Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên hệ thống kế toánquản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nóiriêng trong Công ty hiện nay vẫn còn nhiều
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Nguyễn Thị Ngọc
Khóa 2014 – 2016 : Trường Đại học Thương mại
Tôi xin cam đoan:
1 Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn” do chính tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Trần Thị Hồng Mai.
2 Các số liệu, tài liệu, dẫn chứng được sử dụng trong luận văn này là trung
thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 2LỜI CẢM ƠN Dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS.TS Trần Thị Hồng Mai,
sau thời gian học tập và thực tế, tác giả đã hoàn thành xong công trình nghiêncứu của mình
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hồng Mai
- Các thầy cô giáo khoa Sau đại học và khoa Kế toán - Kiểm toánTrường Đại học Thương mại
- Lãnh đạo và toàn thể cán bộ kế toán đang công tác tại Công ty Cổ phầnTập đoàn Thạch Bàn
Mặc dù, tác giả đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn, tuynhiên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp chân thành để Luận văn không chỉ có ý nghĩa về mặt lýluận mà còn có ý nghĩa cao trong hoạt động thực tiễn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6
8 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 8
SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 8
1.1 Một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 8
1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị 8
1.1.2 Đối tượng và nội dung của kế toán quản trị 10
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp 11
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 13
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 14
1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 25
1.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất 29
1.2.4 Phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 54
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
THẠCH BÀN 55
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 55
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh 56
2.1.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất 58
2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán 59
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn 63
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty 64
2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 65
2.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 69
2.2.4 Đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm 79
2.2.5 Phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 84
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn 85
2.3.1 Những ưu điểm 85
2.3.2 Những hạn chế 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THẠCH BÀN 90
3.1 Định hướng phát triển và quan điểm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn 90
3.1.1 Định hướng phát triển Công ty 90
3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty 91
Trang 53.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn 92
3.2.1 Hoàn thiện việc phân loại chi phí sản xuất 92
3.2.2 Hoàn thiện việc xây dựng định mức và lập dự toán chi phí sản xuất 94
3.2.3 Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất 96
3.2.4 Hoàn thiện công tác phân tích và cung cấp thông tin chi phí phục vụ ra quyết định quản lý 100
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp 107
3.3.1 Về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 107
3.3.2 Về phía Công ty 107
3.4 Những hạn chế trong nghiên cứu và định hướng phát triển của đề tài 108
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP NVL TT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP NC TT Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc 32
Sơ đồ 1.2: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo quá trình 36
Sơ đồ 2.1: Bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn 59
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ phân công lao động kế toán tại phòng TC-KT của Công ty 61
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổng quát phân tích biến động chi phí sản xuất 101
Bảng 2.1: Dự toán tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất 68
Bảng 3.1: Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động 94
Bảng 3.2: Dự toán chi phí sản xuất chung 96
Bảng 3.3: Báo cáo sản xuất 103
Bảng 3.4: Báo cáo tiến độ sản xuất 105
Bảng 3.5: Báo cáo kiểm soát chi phí sản xuất 106
Bảng 3.6: Báo cáo kiểm soát giá thành 107
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, cácdoanh nghiệp cần phải đặt ra các chiến lược nhằm tối đa hoá lợi nhuận củamình Bên cạnh việc đẩy mạnh tiêu thụ, tăng doanh thu thì việc tiết kiệm chiphí và hạ giá thành sản phẩm cũng hết sức quan trọng Chính vì vậy, chi phísản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu luôn được các nhà quản trịquan tâm, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sản xuất Việc nắm được các chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản trị
sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất Từ đó, doanh nghiệp tạo racác sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất Để làmđược điều đó, các nhà quản trị doanh nghiệp cần hết sức quan tâm đến côngtác kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm Trong khi đó, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmđối với các doanh nghiệp vẫn còn là vấn đề mới mẻ và còn nhiều hạn chế.Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn là một công ty hoạt động tronglĩnh vực sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng Trong tiến trình đổi mới đấtnước, cũng như hầu hết các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốcdân, Công ty đã chủ động triển khai các giải pháp đổi mới quản lý và điềuhành sản xuất, trong đó đặc biệt chú trọng tới công tác quản lý chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm Tuy nhiên, công tác kế toán chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm mới chỉ được Công ty chú trọng về mặt kế toán tài chính,còn về mặt kế toán quản trị thì vẫn có nhiều khái niệm còn khá mới mẻ vớiCông ty Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên hệ thống kế toánquản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nóiriêng trong Công ty hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như hệ thống định mức,
dự toán chưa được xây dựng đầy đủ, các báo cáo kế toán quản trị vẫn chưađược chú trọng Những bất cập này làm cho kế toán quản trị chi phí sản xuất
Trang 9và giá thành sản phẩm tại Công ty chưa phát huy được hết vai trò là một công
cụ quản lý kinh tế Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề
tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn”.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có một số công trình khoa học
và các bài viết đi sâu nghiên cứu các vấn đề kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại một số doanh nghiệp sản xuất như:
Luận văn thạc sĩ năm 2011 của Lê Đắc Phúc “Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp thuộc trung tâm điện thoại di động CPMA”, luận văn thạc sĩ năm 2012 của Vũ Thế Hoàn “Kế toán quản trị chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục đường bộ Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ năm 2012 của Nguyễn Thị Thu Trang “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng”, luận văn thạc sĩ năm 2014 của Lê Thị Hồng Hà “Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn”, luận văn thạc sĩ năm
2014 của Bùi Lệ Giang “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần bột giặt
và hoá chất Đức Giang” Các công trình nghiên cứu này đã phân tích rất chi
tiết những lý thuyết cơ bản xung quanh vấn đề kế toán quản trị chi phí sảnxuất như: xây dựng các định mức tiêu chuẩn chi phí sản xuất, xây dựng các
dự toán chi phí sản xuất, phương pháp thu thập thông tin và phân tích thôngtin phục vụ ra quyết định… Từ đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằmhoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm sản xuấtcủa từng đơn vị mà các tác giả đã nghiên cứu Tuy nhiên, các luận văn nàymới chỉ nghiên cứu nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất mà chưa đề cậpđến kế toán quản trị giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp và mô hình kếtoán quản trị chi phí sản xuất hiện đại
Trang 10Bên cạnh đó, vấn đề kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm còn được đề cập trong nhiều bài viết đã được công bố trên các tạp chíchuyên ngành như:
Bài viết của NCS.Đinh Thị Kim Xuyến trên tạp chí Nghiên cứu Tài
chính Kế toán số 04 (129) năm 2014 “Kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp viễn thông di động tại Việt Nam” Bài viết đã dưa ra
được những giải pháp nhằm hoàn thiện đối tượng hạch toán chi phí, phươngpháp tính giá thành; hoàn thiện phân loại chi phí; hoàn thiện xây dựng địnhmức chi phí, lập dự toán và phân tích chênh lệch Tuy nhiên, phần thực trạng,tác giả vẫn chưa cho thấy rõ công tác kế toán quản trị chi phí và giá thànhtrong các doanh nghiệp viễn thông di động
Bài viết “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất và chế biến chè tỉnh Thái Nguyên” của Ths.
Nguyễn Phi Hùng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán số 01 (102)năm 2012 Bài viết đã đưa ra được những ưu điểm và một số tồn tại trongcông tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanhnghiệp sản xuất và chế biến chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, các
đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại các doanh nghiệp này còn mang nhiều lý luận, tính xácthực chưa cao
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra một số vấn đề
cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm và đã có các
đề xuất nhằm hoàn thiện vấn đề này Tuy nhiên, các nghiên cứu đều chưa đềcập đến vấn đề kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn Vì vậy, luận văn
này sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn”
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 11- Mục tiêu chung: Đề tài nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn
- Mục tiêu cụ thể:
+ Về lý luận: Đề tài nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về
kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệpsản xuất
+ Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn, tìm ra những
ưu điểm và tồn tại, từ đó tổng kết và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằmhoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để thôngtin về chi phí và giá thành được cung cấp kịp thời và chính xác cho các nhàquản trị Công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực
trạng về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn,không nghiên cứu vấn đề này tại các công ty con và công ty liên kết Bêncạnh đó, luận văn cũng không nghiên cứu kế toán quản trị các chi phí ngoàisản xuất như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Số liệu nghiên cứu sử dụng các tài liệu liên quan của Công ty Cổ phầnTập đoàn Thạch Bàn trong năm 2015, 2016
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Để thu thập các thông tin, hệ thống
lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm và thực trạngcông tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn, tác giả đã thực hiện qua nhiều kênh khác nhaunhư: Nghiên cứu các quy định kế toán, chế độ kế toán, tham khảo các đề tàinghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí kinh tế và các văn bản phápluật có liên quan Đồng thời, tác giả còn tiến hành nghiên cứu các tài liệu củaCông ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn liên quan đến các nội dung như: Quátrình hình thành và phát triển, đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinhdoanh…
+ Phương pháp phỏng vấn: Tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp và giántiếp Tổng giám đốc, kế toán trưởng, nhân viên kế toán tổng hợp và kế toán vật
tư Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn
+ Phương pháp quan sát: Tác giả trực tiếp xuống phân xưởng sản xuất đểquan sát hệ thống dây chuyền sản xuất, quy trình sản xuất gạch Granite, môitrường làm việc của Công ty Quan sát thực tế thực hiện công tác kế toán chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Qua đó, tác giả hiểu thêm vềthực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề mình nghiên cứu và đưa rađược các giải pháp phù hợp với Công ty
- Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: Tổng hợp các tài liệu thu
được, hệ thống thành các nhóm vấn đề để mô tả thực trạng theo nhóm các vấn
đề được hệ thống Từ đó, tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu giữa thực tế hoạtđộng sản xuất của doanh nghiệp với quy định trong chế độ kế toán, chuẩnmực kế toán hiện hành Phân tích các dữ liệu đã thu thập được từ đó đưa racác kết luận, các đề xuất phù hợp để khắc phục những tồn tại mà doanhnghiệp đang gặp phải
6 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 13Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả đã đặt ra các câuhỏi cần giải quyết sau:
- Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổphần Tập đoàn Thạch Bàn đã đáp ứng được yêu cầu quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại Công ty hay chưa?
- Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong công tác kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn ThạchBàn?
- Cần phải có những giải pháp và điều kiện gì để hoàn thiện kế toán quảntrị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoànThạch Bàn?
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn làm rõ các nội dung lý luận về kế toán quản
trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Ý nghĩa thực tiễn: Căn cứ vào thực trạng công tác kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn
để đưa ra các đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này Công ty Cổ phầnTập đoàn Thạch Bàn có thể xem xét áp dụng nhằm hoàn thiện và nâng cao chấtlượng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
8 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THẠCH BÀN
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THẠCH BÀN
Trang 14CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị
Trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường, để có thể tồn tại và pháttriển một cách bền vững, các doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả kinh doanh,tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong ngành
Để làm được điều này, các nhà quản trị doanh nghiệp cần xây dựng và pháttriển hệ thống kế toán quản trị một cách hiệu quả Hiện nay, việc nghiên cứu
kế toán quản trị được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau
Theo Hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ (1982) thì “Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản
lý chặt chẽ các tài sản này”.
Với quan điểm là hệ thống thông tin, Ronal.W.Hilton thuộc trường Đại
học Cornell – Mỹ cho rằng “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức, mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”.
Ở góc độ công việc cụ thể, Khoản 3, Điều 4, Luật kế toán Việt Nam năm
2003 cho biết “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Các khái niệm trên cho thấy kế toán quản trị đóng vai trò quan trọngtrong việc cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin hữu ích phục
vụ cho việc ra quyết định một cách nhanh chóng và hiệu quả Thông tư số
Trang 1553/2006/TT – BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính cũng đã cho
rằng: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết dịnh đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và
- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tàichính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Người sửdụng thông tin do kế toán quản trị cung cấp là những bộ phận và những nhàđiều hành, quản lý trong doanh nghiệp
- Thông tin của kế toán quản trị là nguồn thông tin chủ yếu giúp cho nhàquản trị thực hiện các chức năng quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức và điều hànhthực hiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và ra quyết định
Trang 161.1.2 Đối tượng và nội dung của kế toán quản trị
1.1.2.1 Đối tượng của kế toán quản trị
Là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán nên đối tượng của kếtoán quản trị cũng là đối tượng của kế toán nói chung Tuy nhiên, nếu kế toántài chính phản ánh tài sản, nguồn hình thành tài sản và kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp dưới dạng tổng quát thì kế toán quản trị phản ánh chi tiết cácđối tượng Kế toán quản trị tập trung nhiều hơn cho quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh theo các nội dung doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động củadoanh nghiệp Kế toán quản trị cung cấp thông tin chủ yếu cho các nhà quảntrị sử dụng nhằm quản lý, nghiên cứu và đưa ra quyết định trong hoạt độngcủa đơn vị Do vậy, kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý, cung cấpthông tin quá khứ về tình hình quản lý và sử dụng tài sản trong đơn vị mộtcách kịp thời, chi tiết theo yêu cầu quản lý mà còn thu nhận, xử lý và cungcấp thông tin mang tính chất dự báo tương lai đến tài sản và hoạt động củađơn vị, phục vụ cho nhà quản trị trong việc hoạch định, lập kế hoạch và dựtoán, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá hoạt động của đơn vị
1.1.2.2 Nội dung của kế toán quản trị
Kế toán quản trị trong doanh nghiệp có nội dung rất rộng Khi xác địnhnội dung của kế toán quản trị cần xem xét các yêu cầu cụ thể của nó, đồngthời phải xem xét trong mối tương quan với kế toán tài chính để đảm bảo cho
kế toán quản trị không trùng lặp với kế toán chi tiết thuộc kế toán tài chính vàphát huy được tác dụng đích thực của nó trong công tác quản trị doanhnghiệp
Nếu xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năngquản lý, kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm các nội dung:
- Lượng hoá và xây dựng dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp
Trang 17- Phân loại và kiểm soát chi phí theo từng loại, từng thành phần, yếu tốchi phí Tập hợp chi phí sản xuất, tính toán giá thành cho từng loại sản phẩm,từng công việc, từng hoạt động dịch vụ.
- Kiểm soát và cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các dự toán, phân tíchgiải trình các nguyên nhân gây chênh lệch giữa thực hiện với dự toán
- Thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết, thích hợp giúpcác nhà quản trị lựa chọn quyết định kinh doanh hợp lý
Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, kếtoán quản trị doanh nghiệp bao gồm các nội dung:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm
- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh
- Kế toán quản trị một số khoản mục khác như: Kế toán quản trị tài sản
cố định, kế toán quản trị hàng tồn kho, kế toán quản trị lao động và tiềnlương, kế toán quản trị các khoản nợ…
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp
Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thông tin củamột doanh nghiệp và các nhà quản lý phải dựa vào các thông tin này để hoạchđịnh và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp đó Kế toán quản trị khôngchỉ thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin quá khứ về tình hình quản lý và sửdụng tài sản trong một đơn vị mà còn thu nhận, xử lý, cung cấp thông tinmang tính chất dự báo tương lai đến tài sản và hoạt động của đơn vị, phục vụcho nhà quản trị trong việc hoạch định, lập kế hoạch và dự toán, tổ chức thựchiện, kiểm tra, đánh giá hoạt động của đơn vị Trên thực tế, các thông tin về
kế toán quản trị đóng một vai trò thiết yếu để các nhà quản lý có thể đưa racác quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vai tròcủa thông tin kế toán quản trị đối với các chức năng quản lý được thể hiệntrong các khâu của quá trình quản lý cụ thể như sau:
Trang 18- Trong khâu lập kế hoạch: Lập kế hoạch tại doanh nghiệp bao gồm
việc xây dựng chiến lược, lựa chọn phương hướng hành động và cụ thể hoácác hành động cần triển khai Một bộ phận quan trọng trong hoạt động lập kếhoạch là việc xây dựng các giải pháp và lựa chọn trong số đó giải pháp phùhợp nhất với chiến lược và mục tiêu phát triển của doanh nghiệp Trong việclập kế hoạch, nhà quản trị phải đề ra được những bước cần làm để đưa hoạtđộng của doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định Để ra quyết định,nhà quản trị phải cân bằng giữa những lợi ích tiềm năng do thị trường mớimang lại và các chi phí, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp Trong số các dữliệu quá khứ cần xem xét, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho cácnhà quản trị về doanh số bán hàng, lợi nhuận và các chi phí sản xuất kinhdoanh Trên cơ sở các dữ liệu này, các nhà quản trị sẽ hoạch định ra các kếhoạch hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp
- Trong khâu tổ chức và điều hành: Tổ chức và điều hành liên quan
đến việc huy động các nguồn lực con người và các nguồn lực khác trongdoanh nghiệp để triển khai các kế hoạch và thực hiện các hoạt động thườngngày của doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện chức năng này, nhà quản trịphải giám sát các hoạt động thường ngày và đảm bảo cho hoạt động của tổchức diễn ra một cách trôi chảy Chức năng này còn được thực hiện thông quaviệc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, giải quyết các tranh chấp, trảlời câu hỏi, xử lý các vấn đề phát sinh và ra rất nhiều các quyết định hàngngày ảnh hưởng đến các nhân viên cũng như khách hàng của doanh nghiệp
- Trong khâu kiểm soát: Kiểm soát là quá trình nhằm đảm bảo cho từng
bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng kế hoạch đã đề ra, đồng thời thực hiện cácthay đổi cần thiết để phù hợp với tình hình thực tế Để thực hiện chức năngkiểm soát, nhà quản trị phải so sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạchhoặc dự toán để nhận diện các sai biệt giữa kết quả đạt được với mục tiêu đã
đề ra Việc so sánh này giúp chỉ ra các công việc được thực hiện chưa đạt yêu
Trang 19cầu và cần sự chú ý, điều chỉnh phù hợp để hoàn thành các nhiệm vụ và mụctiêu đã thiết lập của doanh nghiệp
- Trong khâu ra quyết định: Phần lớn thông tin do kế toán quản trị
cung cấp phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị Để có được cácquyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị cần phải có các thông tinđầy đủ, có đủ độ tin cậy và thích hợp Những thông tin thích hợp thoả mãnnhu cầu ra quyết định của nhà quản trị thường không có sẵn Do đó, kế toánquản trị phải thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn, chọn lọc nhữngthông tin cần thiết và thích hợp, rồi tổng hợp trình bày và gải thích cho cácnhà quản trị
Tóm lại, hoạt động quản trị doanh nghiệp là một quá trình liên tục từ lập
kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định Kế toán quản trị luôncung cấp thông tin cụ thể cho từng khâu của quá trình đó Có thể nói, kế toánquản trị là một công cụ, một phương tiện xử lý các dữ liệu về hoạt động kinh
tế, tài chính của doanh nghiệp
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Kế toán quản trị có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thôngtin về hoạt động của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý thực hiện chức năngquản trị doanh nghiệp Đa số các thông tin mà các nhà quản lý cần thường cóliên quan tới các chi phí của doanh nghiệp vì chi phí là nhân tố có ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận thu được Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thểkiểm soát được tất cả các khoản chi phí Nhận diện, phân tích các hoạt độngphát sinh ra chi phí là điều mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có nhữngquyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Là một nội dung quan trọng của kế toán quản trị trong doanh nghiệp, kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp các nhà quản trị giải
Trang 20quyết được vấn đề này Nội dung cụ thể của kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp gồm bốn vấn đề sau:
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu có mối quan hệmật thiết với nhau Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau về chất
vì chúng đều là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao độngvật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra để chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch
vụ Nhưng chúng khác nhau về lượng, chi phí sản xuất bao gồm chi phí sảnxuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ, chi phí sản xuất cho sản phẩm hoàn thành vàsản phẩm hỏng, còn giá thành sản phẩm chỉ gồm chi phí sản xuất tính cholượng sản phẩm đã hoàn thành
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất
Trong quá trình hoạt động, một doanh nghiệp có thể phát sinh ra rấtnhiều chi phí sản xuất kinh doanh Theo Giáo trình kế toán tài chính trong các
doanh nghiệp của Đại học kinh tế quốc dân (2009) thì “Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định” Theo cách định nghĩa này, chi phí
được xem xét theo từng kỳ kế toán và được phản ánh theo những nguyên tắcnhất định Định nghĩa chi phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của kếtoán tài chính Còn theo quan điểm của kế toán quản trị, mục đích của kế toánquản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phí thích hợp, kịp thời cho việc raquyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, đối với kế toán quản trị,chi phí còn được nhận thức theo phương diện nhận diện thông tin ra quyếtđịnh: chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinhdoanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí cũng
có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựachọn dự án, bỏ qua cơ hội kinh doanh Theo cách nhìn nhận này, chi phí có
Trang 21thể thực tế đã phát sinh hoặc cũng có thể chưa phát sinh mà mới chỉ là ướctính trong tương lai
Một doanh nghiệp sản xuất, ngoài những hoạt động có liên quan đến sảnxuất sản phẩm hoặc cung cấp lao vụ còn có những hoạt động kinh doanh khácnhư hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, hoạt động tài chính Do đó,không phải bất cứ khoản chi phí nào phát sinh trong doanh nghiệp cũng đượcgọi là chi phí sản xuất mà chỉ những khoản chi phí phát sinh cho việc sản xuấtsản phẩm mới được gọi là chi phí sản xuất
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Đại học Thương mại (2006) thì
“Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp”.
Để tiến hành hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải bỏ chi phí vềthù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động Vì thế, sự hìnhthành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếukhách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp
Trong kế toán quản trị, tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng thông tin về chiphí của nhà quản trị mà chi phí sản xuất có thể được đo lường, nhận diện vàphân loại theo nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp các thông tin hữu ích, kịpthời cho nhu cầu ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp
a, Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng
Hoạt động sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động của công nhân vớinguyên vật liệu và thiết bị sản xuất để tạo ra sản phẩm, do đó chi phí sản xuấtbao gồm ba yếu tố cơ bản sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí về nguyên
liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sảnxuất, chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cóthể xác định được một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể cho từng loại sản phẩm,
do đó nó được tính thẳng vào chi phí sản xuất sản phẩm
Trang 22- Chi phí nhân công trực tiếp: Là khoản chi phí phải trả cho công nhân
trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch
vụ, bao gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và cáckhoản trích theo tiền lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thấtnghiệp và kinh phí công đoàn) được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ củacông nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sảnxuất bao gồm chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ dụng
cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí môitrường…phục vụ cho sản xuất
Chi phí sản xuất chung là một khoản mục chi phí phức tạp, bao gồmnhiều yếu tố chi phí có đặc điểm, tính chất biến đổi khác nhau Vì vậy việcthu thập đầy đủ, chính xác thông tin chi phí sản xuất chung thường khó khănhơn các chi phí khác
b Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Với mục đích dự đoán chi phí sẽ thay đổi như thế nào theo mức độ thayđổi trong hoạt động của tổ chức, chi phí được phân loại thành chi phí biến đổi,chi phí cố định và chi phí hỗn hợp
- Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp… Đặc điểm của chi phí biến đổi là tổng chi phí biến đổi
sẽ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhưng chi phí biến đổi đơn vị thìkhông đổi Chi phí biến đổi là đối tượng chi phí rất quan trọng đối với mụctiêu tiết kiệm chi phí nhằm làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, việckiểm soát tốt chi phí biến đổi, đặc biệt là chi phí biến đổi tỷ lệ là một trongnhững mục tiêu hàng đầu trong quản trị chi phí của doanh nghiệp Có hai hìnhthức thể hiện của chi phí biến đổi là chi phí biến đổi tỷ lệ và chi phí biến đổicấp bậc
Trang 23+ Chi phí biến đổi tỷ lệ: Là chi phí biến đổi mà sự biến động tỷ lệ thuậnvới sự thay đổi của mức độ hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp…
+ Chi phí biến đổi cấp bậc: Là chi phí biến đổi mà sự thay đổi chỉ xảy rakhi mức độ hoạt động đạt đến một giới hạn nhất định như chi phí lao độnggián tiếp, chi phí điện năng,…
- Chi phí cố định: Là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số
khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Phạm vi phù hợp làkhoảng cách giữa mức độ hoạt động tối thiểu và mức độ hoạt động tối đa màdoanh nghiệp có thể thực hiện với năng lực hoạt động hiện có Khi mức độhoạt động vượt quá phạm vi phù hợp thì chi phí cố định lại thay đổi để phùhợp với mức độ hoạt động mới Đặc điểm của chi phí cố định là tổng chi phí
cố định không thay đổi khi mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp, nhưngchi phí cố định đơn vị (bình quân) sẽ giảm khi mức độ hoạt động tăng Khikhông có hoạt động, tổng chi phí cố định vẫn phát sinh Có hai hình thức thểhiện của chi phí cố định là chi phí cố định bắt buộc và chi phí cố định khôngbắt buộc
+ Chi phí cố định bắt buộc: Là những chi phí cố định không dễ dàngthay đổi bằng hành động quản trị Chi phí cố định bắt buộc thường liên quanđến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp
+ Chi phí cố định không bắt buộc: Là những chi phí cố định có thể thayđổi một cách nhanh chóng bằng hành động quản trị Chi phí cố định khôngbắt buộc thường gắn liền với các quyết định trong ngắn hạn của nhà quản lýnhư chi phí nghiên cứu sản phẩm mới, chi phí quảng cáo…
- Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí phát sinh có cả yếu tố cố định và
yếu tố biến đổi Ở một mức độ hoạt động nhất định, chi phí hỗn hợp thườngbiểu hiện là chi phí cố định nhưng khi vượt khỏi mức độ hoạt động nhất định,chi phí hỗn hợp lại bao gồm cả chi phí biến đổi
Trang 24Để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí hỗn hợp, các nhàquản trị cần phân tách các chi phí hỗn hợp thành những yếu tố chi phí cố định
và chi phí biến đổi Việc này sẽ giúp các nhà quản trị sử dụng các loại chi phí
để dự báo và hoạch định chiến lược hoạt động trong tương lai nhờ việc thấuhiểu mối liên hệ giữa các loại chi phí với các mức độ hoạt động khác nhaucủa doanh nghiệp Có ba phương pháp để phân tích các chi phí hỗn hợp thànhchi phí biến đổi và chi phí cố định
+ Phương pháp cực đại cực tiểu: Phương pháp này thu thập thông tin vềchi phí hỗn hợp ở các mức độ hoạt động khác nhau trong phạm vi phù hợp,sau đó chọn ra hai điểm có mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất Khi đó,chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm được xác định theo công thức:
Chi phí biến đổi trênmột đơn vị sản phẩm =
Y2 – Y1X2 – X1
Trang 25Trong đó:
X 1 : Mức độ hoạt động thấp nhất trong kỳ phân tích
X 2 : Mức độ hoạt động cao nhất trong kỳ phân tích
Y 1 : Chi phí hỗn hợp tương ứng với mức độ hoạt động thấp nhất
Y 2 : Chi phí hỗn hợp tương ứng với mức độ hoạt động cao nhấtTrên cơ sở đó, chi phí cố định được xác định bằng cách lấy tổng chi phítại mức hoạt động cụ thể trừ đi chi phí biến đổi được xác định thông qua việcnhân chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm với tổng số sản phẩm đượcsản xuất tại mức hoạt động đó Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến
do đơn giản và dễ áp dụng Tuy nhiên, phương pháp này chỉ quan tâm đếnmức độ hoạt động tối đa, tối thiểu mà bỏ qua giá trị của các mức độ hoạt độngkhác do đó kết quả chưa thực sự chính xác
+ Phương pháp đồ thị phân tán: Phương pháp này thu thập thông tin vềchi phí hỗn hợp ở các mức độ hoạt động khác nhau trong phạm vi phù hợp và
sử dụng đồ thị biểu diễn tất cả các giao điểm của chi phí với mức độ hoạtđộng tương ứng, sau đó kẻ một đường thẳng sao cho đường thẳng này đi quađược nhiều giao điểm nhất Đường thẳng này được gọi là đường hồi qui.Điểm giao cắt của đường hồi qui với trục tung là tổng chi phí cố định ước tính
và độ dốc của đường hồi qui là chi phí biến đổi trung bình trên một sản phẩm.Phương pháp này dễ dàng áp dụng trong các doanh nghiệp do tính chất đơngiản Tuy nhiên, tính chủ quan của nhà quản trị khi xây dựng đường hồi qui sẽảnh hưởng đến tính chính xác của phương pháp này
+ Phương pháp bình phương bé nhất: Phương pháp này ước tính chi phímột cách khách quan bằng cách sử dụng tất cả các giá trị chi phí quan sátđược và thiết lập đường biểu diễn qua thuật toán thống kê Căn cứ vào đặctính chi phí hỗn hợp, các nhà quản trị thiết lập phương trình chi phí hỗn hợp
có dạng: Y = ax + b Từ phương trình tuyến tính căn bản này, các nhà quản trịtiến hành khảo sát chi phí hỗn hợp ở các mực độ hoạt động khác nhau và thiếtlập hệ phương trình tuyến tính Đường hồi qui biểu thị chi phí hỗn hợp là
Trang 26đường thẳng thoả mãn việc tổng bình phương khoảng cách giữa các giá trị chiphí quan sát được và đường hồi qui là nhỏ nhất.
c Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành:
- Chi phí kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý
nào đó là những chi phí mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởngđến chi phí đó
- Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở một
cấp quản lý nào đó là chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó không có thẩm quyền chiphối và ra quyết định
Cách phân loại này giúp các nhà quản trị có thể đưa ra các biện phápquản lý có hiệu quả những chi phí phát sinh ở bộ phận mình đồng thời phục
vụ cho việc lập các báo cáo kết quả của từng bộ phận, từng cấp quản lý
d Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu chi phí
Với mục đích xác định và hạch toán chi phí cho các đối tượng chịu chiphí, chi phí được phân loại thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến
việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định Với những chiphí này, kế toán có thể căn cứ số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp chotừng đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản
xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc Đối với những chi phí này kếtoán phải tập hợp chung, cuối kỳ tiến hành phân bổ cho các đối tượng liênquan theo những tiêu chuẩn nhất định
e Nhận diện các chi phí khác phục vụ cho việc ra quyết định
- Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng
không có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác Chi phí chênh lệch là mộttrong những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tưhoặc phương án kinh doanh
Trang 27- Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ vẫn
phải chịu cho dù doanh nghiệp chọn phương án hay hành động nào Các chiphí đó phát sinh trong quá khứ và không bị ảnh hưởng bởi các phương án hoạtđộng trong hiện tại cũng như tương lai của doanh nghiệp Chi phí chìm tồn tại
ở mọi phương án, nó không có tính chênh lệch nên không phải xét đến khi sosánh lựa chọn phương án, hành động tối ưu
- Chi phí cơ hội: Là phần lợi nhuận tiềm năng bị mất đi khi chọn một
phương án này thay vì một phương án khác Chi phí cơ hội không được phảnánh trên hệ thống sổ kế toán của doanh nghiệp, nhưng trước khi cân nhắc vàlựa chọn phương án, hành động các nhà quản lý bao giờ cũng phải nghiên cứu
và xem xét đến các khoản chi phí này
Trong các doanh nghiệp, chi phí sản xuất gồm nhiều loại có tính chấtkinh tế, mục đích và công dụng trong quá trình sản xuất khác nhau Việc phânloại chi phí sản xuất ra thành các khoản mục khác nhau có ý nghĩa quan trọngtrong việc quản lý và hạch toán các khoản chi phí này Phân loại chi phí sảnxuất nhằm kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giáthành sản phẩm, nhằm nhận biết và động viên mọi khả năng tiềm tàng hạ giáthành sản phẩm, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Mỗi cách phân loại chiphí sản xuất nêu trên đều đáp ứng ít, nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán,kiểm tra, kiểm soát của doanh nghiệp Vì thế, các cách phân loại đều tồn tại,
bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm
1.2.1.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Theo Giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của Đại học
kinh tế quốc dân (2009) thì “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành” Giá thành sản
phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, kết
Trang 28quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sảnxuất Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu vừa mang tính khách quan, vừa mangtính chủ quan Tuỳ theo trình độ quản lý, phương thức sản xuất mà giá thànhsản phẩm của doanh nghiệp có thể cao hay thấp Như vậy, giá thành sản phẩm
là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm, dịch vụ nhất định khisản xuất hoàn thành
Bản chất kinh tế của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tốvật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ Giá thành là cơ sở đểđịnh giá bán sản phẩm, là cơ sở để phân tích chi phí, đồng thời là căn cứ đểxác định kết quả kinh doanh
Để đáp ứng yêu cầu quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm cần đượcxem xét trên nhiều góc độ khác nhau Có hai cách phân loại giá thành chủyếu: Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành và phânloại giá thành theo phạm vi tính toán
a Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành ba loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi
phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Giá thành kế hoạch do bộ phận
kế hoạch của doanh nghiệp xác định trước khi tiến hành sản xuất Giá thành
kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để phân tích tìnhhình thực hiện kế hoạch giá thành
- Giá thành định mức: Là giá thành được tính trên cơ sở các định mức
chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Việc tính giá thànhđịnh mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm.Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước
đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, giúp choviệc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đãthực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh
Trang 29- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu
chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp được trong kỳ và sản lượng sảnphẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ Giá thành thực tế chỉ tính toán được saukhi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tếtổng hợp, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
b Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành bốn loại:
- Giá thành sản xuất toàn bộ: Là giá thành bao gồm toàn bộ các chi phí
cố định và chi phí biến đổi thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Dựa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh nghiệp có thể xác định đượckết quả sản xuất sản phẩm là lãi hay lỗ Giá thành sản xuất toàn bộ thôngthường đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chất chiến lượcdài hạn như quyết định ngừng sản xuất hoặc tiếp tục sản xuất một loại sảnphẩm nào đó Trong giá thành toàn bộ của sản phẩm sản xuất, toàn bộ địnhphí tính hết vào giá thành nên phương pháp xác định giá thành sản xuất toàn
bộ còn được gọi là phương pháp định phí toàn bộ
- Giá thành sản xuất theo biến phí: Là giá thành chỉ bao gồm các biến
phí sản xuất, kể cả biến phí trực tiếp và biến phí gián tiếp
Như vậy, trong phương pháp xác định giá thành sản xuất theo biến phí,các chi phí sản xuất cố định được tính ngay vào báo cáo kết quả kinh doanhnhư các chi phí thời kỳ trong niên độ mà không tính vào giá thành sản xuất.Chỉ tiêu giá thành sản xuất theo biến phí chủ yếu được sử dụng trong môitrường kiểm soát hoạt động, trong đó nhà quản lý phải đưa ra các quyết địnhthuần tuý, tức thời và thứ yếu Do giá thành sản xuất chỉ bao gồm biến phí sảnxuất nên giá thành sản xuất theo biến phí còn được gọi là giá thành sản xuất
bộ phận
Trang 30- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định: Là giá thành
bao gồm biến phí sản xuất và phần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sởmức hoạt động thực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế và địnhmức Phần định phí còn lại không được tính vào giá thành được coi như chiphí thời kỳ và được tính vào kết quả trong kỳ
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Là giá thành bao gồm giá
thành sản xuất toàn bộ, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Giáthành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán, xác định kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân loại giá thành sản phẩm không chỉ có ý nghĩa trong việc đáp ứngyêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành mà nó còn có ý nghĩatrong việc xây dựng giá cả của sản phẩm Việc phân loại giá thành sản phẩmtheo thời gian và cơ sở số liệu có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chiphí, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳhạch toán Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.Bên cạnh cách phân loại này thì phân loại giá thành theo phạm vi tính toán lại
có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh lãi hoặc lỗ củatừng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh
1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Để phục vụ cho chức năng lập kế hoạch và kiểm soát chi phí trong doanhnghiệp, các nhà quản trị cần tiến hành xây dựng định mức chi phí và lập dựtoán chi phí Định mức chi phí và dự toán chi phí có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Định mức chi phí xác định chi phí cần thiết để hoàn thành một đơn vịsản phẩm hoặc một khối lượng hoạt động, còn dự toán chi phí là xác định chiphí cần thiết để hoàn thành toàn bộ khối lượng sản phẩm hoặc toàn bộ khốilượng công việc phải hoàn thành Cơ sở để xây dựng dự toán chi phí chính làđịnh mức chi phí
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất
Trang 31Định mức chi phí là việc xác định chi phí cần thiết cho việc sản xuất,hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị khối lượng sản xuất, một côngviệc nhất định Trên cơ sở các định mức được xây dựng, các nhà quản trị sẽ sosánh các chi phí thực tế phát sinh với định mức để xác định chênh lệch giữahai loại chi phí này Từ đó, các nhà quản trị tìm ra nguyên nhân dẫn đến sựchênh lệch và đề ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp
Hệ thống định mức chi phí trong doanh nghiệp bao gồm:
- Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là sự tổng hợp của định
mức lượng và định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để sản xuất sảnphẩm Trong đó, định mức lượng nguyên vật phản ánh số lượng nguyên vậtliệu cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc để hoàn thành một đơn vịkhối lượng hoạt động có tính đến mức hao hụt cho phép
+
Số lượng NVLhao hụt chophép trong sảnxuất một đơn
vị sản phẩm
+
Số lượng NVL
hư hỏng chophép trong sảnxuất một đơn
vị sản phẩmĐịnh mức giá nguyên vật liệu là đơn giá bình quân cho một đơn vịnguyên vật liệu sử dụng Định mức này do nhân viên kỹ thuật kết hợp với kếtoán giá thành xác định
Từ đó, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định như sau:Định mức chi phí
NVL cho một đơn vị
sản phẩm
=
Định mức lượngNVL cho một đơn vịsản phẩm
x Định mức giá
NVL
Trang 32- Định mức chi phí nhân công trực tiếp: Là sự tổng hợp của định mức
thời gian cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm và định mức giá của mộtđơn vị thời gian lao động trực tiếp
x
Định mức giámột đơn vịthời gian
- Định mức chi phí sản xuất chung: Được xác định riêng cho hai loại chi phí
là định mức biến phí sản xuất chung và định mức định phí sản xuất chung
+ Định mức biến phí sản xuất chung: Được xây dựng theo định mức giá
và định mức lượng thời gian cho phép Định mức giá phản ánh biến phí củađơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ Định mức lượng, ví dụ thời gian thìphản ánh số giờ hoạt động được chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản xuấtchung cho một đơn vị sản phẩm
+ Định mức định phí sản xuất chung: Căn cứ vào định phí sản xuấtchung hàng năm và tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung đã xác định đểtính tỷ lệ phân bổ định phí sản xuất chung
Tỷ lệ phân bổ định phí
sản xuất chung =
Tổng định phí sản xuất chungTổng tiêu chuẩn phân bổĐịnh mức định phí
sản xuất chung =
Tỷ lệ phân bổ địnhphí sản xuất chung x
Đơn vị tiêu chuẩn phân bổcho 1 đơn vị hoạt động
1.2.2.2 Xây dựng dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Lập dự toán là công việc quan trọng trong tất cả các hoạt động kinh tếcủa một doanh nghiệp Thông qua việc lập dự toán, nhà quản lý có được bứctranh toàn cảnh về toàn bộ kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp một cách
có hệ thống và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra
Tại các doanh nghiệp sản xuất, vào đầu mỗi kỳ, doanh nghiệp cần tiếnhành lập dự toán cho mọi quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Trang 33để làm cơ sở phân bổ các nguồn lực cũng như đánh giá hiệu quả hoạt độngtrong kỳ Trong các dự toán được lập, dự toán chi phí sản xuất là một bộ phậnquan trọng Dự toán chi phí sản xuất bao gồm dự toán chi phí nguyên vật liệutrực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung.
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Được doanh nghiệp lập
căn cứ vào dự toán sản xuất trong kỳ của đơn vị, phản ánh tất cả các chi phínguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất và dự trữ vậtliệu của doanh nghiệp Xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếpđược xác định trên cơ sở dự toán khối lượng sản xuất và định mức chi phínguyên vật liệu trực tiếp
Trang 34Như vậy:
Dự toán chi phí
NVL trực tiếp =
Dự toán sảnlượng sản xuất x
Định mức chi phíNVL trực tiếp
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Lập dự toán chi phí nhân công trực
tiếp cũng xuất phát từ dự toán sản xuất vì nhu cầu lao động phụ thuộc vào dự toánsản xuất Trong dự toán, các yêu cầu về số lượng cũng như chi phí lao động phảiđược xác định cụ thể nhằm đảm bảo quá trình sản xuất của doanh nghiệp được vậnhành ổn định Trên thực tế, những doanh nghiệp không làm tốt việc lập dự toán chiphí nhân công trực tiếp thường phải đương đầu với tình trạng thiếu hụt hoặc dưthừa lao động, từ đó tác động đến toàn bộ hiệu quả của quátrình sản xuất
- Dự toán chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao
gồm nhiều loại, nhiều khoản chi phí khác nhau, từ chi phínhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu và dụng cụ sảnxuất, chi phí khấu hao tài sản cố định cho đến chi phí dịch vụmua ngoài và các chi phí bằng tiền khác Chi phí này bao gồm
cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định Do vậy, dự toánchi phí sản xuất chung phải được xây dựng theo định phí vàbiến phí sản xuất chung căn cứ trên đơn giá phân bổ và tổngmức hoạt động theo kế hoạch Khi lập dự toán chi phí sảnxuất chung cần thận trọng xem xét tính phụ thuộc khả biếncủa chi phí và tính bất biến cố định của chi phí
Dự toán chi phí
sản xuất chung =
Dự toán định phí sảnxuất chung +
Dự toán biến phísản xuất chung
Trang 35+ Dự toán định phí sản xuất chung: Bao gồm dự toán định phí tuỳ ý và
dự toán định phí bắt buộc Dự toán định phí tuỳ ý được căn cứ vào quyết địnhcủa nhà quản lý trong kỳ để xác định, còn dự toán định phí bắt buộc được xâydựng trên cơ sở định phí bắt buộc của các kỳ trước
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán biếnphí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí sản xuấtchung với biến phí trực tiếpHoặc nếu xác định được tiêu chuẩn phân bổ chi phí sản xuất chung vàđơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung thì dự toán biến phí sản xuất chungđược xác định:
- Dự toán giá thành sản phẩm: Dự toán giá thành sản phẩm được xác
định căn cứ vào định mức chi phí sản xuất theo công thức:
+
Định mức chiphí nhân côngtrực tiếp
+
Định mức chiphí sản xuấtchung
1.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.2.3.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiêncần thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất
Trang 36Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà chi phí sảnxuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí sảnxuất và yêu cầu tính giá thành sản phẩm.
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nơiphát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí Nơi phát sinh chi phí có thể làphân xưởng, tổ đội sản xuất hay toàn bộ quy trình công nghệ Đối tượng chịuchi phí là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, đơn đặt hàng
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kế toán có thể căn cứvào các yếu tố sau:
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí trong hoạt động sản xuất
+ Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
+ Đặc điểm sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm
1.2.3.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trong quá trình sản xuất sản phẩm ở các doanh nghiệp thường phát sinhnhiều khoản chi phí khác nhau Tuỳ theo mối quan hệ giữa chi phí với đốitượng tập hợp chi phí sản xuất là trực tiếp hay gián tiếp để áp dụng phươngpháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp Thông thường có haiphương pháp tập hợp chi phí sản xuất: Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp
và phương pháp phân bổ gián tiếp
+ Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Phương pháp này áp dụng đốivới chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phíriêng biệt Theo phương pháp này, ngay từ khâu hạch toán ban đầu, chi phísản xuất phát sinh được phản ánh riêng cho từng đối tượng Từ đó, kế toán tậphợp số liệu từ các chứng từ kế toán và ghi trực tiếp vào các tài khoản chi tiếttheo từng đối tượng
+ Phương pháp phân bổ gián tiếp: Phương pháp này áp dụng đối với chiphí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kếtoán không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tượng tập hợpchi phí riêng biệt
Trang 37Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan,
kế toán phải tiến hành theo trình tự sau:
Tổ chức ghi chép ban đầu chi phí sản xuất có liên quan đến nhiềuđối tượng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp sốliệu trên chứng từ kế toán theo địa điểm phát sinh chi phí
Chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp với từng loại chi phí để tính toán,phân bổ chi phí sản xuất đã tổng hợp cho các đối tượng liên quan
Xác định hệ số phân bổ (H):
Hệ số phân
Tổng chi phí cần phân bổ (C)Tổng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng (∑Ti)
Tính chi phí sản xuất phân bổ cho từng đối tượng liên quan:
Chi phí sản xuất phân bổ
cho đối tượng i (Ci) =
Hệ số phân
Tiêu chuẩn phân bổcủa đối tượng i (Ti)Trong thực tế công tác kế toán, kế toán phải vận dụng linh hoạt cả haiphương pháp tập hợp chi phí trên Kế toán phải xác định được những khoảnchi phí nào có thể tập hợp riêng cho từng đối tượng kế toán chi phí và nhữngkhoản chi phí nào phải tập hợp gián tiếp để cuối kỳ phân bổ cho các đối tượng
có liên quan Xác định được như vậy là giúp cho công tác kế toán được tổchức phù hợp từ khâu lập chứng từ, mở tài khoản, ghi chép vào các sổ kế toánchi tiết và tổng hợp một cách khoa học, hợp lý
1.2.3.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Trong các doanh nghiệp, chi phí sản xuất có thể phát sinh ở nhiều địađiểm khác nhau và có liên quan đến nhiều loại sản phẩm khác nhau Các nhàquản trị doanh nghiệp cần phải biết được các chi phí đó phát sinh ở đâu vàdùng cho việc sản xuất ra những sản phẩm nào Để làm được điều đó, các nhàquản trị doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí phù hợp vớidoanh nghiệp mình
a Phương pháp xác định chi phí sản xuất theo công việc
- Đặc điểm và điều kiện áp dụng:
Trang 38Phương pháp xác định chi phí theo công việc thường được áp dụng trongcác doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng Để áp dụng phương pháp nàythì sản phẩm của doanh nghiệp phải có ít nhất một trong các đặc điểm sau:+ Sản phẩm đơn chiếc, sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng
+ Có giá trị cao
+ Được đặt mua trước khi sản xuất
+ Có kích thước lớn, gắn liền với những yêu cầu kỹ thuật, tính thẩm mĩ
và thường thông qua bản thiết kế kỹ thuật
Do đặc điểm nói trên, trong thực tế phương pháp này thường được cácdoanh nghiệp xây dựng, công nghiệp đóng tàu… lựa chọn áp dụng
Đặc trưng của phương pháp này là các chi phí sản xuất được tính dồn vàtích luỹ theo công việc, giúp nhà quản trị biết được giá thành từng công việc,
so sánh với giá thành kế hoạch nhằm kiểm soát và điều chỉnh kịp thời chi phícủa doanh nghiệp
Theo phương pháp này, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là từng đơnđặt hàng hoặc theo từng sản phẩm, loại sản phẩm nhất định Đối tượng tínhgiá thành là từng sản phẩm hoàn thành
- Tập hợp chi phí sản xuất:
Sơ đồ 1.1: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc
Hệ thống xác định định chi phí theo công việc về nguyên tắc áp dụngphương pháp tính giá toàn bộ Giá thành sản phẩm bao gồm ba khoản mục chiphí cơ bản là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp vàchi phí sản xuất chung Do nơi sản xuất có thể tiến hành sản xuất đồng thờinhiều công việc khác nhau theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng nên trong thực
tế có thể phát sinh những chi phí chung cho nhiều đơn đặt hàng khác nhau Vì
Đơn
đặt
hàng
Lệnh sản xuất
Tập hợp chi phí sản xuất trên cơ
sở các chứng từ (Phiếu xuất kho, Phiếu theo dõi lao động, mức phân bổ chi phí sản xuất chung)
Phiếu chi phí công việc (Phiếu tính giá thành theo ĐĐH)
Trang 39vậy, để tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng, kế toán cần quan tâmđến tính trực tiếp và gián tiếp của chi phí.
Khi bắt đầu sản xuất theo đơn đặt hàng, bộ phận kế toán sẽ mở Phiếu(thẻ) kế toán theo dõi chi phí theo từng đơn hàng, từng công việc Phiếu chiphí công việc được lập khi phòng kế toán nhận được thông báo và lệnh sảnxuất được phát ra cho công việc đó Mỗi đơn đặt hàng được lập một Phiếu chiphí công việc riêng biệt Trong suốt quá trình sản xuất, căn cứ vào các chứng
từ chi phí sản xuất có liên quan đến công việc đang được tiến hành, kế toánghi chép, tập hợp vào Phiếu chi phí công việc Phiếu chi phí công việc thựcchất là sổ kế toán chi tiết để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung phục vụ cho việc tổng hợpcác chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng Khi sản phẩm hoàn thành và giao chokhách hàng thì Phiếu chi phí công việc là cơ sở để xác định chi phí
+ Phiếu xuất kho: Là căn cứ để kế toán xác định nguyên vật liệu trực tiếp
và gián tiếp xuất dùng cho công việc Các chi phí nguyên liệu, vật liệu gắntrực tiếp với một công việc được hạch toán trực tiếp vào tài khoản chi phínguyên liệu, vật liệu trực tiếp của từng công việc Các chi phí nguyên liệu, vậtliệu gián tiếp sẽ được hạch toán vào tài khoản chi phí sản xuất chung Chi phínguyên liệu, vật liệu trực tiếp được theo dõi tại khoản mục “Nguyên vật liệutrực tiếp” trên Phiếu chi phí công việc.Để thu nhận, cung cấp thông tin về chiphí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp cho từng đối tượng, kế toán quản trị sử dụngtài khoản “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” Tùy theo yêu cầu cụ thể, kếtoán có thể mở chi tiết cho từng công việc, đơn đặt hàng
+ Phiếu theo dõi lao động: Là căn cứ để kế toán xác định lao động trựctiếp và lao động gián tiếp sử dụng cho công việc Những chi phí lao động liênquan trực tiếp đến công việc được hạch toán trực tiếp vào tài khoản chi phínhân công trực tiếp của từng công việc Các chi phí lao động không gắn trựctiếp với quá trình sản xuất sản phẩm được hạch toán vào tài khoản chi phí sản
Trang 40xuất chung Chi phí nhân công trực tiếp được theo dõi tại khoản mục “Nhâncông trực tiếp” trên Phiếu chi phí công việc Để thu nhận, cung cấp thông tin
về chi phí nhân công trực tiếp cho từng đối tượng, kế toán quản trị sử dụng tàikhoản “Chi phí nhân công trực tiếp” Tùy theo yêu cầu cụ thể, kế toán có thể
mở chi tiết cho từng công việc, đơn đặt hàng
+ Mức phân bổ chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao gồmnhiều yếu tố chi phí nên để tập hợp khoản mục chi phí này, kế toán không chỉdựa vào các chứng từ phát sinh bên trong doanh nghiệp như phiếu xuất kho,bảng thanh toán lương… mà còn phải dựa trên cơ sở các chứng từ phát sinhbên ngoài doanh nghiệp như hoá đơn tiền điện, tiền nước và các dịch vụ khácphục vụ cho sản xuất chung Trường hợp mỗi phân xưởng chỉ tiến hành sảnxuất một đơn đặt hàng, chi phí sản xuất chung được tập hợp trực tiếp cho từngđơn đặt hàng Trường hợp một phân xưởng sản xuất nhiều đơn đặt hàng, chiphí sản xuất chung sẽ được tập hợp riêng, sau đó tiến hành phân bổ cho từngđơn đặt hàng theo những tiêu thức phù hợp Do các đơn đặt hàng thườngkhông hoàn thành cùng một thời điểm nên chi phí sản xuất chung thườngđược phân bổ theo mức ước tính Theo đó, ngay từ đầu kỳ, kế toán đã phảiước tính tổng chi phí sản xuất chung của từng phân xưởng và xác định chi phísản xuất chung ước tính cho một đơn vị tiêu thức phân bổ Trong kỳ, khi mộtđơn đặt hàng hoàn thành, kế toán sẽ căn cứ vào tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuấtchung ước tính và tổng tiêu thức chọn làm căn cứ phân bổ của đơn đặt hàng
đó để xác định chi phí sản xuất chung phân bổ cho đơn đặt hàng đó Để thunhận, cung cấp thông tin về chi phí sản xuất chung, kế toán quản trị sử dụngtài khoản “Chi phí sản xuất chung”
- Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Toàn bộ chi phí tham gia vào sản xuất sản phẩm được tập hợp trên Phiếuchi phí công việc vào cuối tháng Nếu cuối tháng, công việc chưa hoàn thànhthì toàn bộ chi phí tập hợp trên Phiếu chi phí sẽ là giá trị sản phẩm dở dang.Khi công việc hoàn thành, các chi phí sản xuất đã tập hợp được trên Phiếu chi