến phí thay đổi theo, nhưng xét duyệt trên một đơn vị mức độ hoạt động là sản phẩm, một giờ công,….thì chúng lại không thay đổi

Trang 24

Trong thực tế biến phí tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biến phí chia thành hai loại: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc

Biến phí tỷ lệ

Biến phí tỷ lệ là biến phí mà sự biến động của chúng hoàn toàn tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động Biến phí tỷ lệ thường là chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí bao bì cho sản phẩm,

Biến phí cấp bậc

Biến phí cấp bậc là những biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉ xảy ra khi mức độ hoạt động đạt đến một giới hạn, phạm vi nhất định Ví dụ chi phí lương thợ bảo trì, chi phí điện năng…những chi phí này cũng thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động khi quy mô sản xuất, mức độ hoạt đông của máy móc thiết bị…tăng giảm đến một giới hạn nhất định

Biến phí cấp bậc thay đổi theo từng bậc Vì thế, để tiết kiệm và kiểm soát tốt biến phí cấp bậc cần phải xây dựng, hoàn thiện định mức biến phí cấp bậc ở từng cấp bậc tương ứng và lựa chọn mức độ hoạt động thích hợp để có mức biến phí cấp bậc tiết kiệm nhất trong từng phạm vi

Định phí

Định phí là những chi phí thường không thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động Nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì

tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Tổng định phí không đổi khi thay đổi mức

độ hoạt động trong phạm vi phù hợp, định phí bình quân của một đơn vị mức

độ hoạt động sẽ giảm dần khi tăng mức độ hoạt động, tổng định phí vẫn tồn tại khi không có hoạt động Trong thực tế, định phí còn tồn tại dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau

Định phí bắt buộc

Định phí bắt buộc thường là những định phí có liên quan đến cấu trúc tổ

Trang 25

chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và rất khó giảm bớt Nếu muốn thay đổi cũng thường cần một thời gian dài Ví dụ như khấu hao văn phòng làm việc,… Định phí bắt buộc thường tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, không thể cắt giảm trong một thời gian ngắn, khi một bộ phận trong tổ chức hoạt động không tồn tại thì định phí chung cũng phải phát sinh Vì vậy, việc dự báo và kiểm soát định phí bắt buộc từ lúc khởi đầu xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu tổ chực quản lý doanh nghiệp phải hướng đến mục tiêu lâu dài, đảm bảo khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị

Định phí bộ phận

Định phí bộ phận còn được xem như định phí quản trị Chi phí phát sinh gắn liền với các quyết định hằng năm của nhà quản trị như chi phí nghiên cứu sản phẩm mới, đào tạo nhân viên…Về phương diện quản lý nhà quản trị không bị ràng buộc nhiều bởi quyết định về định phí bộ phận Mỗi năm nhà quản trị phải xem xét để điều chỉnh mức độ chi phí, có thể điều chỉnh tăng và

có thể điều chỉnh giảm hoặc cắt bỏ hoàn toàn định phí bộ phận

Định phí bộ phận thường gắn liền với kế hoạch ngắn hạn và là mức chi phí hằng năm của doanh nghiệp Trong trường hợp cần thiết có thể cắt bỏ định phí bộ phận trong một thời gian ngắn

Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí bao gồm cả biến phí và định phí Ở một mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường được thể hiện là định phí, khi vượt khỏi mức độ căn bản thì chi phí hỗn hợp là biến phí

Trong đó, phần định phí thể hiện phần chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì sự phục vụ và đảm bảo giữ cho dịch vụ luôn được sẵn sàng phục vụ Để phục vụ công tác quản trị chi phí, nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, các nhà quàn trị cần phải tách chi phí hỗn

Trang 26

để lập dự toán chi phí tốt hơn, phù hợp với thực tế và có tính khả thi hơn

c Phân loại chi phí sản xuất nhằm mục đích ra quyết định

Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Các nhà quản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để quyết định lựa chọn phương án tối ưu trong các tình huống

Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Chi phí kiểm soát được: là những chi phí ở một cấp quản lý nào đó nhà

quản trị xác định được chính xác mức phát sinh của nó trong kỳ, đồng thời nhà quản trị cũng có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh của nó Ví dụ, chi phí tiếp khách là chi phí kiểm soát được đối với trưởng phòng tổ chức hành chính

Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không

thể dự đoán chính xác mức phát sinh của nó trong kỳ hoặc không có đủ thẩm quyền để ra quyết định về loại chi phí này Ví dụ như chi phí mua sắm nhà xưởng là chi phí kiểm soát được đối với nhà quản trị cấp cao nhưng lại là chi phí không kiểm soát được đối với nhà quản trị cấp dưới

Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí và ra quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Trang 27

Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp là những chi phí riêng biệt phát sinh liên quan trực tiếp

đến từng đối tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt hàng) Các khoản chi phí này có thể ghi thẳng vào từng đối tượng chịu chi phí như chi phí NVLTT, chi phí NCTT Chi phí này dễ được nhận dạng, hạch toán chính xác, thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí, xác định nguyên nhân biến động chi phí Do đó, cũng ít gây ra sự sai lệch thông tin chi phí ở từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinh doanh

Chi phí gián tiếp là những chi phí chung phát sinh liên quan đến nhiều

đối tượng chịu chi phí khác nhau bao gồm chi phí quảng cáo, chi phí nhân công phục vụ…Do liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau nên nguyên nhân gây ra chi phí gián tiếp và đối tượng chịu chi phí là rất khó nhận dạng Vì vậy, các chi phí gián tiếp thường phải được tập hợp chung sau đó lựa chọn tiêu thức phù hợp để phân bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí Chính vì điều này mà việc tính toán, phân bổ chi phí theo cùng một tiêu thức hay dẫn đến những sai lệch chi phí trong từng loại sản phẩm, từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinh doanh và có thể dẫn đến những quyết định khác nhau của nhà quản trị

Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị nhận thức, lựa chọn phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí thích hợp và giúp nhà quản trị đưa ra quyết định chính xác hơn

1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

a Dự toán chi phí sản xuất

Dự toán chi phí sản xuất là phương diện cung cấp thông tin cho các chức năng hoạch định và kiểm soát chi phí sản xuất Dự toán chi phí sản xuất được lập chính xác và đầy đủ sẽ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được hiệu quả

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 28

Dự toán CPNVLTT

Là dự kiến số lượng và định mức NVL sử dụng trong kỳ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [6, tr.109] Để lập dự toán CPNVLTT cần phải căn cứ vào nhu cầu sản xuất trong kỳ, định mức từng loại nguyên vật liệu, đơn giá xuất nguyên vật liệu

Trước tiên xác định nhu cầu nguyên vật liệu sử dụng

Và dự toán CPNVLTT xuất dùng cho sản xuất

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Được tính căn cứ vào đơn giá tiền lương được xây dựng cho từng sản phẩm và lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ

Dự toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Khác với chi phí NVLTT và chi phí NCTT, chi phí SXC dự toán bao gồm dự toán biến phí SXC và dự toán định phí SXC Dự toán này được xác định như sau:

Dự toán CPSXC = Dự toán biến phí SXC + Dự toán định phí SXC

Trong đó: Dự toán biến phí SXC = Dự toán biến phí đơn vị SXC × sản lương sản xuất theo dự toán

Dự toán định phí SXC = Định phí SXC thực tế trong kỳ tỷ lệ % tăng

Định mức tiêu hao NVL

×

Dự toán

CPNVLTT

Dự toán lượng NVL sử dụng

Định mức thời gian sản phẩm sản xuất

Trang 29

(giảm) định phí SXC theo dự kiến

Thứ hai, giúp nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí ở từng phân xưởng, từng phòng ban, tổ đội sản xuất

Thứ ba, giúp các nhà quản trị nổ lực trong việc giảm thấp chi phí sản phẩm, có giải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Thứ tư, là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lý có tính cạnh tranh

Như vậy, công tác lập giá thành sản phẩm là một trong những nội dung của KTQT chi phí sản xuất

Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ

Theo phương pháp này dự toán giá thành sản phẩm được tính theo công thức:

Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp

Theo phương pháp trực tiếp dự toán giá thành sản phẩm được tính theo công thức:

Dự toán giá thành sản

phẩm hoàn thành =

Dự toán CP NVLTT

Dự toán CP NCLTT

Dự toán

CP SXC +

+

Dự toán giá thành sản

phẩm hoàn thành =

Dự toán CP NVLTT

Dự toán CP NCLTT

DT Biến phí SXC +

+

Trang 30

1.2.3 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

a Tập hợp chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp chi phí

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định chi phí phát sinh ở những nơi (phân xưởng, bộ phận, quy trình sản xuất,…) và thời kỳ chi phí phát sinh (trong kỳ hay kỳ trước) để ghi nhận vào nơi chịu chi phí (sản phẩm A, sản phẩm B,…) [6, tr.64]

Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường dựa vào đặc điểm tổ chức và quản lý, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khẳ năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của từng đơn vị

Các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là phân xưởng sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm hay nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, công trình thi công,…

Phương pháp tập hợp chi phí

Sau khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, các phương pháp được áp dụng để tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp trực tiếp và phương pháp phân bổ [6, tr.66]

Phương pháp trực tiếp: phương pháp này áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng chịu chi phí Theo phương pháp này thì chi phí của đối tượng nào được tập hợp trực tiếp cho đối tượng

đó Thông thường chi phí NVLTT, chi phí NCTT thường áp dụng phương pháp này

Phương pháp phân bổ: áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt như chi phí sản xuất Trong trường hợp đó tập hợp chung cho nhiều đối tượng sau đó lựa chọn tiêu

Trang 31

thức phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng chi phí Việc phân bổ chi phí này được tiến hành trình tự như sau:

Ci: Chi phí phân bổ cho đối tương i

Ti: Tiêu thức phân bổ cho đối tượng i H: Hệ số phân bổ

b Tính giá thành

Đối tượng và kỳ tính giá thành

Đối tượng tính giá thành có thể là một chi tiết thành phẩm, thành phẩm, nhóm thành phẩm, công việc cụ thể hoặc giá thành bộ phận lĩnh vực Doanh nghiệp có thể dựa vào một hoặc một số căn cứ sau để xác định đối tượng tính giá thành phù hợp [6, tr.64]: Đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, điều kiện và trình độ kế toán, yêu cầu quản lý

của doanh nghiệp

Kỳ tính giá thành thông thường là theo tháng, quý, hoặc theo năm Doanh nghiệp căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm, quy trình sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản xuất sản phẩm để xác định kỳ tính giá thành Đối với sản phẩm đơn chiếc thì kỳ tính giá thành là khi sản phẩm đơn chiếc hoàn thành [6, tr.8]

Ph ương pháp tính giá thành

Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ:

Phương pháp tính giá thành toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại nơi sản xuất được tính vào giá

Trang 32

thành của sản phẩm hoàn thành [6, tr.46]

Áp dụng phương pháp toàn bộ có thể vận dụng theo các trường hợp; tính giá giản đơn, tính giá thành theo công việc (theo đơn đặt hàng), tính giá thành theo quá trình sản xuất (phương pháp cộng phí)

Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ cung cấp số liệu cho các doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo quy định, song về góc độ quản trị phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình

huống quy mô sản xuất khác nhau

Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp:

Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phương pháp mà theo đó chỉ có chi phí sản xuất biến đổi liên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Phần chi phí sản xuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Như vậy, giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo cách ứng xử chi phí Các chi phí sản xuất biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí, phần định phí sản xuất sẽ tập hợp riêng Các nhà quản trị quan niệm rằng, định phí SXC là định phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí này để duy trì và điều hành hoạt động sản xuất cho dù

có sự tăng ( giảm) sản lượng trong kỳ trong giới hạn quy mô nhà xưởng Định

Giá thành sản phẩm

hoàn thành = CP NVLTT + CP NCLTT + CP SXC

Biến phí SXC Giá thành sản phẩm

hoàn thành = CP NVLTT + CP NCLTT +

Trang 33

phí SXC gần như ít thay đổi qua các năm, trước khi có sự thay đổi quy mô đầu tư Do vậy, sẽ bất hợp lý khi tính chi phí SXC cố định cho sản phẩm hoàn thành vì định phí này không gắn với hoạt động sản xuất như các chi phí biến đổi khác Cách nhìn nhận định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không coi chi phí này là chi phí sản phẩm, khi đó định phí là yếu

tố giảm trừ để báo cáo sự thật về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trường hợp không thể phân loại thành biến phí và định phí thì chi phí này sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí Kế toán sẽ tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm Lúc này giá thành đơn vị được xác định:

Phương pháp trực tiếp loại trừ được hạn chế của phương pháp toàn bộ trong việc phân bổ các chi phí chung cho đơn vị sản phẩm như: định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí

1.2.4 Phân tích và kiểm soát chi phí sản xuất

a Phân tích và kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tố về giá và nhân tố lượng có liên quan [6, tr.148]

Nhân tố về lượng: Là chênh lệch giữa lượng NVLTT ở kỳ thực tế với lượng NVLTT theo dự toán để sản xuất ra sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí NVLTT ra sao Biến động về lượng được xác định

Đơn giá NVLTT

dự toán

NVLTT dự toán sử dụng

=

Trang 34

Biến động về lượng nếu là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán và ngược lại Nhân tố lượng sử dụng thường

do nhiều nguyên nhân, gắn liền với trách nhiệm của bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội) Đó có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất… Ngay cả chất lượng NVL mua vào không tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân biến động về lượng cũng cần xem đến các nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện,

Nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá NVLTT kỳ thực tế với giá NVLTT theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn

vị sản phẩm thì nó phản ánh giá của một đơn vị NVL để sản xuất ra một đơn

vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào so với dự toán

Ảnh hưởng biến động về giá có thể âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn so với giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán và sẽ làm tăng tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Xét trên phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật

tư Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu, thuế và các phương pháp tính giá nguyên vật liệu (nếu có)

b Phân tích và kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí NCTT bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính

Lượng NVLTT

sử dụng

Đơn giá NVLTT dự toán

×

-

Trang 35

vào chi phí như chi phí công đoàn, chi phí BHXH, chi phí BHYT, chi phí BHTN của công nhân trực tiếp vận hành từng quá trình sản xuất Biến động của công nhân trực tiếp gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan [6, tr 151]

Nhân tố về lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi

về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công hay còn gọi là nhân tố năng suất Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:

Nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ, năng lực của người lao động thay đổi, điều kiện trang bị máy móc thiết bị và chính sách lương của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí sản xuất có thể do chính quán trình sản xuất của doanh nghiệp hoặc vì biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Nhân tố về giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực

tế so với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách

Đơn giá NCTT dự toán

Thời gian lao động

tế

Thời gian lao động thực tế

Đơn giá NCTT dự toán

×

-

Trang 36

của nhà nước… Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân công còn cho phép làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm làm ảnh hưởng đến công tác quản

lý và tính giá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng của công nhân tức trình độ và năng lực làm việc của công nhân Nếu giảm giá so với dự toán nhưng chất lượng và số lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại Việc phân tích biến động chi phí sản xuất theo các khoản mục và nhân tố về giá, nhân tố về lượng giúp người quản lý phát hiện, xem xét các yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp

c Phân tích và kiểm soát chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và biến động định phí sản xuất chung:

Biến động biến phí sản xuất chung

Theo giáo trình kế toán quản trị của PGS.TS.Trương Bá Thanh [6, tr.154], biến động biến phí sản xuất chung cũng được phân tích thành ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với CPNVLTT và CPNCTT Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí SXC thường do sự thay đổi của các mức chi phí được xem là biến phí SXC Các mức này thay đổi thường do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chi phí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổi mức lương,…

Trang 37

Ảnh hưởng nhân tố về lượng có thể do nhiều nguyên nhân, như tình hình thay đổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh, điều kiện trang thiết bị không phù hợp phải giảm sản lượng sản xuất hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết bị giảm…

Biến động định phí sản xuất chung

Theo giáo trình kế toán quản trị của PGS.TS.Trương Bá Thanh [6,

tr.156], định phí SXC là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm

vi phù hợp Chẳng hạn: tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao TSCĐ,…là những chi phí không đổi theo quy mô sản xuất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí SXC thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp,…

Khi phân tích định phí SXC cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được và định phí không kiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể các bộ phận

Mức hoạt động thực

tế

Đơn giá BPSXC dự toán

tế

Đơn giá BPSXC

dự toán

Mức hoạt động dự toán

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất giúp các nhà quản trị thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí sản xuất trong doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí sản xuất ra đời từ rất lâu, là công cụ khoa học hữu hiệu, tồn tại và phát triển qua các hình thái kinh tế xã hội Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa KTQT chi phí sản xuất ngày càng hoàn thiện lẫn nội dung và hình thức, nó thực sụ trở thành công cụ không thể thiếu trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát và diều hành các hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị Trong chương 1 luận văn tập trung trình bày cơ sở lý thuyết về KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất như: bản chất, chức năng quản

lý và nội dung của KTQT chi phí sản xuất Đây là cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu thực trạng công tác KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng, định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng

Đây là những tiền đề lý luận cơ sở cho việc nghiên cứu trạng thái công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và định hướng cho các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng

Trang 39

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN KTQT SẢN XUẤT

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG

2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN NHẬT HOÀNG

2.1.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng

a Giới thiệu về Công ty

Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng với nhiều năm chuyên sản xuất và kinh doanh ngành Thủy hải sản, với dây chuyền công nghệ hiện đại, khép kín

và đội ngủ cán bộ công nhân lành nghề và có nhiều năm kinh nghiệm Công

ty luôn đặt mục tiêu chất lượng lên hàng đầu và chất lượng dịch vụ sau bán hàng Chính vì vậy hàng thủy sản của Công ty ngày càng được nhiều khách hàng tín nhiệm Doanh thu năm 2012 đạt 106,9 tỷ đồng, kế hoạch năm 2013 đạt 100 tỷ đồng

Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng với các lĩnh vực kinh doanh khác

nhau như: Chế biến - xuất khẩu thuỷ sản: Sản phẩm chủ đạo của Công ty là

ghẹ mảnh ngoài mặt hàng ghẹ còn có các mặt hàng thủy sản giá trị gia tăng truyền thống khác như cá phi lê, mực sami, tôm Các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ với doanh số lớn ở nhiều thị trường trên toàn thế giới bao gồm

Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, và một số nước EU; Sản xuất - kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản: Công ty sản xuất, kinh doanh các loại thức

ăn nuôi tôm, cá trên dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo qui trình kiểm soát chặt chẽ, hệ số tiêu tốn thức ăn tối ưu, tổng hợp đầy

đủ nhu cầu dinh dưỡng cho thuỷ sản nuôi Ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ

kỹ thuật công nghệ, vật tư, thiết bị phục vụ nuôi trồng thuỷ sản; Kinh doanh dịch vụ kho vận: Công ty có hệ thống kho bảo quản lạnh với công suất lớn

Trang 40

được đầu tư tại cả 2 khu vực là Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh thỏa mãn

tốt mọi nhu cầu cấp đông và bảo quản lạnh các loại thuỷ hàng sản; Kinh doanh vật tư nhập khẩu: kinh doanh vật tư nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh

truyền thống, chuyên nghiệp của Công ty với hơn 10 năm kinh nghiệm, đã khẳng định được thương hiệu, uy tín của một nhà cung cấp, một nhà bán buôn

và bán lẻ lớn của các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước

Tuy nhiên thực tế hiện nay hoạt động chính của Công ty hiện nay là tập trung vào sản xuất chế biến và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản

b Đặc điểm trình công nghệ và tổ chức sản xuất của Công ty

Tương ứng với nhịp độ phát triển của xã hội để sản phẩm của Công ty có sức cạnh tranh và đứng vững trên thương trường thì Công ty không ngừng mở rộng quy mô sản xuất cải tiến quy trình công nghệ trong những năm đầu, máy móc thiết bị còn thiếu đồng bộ, các máy làm lạnh công suất nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu nhưng đến nay nhà máy đã đầu tư cải thiện các loại máy có công suất lớn và dây chuyền tự động nên sản phẩm của nhà máy được nâng cao cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Do đặc điểm của ngành thuỷ sản nói chung và Công ty nói riêng, sản phẩm sản xuất ra gồm nhiều loại Chúng phải trải qua một số công đoạn liên tiếp mới trở thành sản phẩm hoàn thành

Ngày đăng: 22/02/2023, 19:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Th.S Vũ Thị Kim Anh (2008), “Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp”, Tạp chí kế toán số 71 tháng 4/ 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp
Tác giả: Th.S Vũ Thị Kim Anh
Nhà XB: Tạp chí kế toán
Năm: 2008
[2] Bộ Tài Chính, Thông tư số 53/2006/TT-BTC- Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 53/2006/TT-BTC- Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2006
[3] PGS.TS Phạm Văn Dược (2009), “Giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp”, Tạp chí kế toán số 77 tháng 4/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Phạm Văn Dược
Nhà XB: Tạp chí kế toán
Năm: 2009
[4] PGS.TS Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương (2010), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: PGS.TS Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
[5] Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm (2001), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2001
[6] PGS.TS. Trương Bá Thanh (2008), Giáo trình kế toán quản trị, nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Tác giả: Trương Bá Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
[7] Các báo cáo, tài liệu của Công ty cổ phần thủy sản Nhật Hoàng Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w