1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÀI GIẢNG độc CHẤT

153 2,4K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Độc Chất Học Thú Y
Tác giả Đoàn Thị Kim Phượng
Trường học Trường Đại Học Tây Nguyên - Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Chuyên ngành Chăn Nuôi Thú Y
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2011
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi người cần tài liệu có thể vào thêm link web của mình để tải nhéhttps://sites.google.com/site/thachvanmanh/Cần hỗ trợ gì thêm liên hệ Mạnh Tel : 0983.912.823Cảm ơn mọi người

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

BÀI GIẢNG ĐỘC CHẤT HỌC THÚ Y

Người soạn: Đoàn Thị Kim Phượng

Buôn Ma Thuột, năm 2011

Trang 2

Phần A ĐỘC CHẤT HỌC ĐẠI CƯƠNG

(General Toxicology)

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỘC CHẤT HỌC

Mục tiêu: Học xong chương này sinh viên nắm được một số khái niệm cơ bảntrong chất độc như: độc chất học, độc tính, độc lực, ngộ độc, cách phân loại Quátrình động học, cơ chế gây độc; Các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng gây độc của chấtđộc…

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Độc chất học

a Định nghĩa và đối tượng của Độc chất học

Độc chất học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về các chất độc bao gồm việcphát hiện ra các chất độc, đặc tính lý hóa học của chúng, những ảnh hưởng sinh học cũngnhư biện pháp xử lý những hậu quả do chúng gây ra

Trước đây, đối tượng của Độc chất học chỉ là một số ít chất độc được sử dụng để đầuđộc người và vật nuôi Ngày nay, Độc chất học hiện đại nghiên cứu tính chất lý hóa củacác chất độc có nguồn gốc động vật, thực vật, khoáng vật và tổng hợp; cơ chế gây độc;mối tương tác giữa chất độc và cơ thể

Đối tượng của môn học là nghiên cứu về tính chất, tác dụng, ý nghĩa của chất độc,nguyên nhân gây ngộ độc, sinh bệnh học, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị ngộ độc.Độc chất học thú y là một phần đặc biệt của Độc chất học, là môn khoa học nghiêncứu về các chất độc và tác động của chúng đối với cơ thể động vật

b Sự liên quan của Độc chất học thú y với các môn học khác

Là môn học thực nghiệm lâm sàng, Độc chất học thú y có liên quan đến hàng loạt cácmôn học:

- Môn Hóa học và Dược lý học cung cấp những hiểu biết cơ bản về tính chất hóa

học, động học, cơ chế tác dụng của các chất độc có nguồn gốc vô cơ và hữu cơ

- Môn phân loại Thực vật, Vi sinh vật và Động vật giúp nghiên cứu các độc tố thực

vật, động vật, nấm và côn trùng

- Sinh lý bệnh: nghiên cứu về sinh bệnh học, về tiến triển của bệnh do ngộ độc

- Hóa sinh: cơ thể bị ngộ độc gây ra nhiều biến đổi các chỉ tiêu hóa học, hàm lượng

và chất lượng men, hàm lượng các hocmon giữ vai trò quan trọng trong trao đổi chất Xác

Trang 3

định những biến đổi này bằng các phương pháp nghiên cứu hóa sinh là rất cần thiết đểphân tích tiến triển của quá trình ngộ độc.

- Bệnh lý học: cung cấp phương pháp mổ khám và phân tích các bệnh tích đại thể,

vi thể giúp chẩn đoán ngộ độc

- Dịch tễ học: giúp phân biệt bệnh do ngộ độc với các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng.

- Vệ sinh Thú y, Dinh dưỡng và thức ăn liên quan đến phương pháp phòng ngộ độc.

c Các lĩnh vực nghiên cứu của độc chất học

- Độc chất học mô tả: Đánh giá nguy cơ do phơi nhiễm với chất độc hoặc môi

trường thông qua các kết quả thu được từ các xét nghiệm độc tính

- Độc chất học cơ chế: Giải thích cơ chế gây độc, từ đó có thể dự đoán nguy cơ và

cơ sở khoa học để điều trị ngộ độc

- Độc chất học lâm sàng: Nghiên cứu các bệnh do ngộ độc, nhiễm độc, cách chẩn

đoán và điều trị ngộ độc, nhiễm độc

- Độc chất học phân tích: Nghiên cứu các phương pháp phát hiện và thử nghiệm chất

độc và các chất chuyển hóa của chúng trong vật phẩm sinh học và môi trường

- Độc chất học môi trường: Nghiên cứu sự chuyển vận của chất độc và các chất

chuyển hóa của chúng trong môi trường, trong chuỗi thực phẩm và tác dụng độc của cácchất này trên cá thể và trên quần thể

- Độc chất học công nghiệp: Nghiên cứu về ảnh hưởng độc hại của môi trường lao

động công nghiệp đối với người và vật nuôi

- Độc chất học pháp y: Các xét nghiệm độc chất và khám lâm sàng các trường hợp

Trang 4

b Khái niệm Độc tính và Độc lực

- Độc tính: được dùng để miêu tả tính chất gây độc của chất độc đối với cơ thể sống

- Độc lực: là lượng chất độc trong những điều kiện nhất định gây ảnh hưởng độc hại

hoặc những biến đổi sinh học có hại cho cơ thể

*Một số khái niệm về liều lượng được sử dụng để xác định độc lực của chất độc:

- ED50 (Effective dose): liều có tác dụng với 50% động vật thí nghiệm

- Liều tối đa không gây độc (HNTP – Highest Nontoxic Dose): là liều lượng lớnnhất của thuốc hoặc chất độc không gây những biến đổi bệnh lý cho cơ thể

- Liều thấp nhất có thể gây độc (TDL – Toxin Dose Low): khi cho gấp đôi liều này

c Phân loại chất độc

Có nhiều cách phân loại chất độc, tuy nhiên căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính và bảnchất của chất độc có thể có các cách phân loại sau:

* Phân loại theo nguồn gốc chất độc:

- Chất độc có nguồn gốc thiên nhiên: động vật, thực vật, vi sinh vật

- Chất độc có nguồn gốc tổng hợp, bán tổng hợp

* Phân loại theo bản chất lý hóa của chất độc:

- Các chất độc ở dạng rắn, lỏng, khí

- Các chất độc vô cơ: kim loại, á kim, acid, bazơ

- Các hợp chất hữu cơ: các hợp chất chứa carbon, các loại thuốc trừ sâu, aldehyt,các acid hữu cơ, các ester, các hợp chất chứa nito, các hợp chất chứa lưu huỳnh,Ancaloid, Glucosid

* Phân loại theo phương pháp phân tích chất độc (theo Stas – Otto):

- Chất độc hòa tan trong nước hay các dung dịch acid, kiềm

- Chất độc hòa tan trong ether

- Chất độc có thể chiết tách được trong các dung môi hữu cơ

- Các chất độc là các kim loại nặng hay hợp kim

Trang 5

* Phân loại chất độc theo độc lực

Phân loại chất độc theo độc lực

1 Rất độc (extremely) < 1mg/kg

2 Độc lực cao (highly toxin) 1-50mg/kg

3 Độc lực trung bình (moderately toxin) 50-500mg/kg

4 Độc lực thấp (slightly toxin) 0,5 -5g/kg

5 Không gây độc (practically nontoxin) 5-15g/kg

6 Không có hại (relatively harmless) >15g/kg

* Phân loại theo tác động của chất độc trên các hệ cơ quan của cơ thể:

- Các chất độc tác động trên hệ thần kinh: Strychnine, Cyanid, Chì, thuốc trừ sâuClo hữu cơ…

- Các chất độc tác động lên hệ tiêu hóa: Asen, Selen, Canxi clorua, Sulfat Đồng…

- Các chất độc tác động lên gan, mật: Aflatoxin, Tetracloruacarbon, Phenol,Đồng…

- Các chất độc tác động trên thận: thuốc kháng sinh nhóm Aminoglycosid,Tetracyclin, Sulfamides, kim loại nặng…

- Các chất độc tác động trên hệ hô hấp: Carbonmonoxide, Kim loại nặng,Formaldehyt, thuốc trừ sâu phosphor hữu cơ…

- Các chất độc tác động trên hệ tim, mạch: Digitalis, Digitoxin, Cafein, Cocain…

- Các chất độc tác động đến máu: Aspirin, Benzene, Chloramphenicol,Chlorpromazine, Estrogen,…

- Các chất độc tác động trên hệ sinh sản: Testosterone, Corticosteroid, Chì, Selen…

- Các chất độc tác động trên da: Acid, bazơ, Formaldehyt, Iodine, muối Thủy ngân…

* Phân loại theo tác dụng đặc biệt của chất độc:

- Chất độc gây ung thư:

+ Các chất độc có nguồn gốc thiên nhiên: Aflatoxin B1, Ancaloid của một số cây độc.+ Hợp chất ung thư hình thành khi chế biến thực phẩm: nitrosamine, các chấthydratcarbon đa vòng thơm, các amin dị vòng

- Chất độc gây đột biến: hầu hết các chất gây ung thư đều có tác dụng gây đột biến.

- Chất độc gây quái thai: các hợp chất este phosphor hữu cơ, thuốc trừ sâu loại

Carbamat, thuốc diệt nấm chứa Thủy ngân

* Phân loại theo nguồn gây độc

- Các chất gây ô nhiễm không khí, nước và thực phẩm

Trang 6

- Các chất phụ gia trong thực phẩm

- Các hóa chất trong công nghiệp và các dung môi

- Thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y

b Phân loại ngộ độc

Có nhiều cách phân loại ngộ độc Trong thú y chủ yếu phân loại theo thời gian xảy

ra ngộ độc Tuỳ thuộc vào từng chất và phản ứng của cơ thể, tác dụng gây độc thườngxuất hiện rất sớm Tuy nhiên, có chất gây tác dụng chậm (Chloramphenicol gây thiếu máusuy tuỷ sau khi đã ngừng dùng thuốc hàng tuần), hoặc rất chậm, 20 - 30 năm sau khi tiếpxúc với hoá chất độc mới thấy xuất hiện ung thư

* Ngộ độc cấp tính

Ngộ độc tính cấp tính là những biểu hiện ngộ độc xảy ra rất sớm sau một hoặc vàilần cơ thể tiếp xúc với chất độc Tùy thuộc vào chất gây độc, đường xâm nhiễm chất độc,biểu hiện ngộ độc có thể xảy ra 1- 2 phút hoặc 30 phút đến 60 phút sau khi cơ thể hấp thuchất độc và thường là dưới 24 giờ Đa số trường hợp ngộ độc cấp tính, sau khi điều trị kịpthời sẽ khỏi và không để lại hậu quả gì đáng kể, có trường hợp ngộ độc cấp tính chuyểnsang dạng á cấp tính hoặc mãn tính

* Ngộ độc bán cấp tính (á cấp tính)

Xảy ra sau nhiều ngày, có khi sau 1- 2 tuần Sau khi điều trị, khỏi nhanh nhưngthường để lại những di chứng thứ cấp với những biểu hiện nặng nề hơn Ví dụ ngộ độc oxitcarbon Ngộ độc á cấp tính có khi chuyển sang thành dạng mãn tính

* Ngộ độc mãn tính

Ngộ độc mãn tính chỉ xuất hiện sau nhiều lần phơi nhiễm với độc chất, có khi làhàng tháng, hàng năm Vì vậy, những biểu hiện của nhiễm độc thường là những thayđổi rất sâu sắc về cấu trúc và chức phận của tế bào, khó điều trị Ví dụ: tác dụng gâyung thư, gây đột biến gen, gây quái thai, gây độc cho gan, thận, hệ thần kinh dẫn đếnsuy giảm chức năng không hồi phục Ngộ độc mãn tính cũng có thể trở thành cấp tínhtrong những điều kiện nhất định (ngộ độc Chì)

Trang 7

Cùng một chất lại có thể biểu hiện tác dụng độc khác nhau tuỳ theo nhiễm độc cấphoặc mãn tính: nhiều hydrocarbon gắn clor khi nhiễm độc cấp (liều cao) thì gây độc trênthần kinh trung ương, nhưng khi nhiễm độc mãn tính (liều thấp trong thời gian dài) thì lại

có biểu hiện gây ung thư (gan), rất ít tác dụng độc trên thần kinh

* Tác dụng tiềm ẩn: là loại phản ứng không được thể hiện trong nhiều ngày, tháng

hay thậm chí hàng năm (ví dụ như tác dụng gây ung thư và gây độc thần kinh của một sốchất hữu cơ) Tác dụng tiềm ẩn thường xảy ra sau khi ngừng phơi nhiễm với chất độc mộtthời gian dài

1.2 ĐỘNG HỌC CỦA CHẤT ĐỘC

Động học của chất độc chuyên nghiên cứu các quá trình chuyển vận của chất độc

từ lúc bị hấp thu vào cơ thể cho đến khi bị thải trừ hoàn toàn Các quá trình đó là: Sự hấpthu (Absorption); Sự phân bố (Distribution); Sự chuyển hóa (Metabolism); Sự thải trừ(Excretion, Elimination)

1.2.1 Sự hấp thu chất độc

Chất độc trước khi hấp thu vào cơ thể phải vượt qua nhiều “hàng rào” bảo vệ của cơthể (da, niêm mạc, các mô…), vì vậy sự hấp thu của chất độc phụ thuộc một phần vào bảnchất các hàng rào và một phần vào chính các đặc điểm phân tử của chất độc (độ lớn phân

tử, tính hòa tan trong mỡ/ nước, pH, mức độ ion hóa,…)

a Chất độc hấp thu qua màng sinh học

Chất độc có thể hấp thu qua màng sinh học bằng các phương thức sau:

- Phương thức lọc: Những chất có trọng lượng phân tử thấp (100 – 200 dalton), tan

được trong nước nhưng không tan được trong mỡ sẽ qua được các lỗ lọc trên màng tế bào(d=4-45A0) do sự chênh lệch áp lực thủy tĩnh

- Phương thức khuếch tán thụ động: Cách vận chuyển này chiếm ưu thế đối với

phần lớn các chất độc Các chất ít bị ion hóa và có nồng độ cao ở bề mặt màng dễ khuếchtán qua màng

Đối với chất độc dạng khí, hơi (thuốc mê bay hơi), sự khuếch tán từ không khí phếnang vào máu phụ thuộc vào áp lực riêng phần của chất khí gây mê có trong không khí hítvào và độ hòa tan của khí mê trong máu

- Phương thức vận chuyển tích cực: Chất độc được chuyển từ bên này sang bên kia

màng sinh học nhờ chất vận chuyển (carrier) đặc hiệu có sẵn trên màng sinh học Nếuchất độc có cấu trúc hóa học tương tự chất nội sinh thì nó sẽ sử dụng chung carrier ví dụChì được vận chuyển bởi hệ vận chuyển Canxi

b Phương thức hấp thụ chất độc

Trang 8

Nhiều chất độc gây chết vật nuôi là do bị Shock và tiếp theo là sự phá hủy cấu trúc

tổ chức tế bào (thường là các acid và bazơ) Trong điều kiện tự nhiên, các tổ chức nhưphổi, ruột, da là những con đường tiếp nhận chính Ngoài ra có thể qua đường mạch máu,phúc mạc, cơ

*Chất độc xâm nhập qua da

Thông thường trên da có cấu tạo lớp sáp làm hàng rào ngăn chặn không cho vi sinhvật và một số chất độc hại ở môi trường xâm nhập vào trong cơ thể Tuy nhiên điều nàykhông hoàn toàn cho mọi chất độc Có những chất nhất là các loại thuốc trừ sâu, lân hữu

cơ rất dễ dàng hấp thu qua da vào trong cơ thể gây ra ngộ độc Những loại thuốc độc nàythường có ghi cảnh báo trên nhãn bao bì

*Chất độc xâm nhập qua đường tiêu hóa

Phần lớn chất độc xâm nhập vào thực phẩm, nước uống đều được hấp thu vào cơ thểqua hệ thống tiêu hóa Đầu tiên các chất độc này kích thích lên lớp tế bào niêm mạcđường tiêu hóa, làm cho lớp tế bào này tiết ra màng nhầy mucosa, nếu chất độc ít thì lớpmàng nhầy này ngăn cản hấp thu vào bên trong tế bào cơ thể, không gây triệu chứng ngộđộc Nhưng nếu như lượng chất độc nhiễm nhiều thì hấp thu vào được bên trong cơ thể sẽgây ra các trạng thái ngộ độc Tùy theo tính chất hóa học của chất độc mà có thể hấp thu ở

dạ dày nhiều hay ở ruột nhiều

Những hợp chất độc hữu cơ có tính acid, hòa tan được trong chất béo sẽ hấp thu ở

dạ dày (với pH thấp) tốt hơn ở ruột và ngược lại hợp chất kiềm hữu cơ thì hấp thu ở ruộttốt hơn ở môi trường dạ dày

*Chất độc xâm nhập qua đường hô hấp

Những chất độc hại dễ bay hơi như một số khí gaz: CO, SO2, NO2 …hay những chấtđộc bám trên các hạt bụi, hạt hơi nước nhỏ li ti bay lơ lửng trong không khí, khi động vậthoặc con người hít phải chúng có thể hấp thu qua lớp tế bào niêm mạc đường hô hấp vàotrong cơ thể gây ra các trạng thái ngộ độc Dạng khí gaz hấp thu dễ hơn các dạng hạt bụihay hạt nước nhỏ Thông thường những hạt có kích thước lớn (> 10µm) bị hệ thống lọcbụi của đường hô hấp giữ lại và thải ra ngoài theo dịch nhày tiết ra ở niêm mạc mũi Tráilại những hạt nhỏ hơn (< 0,01 µm) dễ dàng vào trong phế nang, hấp thu qua niêm mạcphế nang Những loại vi sinh vật bị hệ thống tế bào bạch cầu thực bào Để đề phòng sựnhiễm độc qua đường hô hấp, người ta dùng mặt nạ chống độc khi tiếp xúc với các chấtđộc dễ bay hơi hay bay bụi

1.2.2 Sự phân bố chất độc

Trang 9

Nếu chất độc được hấp thu qua niêm mạc ruột thì con đường đầu tiên là qua máu vàogan, gan thực hiện chức năng giải độc các chất độc Chất độc sau khi được hấp thu vàomáu, một phần sẽ gắn vào protein huyết tương, phần tự do sẽ qua được thành mạch đểchuyển vào các mô, vào nơi tác dụng, vào mô dự trữ, hoặc bị chuyển hóa rồi thải trừ

Do đặc tính hóa học khác nhau nên mỗi loại chất độc có ái lực đặc biệt với các mô Vídụ: Flo thường đọng lại ở xương và răng do tạo các hợp chất Florophosphat canxi; các kimloại nặng, tác dụng với gốc thio (-SH) có nhiều trong tế bào sừng (lông, tóc, móng); Chì đượcgiữ lại trong huyết cầu; các chất trừ sâu có halogen (DDT, Lindan) gắn nhiều tế bào mỡ

Sự phân bố của cùng một loại chất độc trong ngộ độc cấp tính và mãn tính cũngkhác nhau Ví dụ: trong ngộ độc cấp tính, Chì thường thấy có nhiều ở gan thận, nhưngtrong ngộ độc mãn tính lại thường thấy Chì ở tủy xương, tóc, huyết cầu

1.2.3 Sự chuyển hóa chất độc

a Vai trò của sự chuyển hóa chất độc

Chất độc thường là những phân tử tan được trong mỡ, không bị ion hóa vì vậy dễthấm qua màng sinh học, thâm nhập vào trong tế bào và giữ lại trong cơ thể Muốn thảitrừ, những chất này phải được chuyển hóa thành các phân tử có cực, dễ bị ion hóa, do đó

sẽ ít tan trong mỡ, khó gắn vào protein, khó thấm vào tế bào, dễ tan trong nước dễ bị thảitrừ qua nước tiểu, qua phân…

b Các phản ứng chuyển hóa chính

Các phản ứng chuyển hóa chất độc được chia làm 2 giai đoạn (2 pha)

*Chuyển hóa giai đoạn 1

- Các phản ứng chính ở giai đoạn này gồm:

+ Phản ứng oxy hóa: là phản ứng rất thường gặp, được xúc tác bởi các enzyme củamicrosom gan, đặc biệt là hemoprotein, cytocrom P450

+ Phản ứng thủy phân: do các enzyme esterase, amidase, protease,…

+ Phản ứng khử carboxyl (khử COO-): decarboxylase

Qua phản ứng ở pha này, chất độc ở dạng tan được trong mỡ sẽ trở nên có cực, dễtan trong nước Nhưng về mặt tác dụng sinh học, chất độc có thể mất hoạt tính, hoặc chỉgiảm hoạt tính, hoặc đôi khi là tăng hoạt tính, trở nên có hoạt tính

*Chuyển hóa giai đoạn 2

Tiếp theo giai đoạn 1, các chất chuyển hóa vừa tạo thành sẽ liên hợp với các chất nộisinh trong cơ thể như acid glucuronic, acid acetic, acid sulfuric, acid mercapturic hoặc vớiglycocol, glutathion,… để tạo ra các chất liên hợp ít tan trong lipit hơn, tan tốt hơn trongnước, tính phân cực mạnh hơn, đo đó thải trừ tốt hơn qua thận, mật đồng thời hết độc hếttác dụng

Trang 10

Các phản ứng liên hợp chính: các phản ứng liên hợp với acid glucuronic, acidsulfuric, acid amin, phản ứng acetyl hóa, methyl hóa.

Một số chất hoàn toàn không bị chuyển hóa, đó là những hợp chất có cực cao, khôngthấm được qua lớp mỡ của microsom; một số hoạt chất không có cực như ether, barbital

1.2.4 Sự đào thải chất độc

a Đào thải chất độc qua thận

Đây là đường thải trừ quan trọng nhất của các chất tan trong nước, có trọng lượngphân tử nhỏ hơn 300 Dalton (Da)

b Đào thải chất độc qua mật

Sau khi chuyển hóa ở gan, các chất chuyển hóa có trọng lượng phân tử lớn hơn 300

Da sẽ thải trừ qua mật để theo phân ra ngoài Phần lớn sau khi bị chuyển hóa thêm ở ruột

sẽ được tái hấp thu vào máu để thải trừ qua thận

Một số chất sau khi thải trừ qua mật xuống ruột lại được tái hấp thu về gan theođường tĩnh mạch gánh để vào lại vòng tuần hoàn, được gọi là chất có chu kỳ ruột – gan.Những chất này tích lũy trong cơ thể, làm kéo dài tác dụng (Morphin, Tetracyclin,Digitalis trợ tim,…)

c Đào thải chất độc qua phổi

Các chất độc thể hơi, có tính chất bay hơi thải trừ qua phổi, bao gồm:

- Các chất bay hơi như rượu, tinh dầu (Petrol Ether, Menthol)

- Các chất khí: Halothan, Ether etylic

d Đào thải chất độc qua sữa

Các chất tan mạnh trong Lipit (các ancaloid; các thuốc mê, thuốc ngủ nhưBarbiturate, Chloralhydrat ; các hợp chất Clo hữu cơ; các thuốc kháng sinh nhưTetracyclin, Chloramphenicol…) có trọng lượng phân tử dưới 200Da thường dễ dàng thảitrừ qua sữa

1.3 CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHẤT ĐỘC

1.3.1 Cơ sở phân tử của tổn thương tế bào do ngộ độc, nhiễm độc

Trang 11

Đáp ứng tế bào đối với các hoá chất độc xảy ra thông qua 2 cơ chế: ảnh hưởng đếncấu trúc và ảnh hưởng đến chuyển hoá trong tế bào.

- Ảnh hưởng đến cấu trúc: Tính toàn vẹn của màng tế bào bị thay đổi sẽ ảnh hưởngđến sự vận chuyển các thể dịch và chất điện phân, đến sự điều chỉnh thể tích tế bào

- Ảnh hưởng đến chuyển hoá:

(1) Làm giảm năng lượng sẵn có cho quá trình vận chuyển tích cực, tổng hợp cáccao phân tử và duy trì cân bằng thẩm thấu (bơm kali – natri)

(2) Làm xáo trộn điều khiển axit nucleic, gây biến tính protein cấu trúc dẫn đếnngừng trệ tổng hợp protein Quá trình tăng trưởng bị ảnh hưởng ( hiện tượng tăng sinh

hay ung thư) do DNA bị phá huỷ, không được sao chép đúng hoặc vượt quá khả năng

điều khiển sự ổn định nội môi

(3) Gây tích lũy các chất béo và các sắc tố bất thường

Một số Xenobiotic là acid, bazo mạnh, chất Nicotin, Aminoglycosides, kim loại nặng,acid Cyanhdric (HCN), oxit Carbon là những chất độc có tác động trực tiếp, trong khi cácchất độc khác lại có tác động gián tiếp do các chất chuyển hóa của chúng Ví dụ: acidOxalic được hình thành từ quá trình chuyển hóa Ethylene glycol có thể gây nhiễm acid vàgiảm canxi huyết, tắc ống thận do kết tủa Canxi oxalate Một số chất độc phản ứng vớienzyme hoặc thụ thể ví dụ: hợp chất phosphor hữu cơ parathion được chuyển hóa thànhchất ức chế men Cholinesterase Tuy nhiên, hay gặp nhất là các trường hợp Xenobiotickhi qua chuyển hóa tạo thành các phân tử khác nhau trong cơ thể, đó là:

- Electrophile (chất ưa điện tử)

- Free radical (gốc tự do)

- Nucleophile (chất ái nhân)

- Redox – active reactant (chất phản ứng oxy hóa khử)

a Sự hình thành chất ưa điện tử

Dưới tác dụng của các men microsom oxy hóa có chức năng hỗn hợp (MFOs –Microsomal mixed function oxidaza), chất lạ (Xenobiotic) sẽ chuyển hóa thành dạngtrung gian ưa điện tử, đây là những chất thiếu điện tử do đó có thể kết hợp với các chấtkhác theo dạng thức dùng chung nguyên tử, các chất mới hình thành này có thể liên kếtvới ADN, lipit và protein làm thay đổi cấu trúc của chúng

Trang 12

Gốc superoxid (gốc đa oxy) phản ứng với lipid chưa no, quy nạp 1 chuỗi phản ứng tự xúctác, tạo thành các gốc lipid tự do và sau đó peroxid hoá lipid.

Sau khi gốc tự do được hình thành, chúng sẽ gây tác hại như phá hủy tổ chức hoặc gâyung thư Quá trình peroxit hóa lipit làm phá hủy màng tế bào làm biến thái cấu trúc, làmmất khả năng hấp thu và chuyển vận qua màng tế bào

Sơ đồ 1: Sự hình thành các gốc tự do do hóa chất độc và tác hại của chúng

Hóa chất và các sản phẩm chuyển hóa độc hại làm triệt tiêu gradient H+ trong ty thểdẫn đến ức chế quá trình phosphoryl oxy hóa, làm hạn chế sử dụng oxy và làm giảm quátrình tạo ATP, đồng thời tạo ra nhiều gốc phosphor vô cơ, gây biến dạng đứt nát màng ty

H2O2

OH

Phản ứng với các tế bào cao phân tử

Peroxid hóa lipit

Làm biến chất protein

SOD Peroxid

CAT

H2Fe

H2O

Trang 13

thể Do màng ty thể bị tổn thương nên Na+ vào bên trong tế bào nhiều, K+ thoát ra ngoài

và Ca++ đi vào thì Mg++ cũng thoát ra ngoài, do đó ảnh hưởng đến sự hoạt hóa ATPase

Ty thể biến đổi làm cho năng lượng dự trữ trong tế bào giảm đi, quá trình đường phânyếm khí tăng lên, tích tụ nhiều acid lactic gây giảm pH của bào tương làm ảnh hưởng tớinhân, màng tế bào và các bào quan khác

Màng tế bào có tính không thấm do đặc tính cân bằng các ion thông qua cơ chế “bơm”Natri (Na) trên màng tế bào Bơm này cho phép vận chuyển Na+ và K+ vào tế bào Hoạtđộng này cần có năng lượng (ATP) ATP giảm làm giảm hoạt động của bơm Natri Kếtquả là Na+ vào tế bào nhiều và K+ thoát ra ngoài màng tế bào Trong tế bào, tỷ lệ Na+/ K+

tăng, tế bào cũng mất ion và tích tụ Ca++, tỷ lệ Ca++/ Mg++ tăng Quá trình mất cân bằngtrên dẫn tới H2O thâm nhập vào tế bào làm tế bào trương lên Lysosome cũng bị trươnglên, tính thấm của màng tăng, các enzym thoát ra vào dịch tế bào tham gia quá trình hủy

tế bào Sự mất cân bằng Canxi gây hoạt hóa phospholipase, màng tế bào tự tiêu hủy, mấtchức năng hàng rào, tế bào sưng và bị tổn thương không phục hồi dẫn đến hoại tử tế bào

Sơ đồ 2 Tiến trình tế bào bị tổn thương và bị chết do chất độc

Trong quá trình giải độc, cơ chế phòng vệ cũng thực hiện các chức năng này

Hóa chất độc hoặc sản phẩm chuyển hóa độc hại

Ức chế chuyển hóa năng lượng làm yếu ATPTích lũy Natri và Canxi trong dịch bào tương

Na+/ K+ ATPase giảm Mg+2/Ca+2 ATPase

giảm

hoạt hóa canxi

Tế bào phồng lên tạo

mụn nước và không bào Phá hủy màng nội

quanMất điều khiển Canxi

Giải phóng acid

hydrolase từ lysosomes

Tế bào chết

Trang 14

- Men SOD- superoxit dismutase: xúc tác quá trình khử các gốc “siêu” oxy thành cáchydrogen peroxit (H2O2) Men MnSOD có tâm hoạt động là nguyên tử Mangan (Mn) cóthể loại bỏ được anion “siêu” oxy sinh ra ở ngay trong các ty lạp thể Men CuZnSOD cónhiều trong bào tương cũng là men tham gia loại bỏ gốc “siêu’ oxy Nhờ hai nhóm mennày mà quá trình bảo vệ tế bào cũng đã được diễn ra

- Men Catalase có trong tế bào phân giải H2O2 thành nước và oxy

- Men Glutathion peroxydase GSHP có chứa Selen cũng có thể biến H2O2 thành nước

và rượu

c Sự hình thành nucleophile

Sự hình thành nucleophile là một cơ chế không phổ biến, ít gặp Ví dụ: sự tạo thànhCyanid từ Amygdalin dưới tác dụng của men Bacterial β – glucosidase trong bệnh Gút ởngười

d Sự hình thành chất phản ứng oxy hóa khử

Trong quá trình khử Nitrat thành Nitrit Ví dụ: Methemoglobin tạo thành khi Nitratchuyển thành Nitrit và gây độc

1.3.2 Cơ chế gây độc đặc trưng trên cơ quan, tổ chức

a Cơ chế gây tổn thương hóa học

Là cơ chế tác động trực tiếp lên các mô làm thay đổi chức năng điều khiển sự ổnđịnh của tế bào Cơ chế này do các chất có tác động mạnh như acid, bazo, các chất gâyđông vón protein, hoặc các chất có tác dụng phá hủy màng lipit Sự gây tổn thương nàythường ngay sau khi tiếp xúc, không mang tính đặc hiệu Vùng tổn thương thường là da,mắt, niêm mạc hô hấp trên, xoang miệng

b Cơ chế gây hoại tử tế bào biểu mô

Thường là ở các tổ chức tế bào biểu mô có chức năng chuyển hóa cao như tế bàoống thận, biểu mô ruột, tủy xương,…Cơ chế này thường là do tổn thương các men chủyếu có chức năng chính trong chuyển hóa

c Cơ chế tác động thông qua ức chế hoặc cạnh tranh enzyme

Quá trình ức chế hoặc cạnh tranh men là do sự tương tác trực tiếp với chất độc làmthay đổi cấu trúc bậc 3-4 của các men, ức chế cạnh tranh thường là chất độc có cùng cấutrúc hay cấu trúc tương tự như các men Cấu trúc chất độc –men có tính tạm thời, khônglàm thay đổi cấu trúc của men và mang tính thuận nghịch (ví dụ trong các thuốc độc trừsâu nhóm Phosphor hữu cơ và Carbamate ức chế men Cholinesterase)

Trang 15

d Cơ chế gây độc do ảnh hưởng đến các quá trình chuyển hóa hoặc sinh tổng hợp của cơ thể

Các chất độc tác động theo cơ chế này thường ảnh hưởng đến các sản phẩm cần chonăng lượng, cho cấu trúc hoặc quá trình tăng trưởng

Quá trình phosphoryl hóa giải phóng năng lượng từ ADP (Adenosin di phosphate)thành ATP (Adenosin triphosphat) bị các chất độc diệt nấm như 2,4D (2,4dinitrophenol),Chlorophenol và Asenat tác động làm tăng lượng oxy sử dụng do đó năng lượng bị tiêuhao mà không được dự trữ trong liên kết phosphate Các chất diệt nấm ức chế Phosphorylhóa (ATP), giảm năng lượng gây cơ thể mệt mỏi, yếu dần

Các chất độc gây thương tổn ADN hoặc gắn với Ribosome trong quá trình giải mãlàm ảnh hưởng đến tổng hợp acid Nucleic và ức chế tổng hợp protein Cơ chế này diễn ramuộn, tiềm ẩn trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng Ví dụ như nhiễm độc Aflatoxin,các hợp chất Thủy ngân hữu cơ và Amantine (độc tố nấm Amanita phalloides)

Chất độc tác động đến hệ thống lưới nội mô cản trở quá trình chuyển hóa mỡ Kết quảcủa quá trình là: Giảm tổng hợp protein nhận và giảm kết hợp giữa phospholipid vàtriglycerid gây tích lũy mỡ trong tế bào

e Cơ chế tác dụng trên hệ thần kinh

Thường là phong tỏa sự dẫn truyền xung động thần kinh, ức chế phản xạ dẫn đến rốiloạn vận động hay mất phản xạ, co giật như bệnh Uốn ván Thông thường trong ngộ độcStrychnin do phong tỏa Glycin có trong hệ thống phản xạ của tủy sống

Chất độc làm thay đổi tính thấm của màng tế bào thần kinh đối với ion Các dòng

Na+ và K+ bị các chất độc như DDT và Pyrethrin làm thay đổi, dẫn đến làm thay đổingưỡng tác động lên tế bào

Chất độc ức chế các enzym thiết yếu cho chức năng cân bằng, làm thay đổi đặc

tính dẫn truyền qua xinap thần kinh (Ví dụ: thuốc trừ sâu loại phospho hữu cơ ức chế men

cholinesterase)

Sự tổn thương tế bào thần kinh trung ương hay ngoại vi dẫn đến ảnh hưởng của cácnơron và hệ thống dẫn truyền thần kinh Tổn thương thần kinh thường là mãn tính hayvĩnh viễn

Hoại tử nơron là do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chất độc đến các nơron.Tác động trực tiếp: các hợp chất Thủy ngân hữu cơ làm suy yếu sự tổng hợp protein thầnkinh thiết yếu Tác động gián tiếp: thiếu oxy mô do cacbon monooxide hay cyanide gâytổn thương thần kinh thứ phát

Chất độc hủy Myelin (demyelination) ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh do thayđổi sự lan truyền của hiệu thế vận động dọc trục thần kinh

Trang 16

f Cơ chế gây tổn thương hệ mạch và máu

Chất độc tác động trực tiếp của đến các tế bào tuỷ xương làm giảm hoặc ngừng sảnsinh tế bào máu

Quá trình tổng hợp huyết sắc tố có thể chịu tác động của chất độc theo một số cơchế sau: (1) Giảm tổng hợp huyết sắc tố hoặc tăng lượng tiền thân huyết sắc tố dẫn đếntình trạng thiếu máu, từ đó dẫn đến rối loạn chuyển hoá Porphyrin (2) Sắt tronghemoglobin có thể bị oxy hoá từ sắt hoá trị II thành sắt hoá trị III, tạo thànhMethemoglobin không có khả năng vận chuyển oxy (Methemoglobin được tạo ra trong

ngộ độc Nitrit) (3) Quá trình oxy hoá làm biến chất Hemoglobin, tạo ra các thể Heinz

làm tăng cả 2 quá trình thực bào hồng cầu và tan máu tự nhiên Hemoglobin mèo rất mẫncảm với quá trình tạo các thể Heinz

Cacbon monoxide rất giống Hemoglobin, có thể gắn với Hemoglobin tạo thànhCarbonxyhemoglobin không vận chuyển được oxy

Bệnh đông máu do độc tính của Vitamin K dẫn đến xuất huyết thứ phát Các chấtdiệt loài gặm nhấm như Narfarin và Brodifacoum ngăn sự tái hoạt hoá của Vitamin cầnthiết cho quá trình tổng hợp Prothrombin và các yếu tố VII, IX và X

g Các chất có tác dụng tương tự những sản phẩm chuyển hoá và chất dinh dưỡng thông thường

Tác dụng của các hormon estrogen ngoại sinh có thể giống tác động của cáchormon nội sinh bình thường Độc tố nấm estrogen, độc tố thực vật và chất bổ sung thức

ăn có thể làm thay đổi chu kỳ sinh sản

Các thành phần dinh dưỡng như vitamin D, Selen và iod nếu vượt quá ngưỡng cầnthiết có thể gây nhiễm độc các cơ quan bị ảnh hưởng khi thiếu các chất này

h Làm suy giảm miễn dịch

Các chất độc làm ảnh hưởng đến cơ quan có trách nhiệm hình thành miễn dịch nhưgiảm tổng hợp kháng thể, ngăn cản bổ thể và một số quá trình khác, giảm hình thànhlympho bào Các chất độc ảnh hưởng đến cơ quan miễn dịch như kim loại nặng, độc tốnấm mốc, dioxin,…

k Gây quái thai và ung thư

Quá trình này xảy ra trong 3 tháng đầu tiên của thời kỳ có thai Chất độc có thể làmchết thai, gây biến thái thai, gây quái thai

Do kết hợp với ADN làm thay đổi di truyền, gây kích thích mô hay tổn thương môtạo các khối ung thư Ví dụ: độc tố nấm mốc Aflatoxin, Asen…

Trang 17

1.3.3 Ảnh hưởng độc hại của chất độc

Chất độc xâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau, sau một thời gian ngắn đềuđược phân bố vào toàn cơ thể Tùy theo tính chất lý hóa và điều kiện xâm nhập vào cơthể, chất độc có thể tồn lưu ở một số bộ phận Chất độc tác dụng ngay vào các tế bào sống

và làm rối loạn hoạt động của chúng

Các chất gây rối loạn cảm giác như Salicylat gây chóng mặt; Santonin, Quinacrinlàm hoa mắt; Streptomycin, Kanamycin, Neomycin gây điếc

Một số chất tác dụng lên hệ giao cảm, gây giãn đồng tử mắt như Adrenalin,Ephedrine, Atropine, Nicotin Ngược lại một số chất như Eserin, Acetylcholine,Prostigmin làm co đồng tử mắt

b Ảnh hưởng đến bộ máy tiêu hóa

Chất độc khi xâm nhập qua đường tiêu hóa thường gây nôn mửa (ngộ độc Thủyngân, Thuốc phiện, Phosphor hữu cơ…) nhưng cũng do tác dụng của chất độc trên hệthần kinh làm co bóp mạnh cơ hoành

Các chất độc như phosphor hữu cơ, nấm và một số kim loại như Chì, Thủy ngân,Bismut có thể gây tiết nước bọt nhiều; ngược lại Atropine làm khô miệng; acid, kiềm kíchthích đường tiêu hóa như thuốc chống đông máu, dẫn xuất Salicylat gây chảy máu đườngtiêu hóa

c Ảnh hưởng đến gan

Gan là cơ quan nằm ở ngã tư đường tiêu hóa Từ tĩnh mạch cửa, gan nhận tất cả cácchất do chuyển hóa thức ăn cung cấp và các chất độc Mặc khác, các chất chứa trong máuqua hệ thống đại tuần hoàn đều có tác dụng đến gan Hầu như trường hợp ngộ độc nàocũng có tổn thương ở gan Ví dụ như Rượu làm xơ hóa gan, thoái hóa mỡ trong ngộ độcPhotpho, Asen…

d Ảnh hưởng đến tim mạch

Các chất trợ tim dùng quá liều đều gây độc: Cafein, Adrenalin, Amphetamine….làmtăng nhịp tim Digitalin, Eserin, Phosphor hữu cơ làm giảm nhịp tim Ngộ độc gan cóc vànhựa da cóc mạch không đều; trong ngộ độc Quinidin, Imipramin có thể gây ngừng tim

Trang 18

Một số chất ảnh hưởng đến sự co giãn mạch như Acetylcholin làm giãn mạch…

e Ảnh hưởng đến máu

Các thành phần huyết tương, hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu trong máu đều có thể bịthay đổi dưới tác dụng của chất độc

- Huyết tương: các thuốc mê (Chloroform, Ether) làm giảm pH, hạ thấp lượng kiềm

dự trữ và tăng Kali của huyết tương Nọc rắn Viperid làm tăng khả năng đông máu, ngượclại loại Colubride làm mất khả năng đó

- Hồng cầu: Số lượng hồng cầu trong một cm3 máu tăng lên trong trường hợp ngộđộc gây phù phổi (Clo, Photgen, Cloropicrin) do huyết tương thoát ra nhiều nên máu bị đặclại Hồng cầu bị phá hủy khi bị ngộ độc Chì, nhiễm tia X, Benzen hoặc các dẫn xuất củaamin thơm Khi oxit carbon liên kết với Hemoglobin tạo ra Carboxyhemoglobin làm mấtkhả năng vận chuyển oxy nên cơ thể bị ngạt Các dẫn xuất Nitro thơm, Aniline, Nitrit oxyhóa Sắt hóa trị II chuyển Hemoglobin thành Methemoglobin làm ngừng khả năng vậnchuyển oxy

- Bạch cầu: Số lượng bạch cầu giảm trong trong ngộ độc Benzene gây thiếu máu.Ngược lại trong ngộ độc kim loại nặng bạch cầu tăng

- Tiểu cầu: số lượng tiểu cầu có thể hạ xuống còn vài chục nghìn trong ngộ độcBenzen

Mặt khác dưới tác dụng của chất độc một số thành phần mới xuất hiện trong máu Ví

dụ trong ngộ độc Chì xuất hiện chất Copropocphirin; trong ngộ độc acid mạnh xuất hiệnHematopocphirin Những chất này có ý nghĩa trong chẩn đoán ngộ độc

f Ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp

Các chất độc xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp có thể gây:

- Tác dụng tại chỗ như ho, kèm theo chảy nước mũi, nước bọt Ví dụ: các hơi độc,hơi ngạt

- Tác dụng toàn thân như khí CO gây tím tái

- Chất độc ức chế hô hấp gây ngạt thở tiến tới ngừng thở như thuốc phiện, Cyanid,thuốc ngủ Một số chất có thể gây phù phổi như Hydrosulphit, phosphor hữu cơ

g Ảnh hưởng đến thận

Chất độc có thể tác động lên các chức phận của thận Thủy ngân, Chì, Cadimi làmtăng Ure và Albumin trong nước tiểu Acid oxalate, thuốc chống đông máu, Cantharit gâytiểu ra máu Các dung môi có Clo gây viêm thận Nhiều chất gây vô niệu như Thủy ngân,Sulfamit, mật cá trắm

Trang 19

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÁC DỤNG CỦA CHẤT ĐỘC

Để có tác dụng gây độc, các chất độc hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng phảiđạt được nồng độ đủ cao trong khoảng thời gian nhất định trong cơ thể (tùy loại chất độc).Các yếu tố khi tương tác với nhau có thể làm thay đổi đáp ứng của cơ thể đối với chấtđộc, ảnh hưởng đến đáp ứng liều lượng và chẩn đoán ngộ độc Mặc dù từng yếu tố khônggây ảnh hưởng lớn, nhưng nhiều yếu tố cùng tác động thì ảnh hưởng của chúng sẽ trở nên

có ý nghĩa

1.4.1 Yếu tố liều lượng của chất độc

Có một số chất độc khi ở liều thấp thì nó là yếu tố dinh dưỡng, hoặc là thuốc trịbệnh, ví dụ: sắt, đồng, kẽm…Nhưng khi ở liều cao thì lại gây ra ngộ độc, có những triệuchứng bệnh tích điển hình, tuy nhiên cũng có những trường hợp xảy ra triệu chứng ngộđộc thần kinh quá nhanh, triệu chứng bệnh tích không rõ ràng, cũng có trường hợp saumột thời gian dài, sau nhiều tháng, nhiều năm mới xảy ra triệu chứng Trong thực tiễn, tùytheo loại chất độc mà người ta qui định riêng Có những chất không được phép có trongthức ăn, song đa số các chất độc khác khó tránh khỏi trong thức ăn và thực phẩm, vì vậyngười ta có những qui định liều như sau:

- Liều an toàn: là liều mà ở mức đó không có ảnh hưởng gì đến sức khỏe cơ thểhiện tại cũng như lâu dài Liều này cũng thay đổi theo mức độ nghiêm ngặc của mỗinước Ví dụ như các nước EU thì quy định liều Aflatoxin cho phép trong thực phẩm thấphơn Mỹ

- Liều gây ngộ độc LD50: thường trong y học và thú y, để so sánh độc tính của mộtloại chất độc nào đó, người ta thường sử dụng liều LD50, đây là liều gây chết 50% khi thửnghiệm một loại thuốc hay một loại hóa chất độc hại nào đó trên động vật

- Liều có điều kiện: là liều mà cơ thể con người và động vật chỉ được phép dùngtrong một thời gian nhất định theo khuyến cáo của bác sĩ Nếu dùng kéo dài hơn sẽ bị ngộđộc tích lũy

* Sự nhắc lại liều độc:

Sự nhắc lại liều độc dẫn tới gây độc rõ hơn là sử dụng liều độc chỉ một lần Khinhiễm độc lại làm cho chức năng cơ thể khó có thể hồi phục do tổ chức bị tổn hại Tuynhiên cũng có trường hợp khi lặp liều gây độc nhiều lần dẫn đến sự điều chỉnh chống lạichất độc (liều á cấp tính) và miễn dịch thực sự Với các loại độc chất bài tiết nhanh, thìmột liều độc mạnh có tác dụng gây độc mạnh hơn sự lặp lại liều á cấp tính Ví dụ ở thỏvới một liều gây độc á cấp tính kéo dài của Cyanid có thể không gây độc vì được biến đổithành Thiocyanat

Trang 20

1.4.2 Yếu tố giống loài động vật

* Chất độc có thể độc với này mà không độc với loài vật khác Điều này rất có ýnghĩa trong việc sản xuất thuốc trừ sâu, diệt côn trùng và các chất điều trị hoá học Ví dụMorphin ít độc đối với gia súc hơn với con người Gia cầm kháng với nhiều chất độc hơn

là gia súc Ví dụ thuốc trừ sâu DDT có thể gây độc qua tiếp xúc với da, đặc biệt lớp kitincủa côn trùng Đối với gia súc ít độc hơn vì ít hấp thu qua da Hấp thu chất độc qua đườngniêm mạc tiêu hoá ở chó rất nhanh, chỉ cần 1 lượng nhỏ đã gây triệu chứng ngộ độc.Trong gan thỏ chứa 1 ester có thể phá huỷ rất nhanh atropin nên thỏ không bị ngộ độc càđộc dược Một loại hành tây biến màu đỏ có tác dụng diệt côn trùng, sâu bọ nhưng lạikhông độc với chuột đồng

Sự mẫn cảm với một số chất độc ở các loài vật nuôi còn chưa được giải thích rõ Ví dụ:Morphin gây yên tĩnh thần kinh ở người và chó nhưng lại gây kích thích đối với mèo và cácloại gia súc khác Bê giống Priesishen Kall được ăn 23 - 42 mg Gossypol/kg trọng lượng(chất độc chiết từ hạt bông) đã bị chết Giống bê Jersey Kalle ăn tới 82 mg/kg P lại không bịngộ độc

Loài nhai lại mẫn cảm với các hợp chất kim loại nặng hơn các loài vật khác (ngựa,chó, mèo, lợn) Liều chết của Carbonat chì ở Ngựa là 500-700gam nhưng ở Trâu, Bò chỉ

50 gam

Đối với loài nhai lại: độc tố thực vật lại ít gây độc hơn so với các loài khác Ví dụ:Trâu, Bò cho ăn lá ngón phơi khô từ 25 - 30 gam trong 4 ngày liên tục cũng không bị ngộđộc Trong khi đó Ngựa chỉ ăn 30 gam trong 1 lần là bị chết ngay Có thể giải thích làhoạt chất gây độc và các glucozid khác trong lá ngón và một số chất độc có nguồn gốcthực vật khác bị phân hủy do quá trình lên men của vi sinh vật trong dạ cỏ Chất độc bịpha loãng dạ cỏ của động vật có sừng

* Vật nuôi có hệ thần kinh càng phát triển thì càng mẫn cảm hơn với một số chất độc

Ví dụ: Liều chết của Morphin ở thỏ là 300 - 400mg, nhưng ở người là 6 mg Nhưvậy, thỏ có thể chịu đựng được liều độc cao hơn gấp xấp xỉ 70 lần so với người 5mgatropin gây độc nặng ở người nhưng chó và thỏ ăn với lượng lớn hơn 100 lần (500 mg)vẫn không chết

- Vật nuôi có sừng rất mẫn cảm với Tetracyclin, Chloroform và kim loại nặng đặcbiệt là Thủy ngân

- Ngựa mẫn cảm với độc tố nấm đặc biệt là Stachybotrys alternans

- Gia cầm mẫn cảm hơn với muối ăn, Cyanhydric

- Mèo mẫn cảm với acid Carbonic

* Đặc điểm giải phẫu ở các loài động vật khác nhau ảnh hưởng đến tác dụng của chất độc

Trang 21

- Động vật nhai lại lưu giữ một lượng lớn thức ăn trong dạ cỏ, làm kéo dài thờigian hấp thu chất độc Độc tính của chất độc giảm do chất độc đã qua chuyển hóa bởi hoạtđộng của vi sinh vật trong dạ cỏ Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa sinh học trong dạ cỏcũng có thể hoạt hóa dẫn đến làm tăng độc tính của một số tác nhân gây độc (ví dụ: Nitratchuyển hóa thành Nitrit).

- Ngựa, chuột, thỏ không có khả năng nôn sinh lý do cấu tạo giải phẫu, vì vậy chất độc lưu giữ trong đường tiêu hóa, gây độc mạnh hơn so với những động vật có thể nôn được

- Những con vật thiếu sắc tố ở da sẽ dễ bị tác động của các chất độc gây nhiễm độcquang học (Phototoxicosis)

- Hàng rào máu - não ngăn cản chất độc xâm nhập vào trong não Ở một số độngvật, hàng rào máu - não kém phát triển, tạo điều kiện cho chất độc xâm nhập vào não, dẫnđến ngộ độc (ví dụ, ngộ độc ivermertin ở chó Colli)

* Đặc điểm chuyển hóa liên quan đến loài và gen ảnh hưởng đến tác dụng của chất độc

- Ảnh hưởng của chuyển hóa giai đoạn 1: Sự chuyển hóa các chất độc thành chất

có độc tính cao hơn giữa các loài là rất khác nhau Ở chó, quá trình chuyển hóa chất diệtloài gặm nhấm Fluoroacetate thành Fluorocitrate xảy ra nhanh hơn và độc tính của nó lớnhơn gấp 6- 8 lần đối với chuột Ở chuột và cừu chỉ hình thành một lượng rất nhỏ độc tốAflatoxin có hoạt tính sinh học, vì vậy chúng có sức đề kháng với độc tố này tốt hơn sovới các loài khác

- Ảnh hưởng của chuyển hóa giai đoạn 2: giữa các loài có sự khác nhau của các

quá trình chuyển hóa giai đoạn 2, dẫn đến chậm chuyển hóa và chậm thải trừ chất độc

- Ở Mèo, sự hình thành glucuronic giảm và do vậy khả năng bị nhiễm độc các chấtnhư Phenol ở những động vật này là cao

- Quá trình liên hợp với acid Sulfuric của các chất độc ở Lợn xảy ra yếu hơn so với

ở các loài vật khác Acid Mercapturic ít được hình thành ở chuột lang

- Không thấy có quá trình Acetyl hóa các hợp chất amin thơm ở chó

1.4.3 Lứa tuổi của động vật

Động vật non nói chung hệ thống đề kháng, hệ thống khử độc và loại thải độc tố rangoài của cơ thể phát triển chưa hoàn thiện, do đó sức đề kháng với độc tố của cơ thể thúnon cũng yếu hơn thú trưởng thành Ngược lại cơ thể già yếu sự trao đổi chất cũng giảmxuống, sức đề kháng với độc tố cũng giảm

1.4.4 Tính biệt

Ảnh hưởng của độc tố trên giới tính cũng chỉ là khái niệm tương đối Ở trạng tháibình thường thì không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới tính trên lĩnh vực đề kháng

Trang 22

với độc tố Tuy nhiên, khi giới tính cái mang thai, sinh sản hoặc nuôi con thì rất mẫn cảmvới độc tố Ví dụ độc tố Aflatoxin có thể gây chết phôi tỷ lệ cao.

1.4.5 Trạng thái sức khỏe

Sức khỏe của cơ thể có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đề kháng đối với độc tố Ví

dụ khi cơ thể bị viêm gan hoặc viêm thận do nguyên nhân khác không phải độc tố thì khảnăng loại bỏ độc tố của cơ thể rất kém Vì vậy cũng với một liều lượng giống nhau, nhưng

ở cơ thể khỏe mạnh có thể đề kháng tốt hơn ngược lại với cơ thể ốm yếu có thể phát sinhtriệu chứng ngộ độc

1.4.6 Khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng

Khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sức đề kháng của

cơ thể với chất độc, ví dụ khi khẩu phần ăn thiếu cholin hoặc methionin sẽ gây ra hiệntượng tích lũy mỡ gan làm cho suy yếu chức năng giải độc của gan, từ đó sự đề kháng vớiđộc tố cũng sẽ kém

1.4.7 Trạng thái vật lý của chất độc

Cùng một loại chất độc, cùng một liều lượng như nhau, nhưng chất độc ở trạng thái hòa tan trong nước, dễ hấp thu thì sẽ gây ra triệu chứng ngộ độc nhanh hơn, nhưng nó loạithải ra ngoài cũng nhanh hơn Ngược lại ở trạng thái nhũ dầu, hoặc ở dạng bột không tan thì chất độc hấp thu chậm nên gây ra triệu chứng ngộ độc muộn hơn, nhưng khi chất độc ngấm vào cơ thể tích lũy trong mô mỡ thì loại nó ra khỏi có thể cũng chậm hơn

Trang 23

Chương II CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC

Mục tiêu: Sinh viên nắm được các bước chẩn đoán ngộ độc, phân biệt giữa ngộ các độc chất độc với các bệnh truyền nhiễm thông thường; nguyên tắc điều trị trong ngộ độc các chất độc

2.1 CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC

2.1.1 Khái niệm

Chẩn đoán ngộ độc là việc đánh giá, phát hiện các dấu hiệu, triệu chứng của sự rốiloạn chức năng của các cơ quan, tổ chức của cơ thể để tìm ra nguyên nhân gây ngộ độc,nhằm điều chỉnh những tác dụng của chất độc, xử lý và điều trị ngộ độc, nhiễm độc.Chẩn đoán ngộ độc bao gồm các loại sau:

a Chẩn đoán lâm sàng (clinical diagnosis): được thực hiện trước tiên để xác định

các hệ cơ quan nào bị ảnh hưởng bởi chất độc (ví dụ: sốc, động kinh nghiêm trọng, ngừng

hô hấp…), theo dõi và khống chế các triệu chứng để cứu sống bệnh súc

b Chẩn đoán tổn thương bệnh lý (lesion diagnosis) được thực hiện để mô tả những

biến đổi bệnh lý ở mô, tổ chức (ví dụ: hoại tử trung tâm tiểu thùy gan)

c Chẩn đoán căn bệnh (etiologic diagnosis): Đây là chẩn đoán quan trọng nhất,

nhằm xác định nguyên nhân gây độc hoặc nguồn gây độc, là cơ sở để tiến hành các biệnpháp trị liệu và phòng chống cụ thể Trong quá trình chẩn đoán nguyên nhân gây ngộ độccho vật nuôi cần lưu ý:

- Khi chưa chẩn đoán được nguyên nhân gây độc không nên sử dụng các loại thuốcđối kháng để giải độc

- Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tránh những chất độc tồn đọng trong chuỗi thức ănthông qua việc khẳng định được chất cụ thể gây độc

- Xác định trách nhiệm và tránh được thiệt hại do ngộ độc, nhiễm độc gây ra

2.1.2 Chẩn đoán ngộ độc

Ngộ độc là loại bệnh xảy ra hàng loạt với một lượng lớn vật nuôi Vì vậy việc chẩnđoán sớm và chính xác là bước rất quan trọng để phòng và điều trị ngộ độc có hiệu quả Chẩn đoán ngộ độc bao gồm các bước sau:

a Thu thập thông tin về nguyên nhân và điều kiện gây ngộ độc

Qua hỏi trực tiếp những người chăn nuôi, chủ vật nuôi Thu thập các thông tin vềloài, số lượng vật nuôi bị ngộ độc, loại thức ăn cho vật nuôi ăn trước đó vài tuần và thờiđiểm xảy ra ngộ độc

Trang 24

Ngộ độc thường xảy ra do khâu cho ăn, chăm sóc và sử dụng vật nuôi Một trongnhững nguyên nhân gây ngộ độc thường xuyên nhất đối với vật nuôi chăn thả là cây cỏ độc.

Đối với vật nuôi nuôi nhốt, ngoài các thực vật độc ra, vật nuôi còn bị ngộ độc bởithức ăn bị hỏng, ôi thiu, thức ăn nhiễm nấm mốc, vi khuẩn và độc tố của chúng

Vật nuôi, gia cầm còn bị ngộ độc bởi các hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), nhưcác hợp chất clor hữu cơ, phosphor hữu cơ, một số hợp chất vô cơ như carbamid, muối

ăn, Sulfat đồng, Canxi và Natri asenat, Natri fluorid, Phospho kẽm các chất hóa học làphân hữu cơ cũng có thể gây ngộ độc Ngoài ra vật nuôi còn bị ngộ độc bởi nọc độc khi bịđộng vật độc cắn (rắn, nhện, ong )

Cần xác định xem có xảy ra sự phơi nhiễm với loại chất độc (độc tố) đã được biếtđến hoặc bị nghi ngờ không?

Hỏi chủ vật nuôi những thay đổi về địa điểm, nguồn thức ăn, việc sử dụng chất hoáhọc (ví dụ: phun thuốc diệt côn trùng, bón phân cho đồng cỏ, sử dụng thuốc thú y điều trịcho vật nuôi) và những ứng dụng khác có thể gây ngộ độc, nhiễm độc Nếu cần thiết phảikiểm tra nơi nuôi nhốt vật nuôi

Sự có mặt của một loại chất độc trong môi trường hay thậm chí vật nuôi đã ăn phảichất độc đó chưa đủ để khẳng định được nguyên nhân gây ngộ độc Đây mới chỉ là nhữnggợi ý cho phương hướng điều tra tiếp theo, đó là:

- Khẳng định được sự phơi nhiễm chất độc là đủ để gây ngộ độc

- Ghi lại các triệu chứng lâm sàng, những biến đổi về trao đổi chất, biến đổi ở các

mô điển hình trong quá trình vật nuôi phơi nhiễm với chất độc bị nghi ngờ

- Xác định mức độ gây độc của chất độc đối với cơ quan hay mô đích

Bảng 2.1 Những thông tin cần thu thập để chẩn đoán ngộ độc, nhiễm độc ở vật nuôi

* Tiểu sử tình trạng sức khoẻ của bệnh súc

- Tình hình bệnh tật trong thời gian gần trước khi vật nuôi bị ngộ độc

- Tình hình phơi nhiễm với chất độc của các vật nuôi khác trong vòng 30 ngày trướckhi xảy ra ngộ độc

- Lịch tiêm phòng

Trang 25

- Các biện pháp trị liệu, phun, tẩy thuốc trong thời gian gần đây

- Lần khám bệnh cuối cùng của bác sỹ thú y

- Quy mô đàn (đối với vật nuôi nuôi theo đàn)

- Vật nuôi mua về hay được nuôi tại gia đình

- Tình trạng ốm, chết của đàn (đối với vật nuôi nuôi theo đàn)

- Cá thể đầu tiên bị ngộ độc (bị ốm) được phát hiện: cần tìm hiểu con vật này đã sốngkhoẻ mạnh trong thời gian bao lâu? Hiện tượng ngộ độc đã xuất hiện trong đàn khi nào?

* Dữ liệu về môi trường

Thu thập các dữ liệu về:

- Nơi ở của vật nuôi (ví dụ: đồng cỏ, rừng, lô đất, gần sông hoặc ao; chuồng nuôi, khu

nhà kín có hệ thống thông gió; gần đường tàu hoả, gần khu công nghiệp, gần bãi rác)

- Những thay đổi gần nhất về sự phơi nhiễm với môi trường (ví dụ: sự di chuyển,phun chất diệt côn trùng, chất diệt loài gặm nhấm, xây dựng mới, cải tạo các khu nhà

cũ, di chuyển phân…)

* Dữ liệu về khẩu phần ăn, nước uống của vật nuôi

- Chế độ ăn: Những thay đổi về khẩu phần ăn gần đây (số lần cụ thể có liên quan đếncác triệu chứng đã quan sát được) Sự thay đổi phương thức cho ăn (ví dụ: từ phươngthức cho ăn hạn chế sang phương thức cho ăn tự do) Sự có mặt của các thức ăn ôi thừa và

bị hỏng

- Nguồn nước uống, thay đổi trong việc cung cấp nước uống

b Kiểm tra các triệu chứng lâm sàng.

- Ngộ độc cấp thường xảy ra với các triệu chứng liên quan đến các hệ cơ quan: tiêuhóa, thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu

- Những dấu hiệu thường xuyên nhất của ngộ độc đường tiêu hóa là: Tiết nước bọt,nôn, chướng hơi, ỉa chảy, có thể táo bón với sự biến đổi của phân (chứa chất nhầy,máu ), đau bụng và đôi khi nổi mề đay

- Các dấu hiệu của ngộ độc thần kinh thường là: tăng quá trình hưng phấn thần kinhbiểu hiện: bồn chồn không yên, trạng thái điên cuồng (có xu hướng di chuyển về phíatrước, chân trước co và đạp mạnh), co giật, thở mạnh, co giật kiểu động kinh và kiểu giậtrung thường quan sát thấy ở ngộ độc Chì, Atropin, Veratrin, Anconitin và Picrotoxin

- Sau trạng thái co giật (hoặc ngay lập tức) có biểu hiện ức chế, thể hiện tê liệt và liệt

- Các dấu hiệu về hô hấp thường là thở gấp, thở khó, ngạt thở, ho, chảy nước mũi, tímtái, bồn chồn

- Các triệu chứng về tim mạch: mạch nhanh, yếu

Trang 26

- Các triệu chứng về tiết niệu: có hiện tượng đái nhiều, đái dắt, xuất hiện albumin niệu,huyết niệu, tế bào biểu mô thận trong nước tiểu hoặc bí đái trong một số trường hợp.

- Khi bị rối loạn trao đổi khí, vật nuôi rất khó thở, mạch nhanh, kết mạc mắt đỏ, cogiật, thân nhiệt hạ, hôn mê, chết (ngộ độc các sản phẩm thực vật chứa Cyanhydric, ngộ

độc Nitrat, Nitrit ).

- Rối loạn đông máu khi bị rắn độc cắn (do độc tố Cardiotoxin trong nọc rắn)

- Viêm dộp da do chất nhạy cảm quang học chứa trong một số loại cỏ làm thức ănchăn nuôi (Fagopyrum vulgare, Fagopyrum esculentum)

c Kiểm tra các tổn thương bệnh lý

Nếu bệnh súc bị chết, cần mổ khám kỹ và thu thập các mẫu thích hợp Việc mổkhám tổng thể xác bệnh súc cần được thực hiện bởi chuyên gia độc chất học và chuyêngia bệnh lý

Những tổn thương bệnh lý do ngộ độc thường là: viêm dạ dày ruột, gan nhiễm mỡ, hoại

tử giữa tiểu thùy gan, sưng vỏ thận, hemoglobin niệu, tim phì đại, tích nước xoang ngực, phù

kẽ phổi, mắt sưng tấy Nhiều trường hợp nhiễm độc nặng làm chảy máu, tràn lan trong xoangbụng, xoang ngực hay phù nề dưới da

Chất chứa dạ dày, ruột cần được kiểm tra về màu sắc, sự có mặt của cây cỏ, các vật

lạ, viên thuốc, nang thuốc

Các mẫu tổ chức cần được bảo quản trong dung dịch đệm Formalin 10% để kiểmtra bệnh tích vi thể

* Một số chất độc hướng tới những cơ quan chính như:

- Chất độc gây bệnh tích đường tiêu hóa (dạ dày, ruột): các Phospho hữu cơ, Asen,Thủy ngân, Chì, Bari, Bismus, các Ancaloit, Glucosides

Trang 27

- Các chất độc gây tổn thương gan, thận: các độc tố nấm mộc, các kim loại nặng,một số Ancaloit và Glucosides, Phospho hữu cơ…

- Các chất độc ảnh hưởng đến tuần hoàn, tim mạchnhư các Cyanua, Oxit cacbon,Nitrit, các kim loại như Chì (tạo hồng cầu hạt); các muối Bari, Asen làm dãn mạch, tắcmạch hoặc làm hạ huyết áp

- Các chất độc ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu như Chì, các Phospho hữu cơ, Flor,Thủy ngân…

- Các chất độc đối với hệ thần kinh bao gồm các chất gây nghiện: Cocain,Morphin, Nicotin, nhiều Ancaloit và Glucosides khác, các kim loại nặng như Thủy ngân,Cadium

- Ngoài ra còn nhiều chất độc tác động đến niêm mạc, da, cơ quan sinh dục đặcbiệt độc tố nấm mốc Nhiều độc tố gây tổn thương da như Stachybotris toxin, độc tốnhóm Trichlothecens gây viêm niêm mạc đường tiêu hóa, độc tố Zearalenon gây viêm cơquan sinh dục…

d Các xét nghiệm cơ bản cần thiết

* Các xét nghiệm máu: (1) Các chỉ tiêu sinh lý máu: Số lượng hồng cầu, bạch cầu,

công thức bạch cầu Tốc độ máu đông (Prothrombin time PT, Thrombopastin time

-PTT); (2) Các chỉ tiêu sinh hóa máu: hoạt độ một số enzym như SGOT, SGPT,

Cholinesterase Điện giải máu (Canxi, Magiê, Kali, Natri), pH máu, độ kiềm dự trữtrong máu, độ thẩm thấu huyết tương

* Các xét nghiệm nước tiểu: Huyết niệu, Bilirubin, Hemoglobin, trụ niệu và oxalat.

Ngoài ra trong những điều kiện cho phép cần triển khai:

* Điện tâm đồ: Trong ngộ độc những chất gây rối loạn nhịp tim như digitalis,

quinidin, ngộ độc củ ấu Tàu, trứng cóc, lá ngón

* Chụp X quang phổi: Ngộ độc các chất gây phù phổi, xẹp phổi.

* Các xét nghiệm độc chất: Phân tích chất độc bao gồm các xét nghiệm về:

- Thực vật: xác định loại thực vật gây độc

- Nấm: Xác định sự có mặt của nấm mốc gây độc và độc tố của chúng

- Vi khuẩn: Xác định sự có mặt của vi khuẩn gây độc và độc tố của chúng

- Phân tích hóa nghiệm: Xác định chất độc trong thức ăn, nước uống, trong chấtchứa dạ dày, dạ cỏ, diều (gia cầm), dịch ruột, một số cơ quan nội tạng như gan, thận

- Sinh học: cho vật nuôi ăn những thức ăn nghi có nhiễm chất độc, xác định độ gâyđộc của thức ăn bằng một số phương pháp trong độc chất học

Sự có mặt, hàm lượng của chất độc, độc tố hay dạng chuyển hoá của nó trong các

tổ chức thường là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định ngộ độc

Trang 28

Để chẩn đoán ngộ độc, các phân tích hoá nghiệm không nên sử dụng độc lập vìmột số lý do sau:

- Hàm lượng hoá chất độc phát hiện thấy trong mô thường tương thích với tìnhtrạng ngộ độc; tuy nhiên, một số hoá chất gây ngộ độc nhưng lại có mặt trong tổ chức ởhàm lượng rất thấp (dưới giới hạn kiểm tra)

- Một số chất hoá học (ví dụ như các hợp chất phospho hữu cơ) có thể gây ngộ độc

mà không phát hiện thấy trong mô bằng các phương pháp phân tích thông thường

- Một số hoá chất độc có thể tích luỹ với hàm lượng cao ở một số mô nhất định màkhông gây ngộ độc (ví dụ: hợp chất clo hữu cơ tích lũy trong mô mỡ )

- Sự kết hợp của chất độc với các tác nhân hoặc chất dinh dưỡng khác có thể làmgiảm hoạt tính chất độc lưu giữ trong mô (ví dụ như Thuỷ ngân có thể kết hợp với Selen

và protein tạo thành một phức hợp lưu trữ trong mô mà không gây độc)

* Các phương pháp xét nghiệm độc chất hiện nay bao gồm:

- Sắc ký lớp mỏng: chủ yếu định tính chất độc, có thể phát hiện hầu hết các chấtgây độc thông thường như thuốc trừ sâu (phosphor hữu cơ (PPHC), clo hữu cơ), thuốcdiệt chuột, thuốc ngủ, các chất độc trong cây (ancaloid, glycosid)…

- Các máy quang phổ khối, sắc ký khí, sắc ký lỏng hiệu năng cao… có thể địnhlượng nồng độ chất độc, tuy nhiên chỉ một số phòng thí nghiệm hiện đại mới được trang

bị những máy này

2.1.3 Lấy mẫu cho các xét nghiệm chẩn đoán ngộ độc

a Các nguyên tắc lấy mẫu kiểm tra ngộ độc

* Các mẫu bệnh phẩm: Khi lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm, cần lưu ý:

- Máu là môi trường chính để vận chuyển chất độc trong cơ thể

- Lấy mẫu chất nôn hoặc phân khi vật nuôi bị ngộ độc qua đường tiêu hóa Một sốchất độc được đào thải qua phân

- Nước tiểu là đường chính bài tiết nhiều chất độc, độc tố

- Da và tóc rất quan trọng đối với các trường hợp phơi nhiễm với chất độc qua da.Trong tóc tích luỹ kim loại và một số hợp chất hữu cơ gây độc mãn tính

* Các cơ quan quan trọng cần phải lấy mẫu để xét nghiệm chất độc:

- Gan là cơ quan chính tham gia chuyển hoá và bài tiết chất độc

- Thận là đường bài tiết quan trọng đối với nhiều chất độc

- Dạ dày và ruột non phản ảnh ngộ độc do mới phơi nhiễm với chất độc qua đườngmiệng nhưng không quan trọng đối với những chất tích lũy hoặc gây ngộ độc mãn tính

* Các mẫu từ môi trường: Kết quả xét nghiệm các mẫu môi trường góp phần tìm

ra nguồn chất độc hoặc là những gợi ý về nguồn phơi nhiễm; bao gồm:

Trang 29

- Những mẫu thức ăn, nước mới được sử dụng

- Cây cỏ bị nghi là gây ngộ độc

b Các mẫu bệnh phẩm và mẫu từ môi trường cần thiết cho chẩn đoán ngộ độc

Bảng 2.2: Các mẫu bệnh phẩm và mẫu từ môi trường cần thiết

cho chẩn đoán ngộ độc Mẫu

Máu 5 - 10 ml Để phát hiện sự phơi nhiễm với hầu hết kim loại, các nguyên

tố vi lượng, Cholinesterase, thuốc trừ sâu và Glycol Ethylene,giúp đánh giá hình thái hồng cầu và bạch cầu,

Huyết

thanh

5 - 10 ml Xác định chất điện giải, Nitơ Urê, Nitơ Ammoniac và chức

năng các cơ quan của cơ thể; các kim loại, thuốc thú y vàvitamin

Nước tiểu 50 ml Phát hiện Ancaloid, kim loại, chất điện phân, kháng sinh,

thuốc, Sulfonamides và Oxalates

Phân 250 g Phát hiện các chất độc qua đường miệng, các loại thuốc, chất

độc được bài tiết trước tiên qua mật

Chất nôn 250 g Phát hiện tất cả các loại chất độc đã hấp thụ, đặc biệt là những

chất độc không thể tìm thấy trong mô (Phospho hữu cơ)

Tóc 5 - 10 g Phát hiện sự phơi nhiễm với các chất diệt côn trùng, sự tích luỹ

mãn tính một số kim loại (ví dụ Asen, Selen)

2 Sau khi bệnh súc bị chết

Gan 100 g Là nơi xảy ra các phản ứng chuyển hoá chính của cơ thể, nơi

tích luỹ các kim loại, các chất diệt côn trùng có hại, alkaloit,phenol và một số Mycotoxin: Túi mật được dùng để phát hiện

ra các độc tố tập trung trong mật (ví dụ như Chì) Mẫu cần

Trang 30

được bảo quản lạnh.

Thận 100 g Cơ quan bài tiết chính đối với các chất kháng sinh và các loại

thuốc khác, các chất độc đã qua chuyển hoá, Ankaloid, chấtdiệt cỏ, một số kim loại, hợp chất Phenol, Oxalate

500 g Xác định các chất độc phơi nhiễm qua đường miệng

Một số chất độc có thể bị thoái biến ở dạ cỏ (ví dụ như

Nitrate, độc tố nấm).

Định lượng chất độc khó do có sự khác nhau về nồng độ vàthiếu sự tương quan giữa hàm lượng chất độc trong dạ cỏ vớihàm lượng chất độc trong mô Mẫu lấy từ vài vị trí trong dạ cỏ

và được bảo quản lạnh

Mỡ 250 g Phát hiện các chất độc tích luỹ trong mỡ (ví dụ chất diệt cỏ clo

hữu cơ, Dioxin)

Dịch mắt Toàn bộ

mắt

Phát hiện chất điện phân (ví dụ Natri, Canxi, Kali, Magiê) NitơAmoniac, Nitrat, Nitơ Urê, hàm lượng Kali và Urê, sử dụng để

dự đoán thời điểm con vật bị chết

Tách riêng thuỷ dịch và thuỷ tinh dịch

Não Toàn bộ

não

Phát hiện một số độc tố thần kinh (ví dụ thuốc trừ sâu Clo hữu

cơ, Pyrethrin, Natri, Thuỷ ngân)

Tách riêng não theo mặt cắt dọc và tách nhân đuôi để pháthiện Cholinesterase Nửa bán cầu não được bảo quản lạnh, 1/2

cố định trong dung dịch đệm Fomalin 10%

Môi

trường

thức ăn

2 Kg Nên lấy các mẫu đại diện và sau đó trộn lẫn thành một mẫu

hỗn hợp composite hoặc giữ lại các mẫu riêng lẻ (nhằm pháthiện nguy cơ khác nhau trong thức ăn)

Cỏ xanh,

thức ăn ủ

chua

5 kg Mẫu được từ nhiều vị trí trên đồng cỏ hay trong nhà kho

Silage nên được xử lý lạnh để tránh bị mốc và hỏng

Mồi, bả Tất cả Toàn bộ số mồi, bả và nhãn mác bị nghi gây độc cần giữ lại để

xét nghiệm

Nước 0,5 - 1lít Phát hiện Nitrat, Sulphat, kim loại, tảo và thuốc bảo vệ thực

vật Trước khi lấy mẫu từ giếng hay bể chứa cần để nước chảylàm sạch ống Mẫu nước được lấy từ khu vực nghi phơi nhiễmvới chất độc và được giữ sạch đến khi phân tích

Trang 31

Đất 1kg Mẫu đất được lấy từ độ sâu của rễ nếu thấy có hiện tượng ngộ

độc do cây cối Mẫu đất lấy từ nhiều vị trí và có sự cố vấn củacác nhà khoa học về nông học và đất

c Bảo quản mẫu gửi xét nghiệm

Việc bảo quản mẫu, gửi xét nghiệm là rất cần thiết để có thể tiến hành phân tích mộtcách đầy đủ Các mẫu bệnh phẩm được gửi xét nghiệm kèm theo danh sách mẫu, các pháthiện trong quá trình chẩn đoán, kết quả mổ khám… Mẫu bệnh phẩm phải được giữ sạch,không bị hư hỏng Mỗi mẫu được đựng trong túi nhựa hoặc bình thủy tinh trong riêngbiệt, vô trùng Các mẫu cần xét nghiệm thuốc trừ sâu, các hợp chất hữu cơ hàm lượngthấp được đựng trong lọ thủy tinh tốt hơn là túi nhựa

Việc bảo quản các mẫu bệnh phẩm là rất quan trọng Hầu hết các mẫu cần đượclàm lạnh trừ khi những phân tích cụ thể đòi hỏi cách xử lý khác Làm lạnh mẫu nhằmtránh cho các chất độc khỏi bị phân hủy, tránh được sự phát triển của vi khuẩn và nấm

mốc, ngăn không cho các tác nhân dễ bay hơi biến mất (ví dụ như Amoni hay

Cyanide) Tuy nhiên nhiệt độ lạnh có thể ức chế hoạt tính một số men trong các testnhạy cảm, làm kết quả không chính xác Vì vậy, nếu có nghi ngờ về biện pháp bảoquản cần sự tư vấn từ phòng thí nghiệm độc chất học

Huyết thanh cần được tách khỏi phần máu đông để kết quả phân tích không bị ảnhhưởng bởi các thành phần khác trong máu

Trong phân tích độc chất không chỉ xác định sự có mặt của chất độc mà còn phảixác định liều lượng và mức độ gây độc của các chất độc này

Trang 32

2.2 ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC

Khi vật nuôi bị ngộ độc cấp phải xử trí và triển khai cấp cứu chống độc càng sớmcàng tốt Tránh cho vật nuôi tiếp tục tiếp xúc với nguồn gây độc bằng cách di chuyển vậtnuôi khỏi nơi ô nhiễm Ngừng ngay cho thức ăn hoặc nước uống nghi có độc

Các phương pháp điều trị nhằm mục đích:

- Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể

- Phá hủy hoặc trung hòa chất độc

- Điều trị các rối loạn triệu chứng (giải quyết các hậu quả của ngộ độc)

Cần lưu ý là khi đã xuất hiện các dấu hiệu của ngộ độc gây ảnh hưởng đến cácchức năng sống của bệnh súc thì việc điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng của cơ

thể là quan trọng nhất và bao giờ cũng được áp dụng trước tiên (trước khi tiến hành các

biện pháp loại trừ hoặc thải trừ chất độc ra khỏi cơ thể)

2.2.1 Loại chất độc ra khỏi cơ thể

Việc loại chất độc khỏi cơ thể bằng nhiều biện pháp càng nhanh càng tốt nhằmgiảm tối đa sự hấp thu chất độc vào máu, đồng thời tăng thải chất độc ra ngoài Đối vớivật nuôi bị ngộ độc qua đường tiêu hóa, biện pháp này có hiệu quả nhất trong vòng 2 giờđầu bị ngộ độc, sau 4 giờ sẽ ít tác dụng

a Loại chất độc bám trên da, mắt

Làm sạch da, lông vật nuôi bằng nước ấm, xà phòng nếu chất độc bám vào da,lông Vật nuôi lông dài thì cắt bớt Nếu chất độc bám vào mắt cần phun rửa mắt liên tụcbằng nước sạch hoặc nước muối sinh lý 0,9% từ 10 đến 15 phút Chất độc là acid haybase cần duy trì pH= 6,5 - 7,5 sau khi rửa mắt

b Loại chất độc qua đường tiêu hóa

* Gây nôn

Xử lý ngay vài phút sau khi vật nuôi ăn hoặc uống phải chất độc

Chống chỉ định trong các trường hợp sau:

- Loài gậm nhấm, thỏ, ngựa và vật nuôi nhai lại hoặc không thể nôn sinh lý hoặc gâynôn không an toàn và không hiệu quả

- Bệnh súc bị hôn mê, bị động kinh, co giật có thể bị ngạt thở trong khi gây nôn

- Bệnh súc bị ngộ độc xăng, dầu hoặc các chất độc bay hơi dễ bị viêm phổi nếu gây nôn.Biện pháp gây nôn được thực hiện chủ yếu ở chó và lợn, có thể dùng các chất gây nôn:

- Siro Ipeca: 1 - 2 ml/kg cho chó, mèo - 3 ml/kg Nếu sau 15 - 20 phút thuốc không cótác dụng thì dùng liều lặp lại Nếu sử dụng cùng với than hoạt tính sẽ bị vô hoạt

Trang 33

- Apomorphin: Tiêm cho chó liều 0,04mg/kg tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp; 0,08 mg/kgtiêm dưới da Có thể bị nôn quá mức hoặc triệu chứng ức chế thần kinh Không dùng chomèo.

- Nước oxy già 3% cho uống liều 2 - 5ml/kg thể trọng Dùng không quá 40 - 50ml/con

- Xylazin: 1,1 mg/kg tiêm bắp có hiệu quả với mèo Bệnh súc có thể bị ức chế hô hấp

- Đối với lợn tiêm Veratrin (hormotonon, lentin) 0,02 - 0,03 g/kg thể trọng

- Lấy lòng trắng trứng hoà trong nước lạnh 2-3 quả/1lit, cho vật uống

* Rửa dạ dày

Nếu không gây nôn được thì phải rửa dạ dày Đây là biện pháp hiệu quả nhất đốivới chất độc dạng lỏng và dạng bột dễ tan Rửa dạ dày hiệu quả nhất trong 60 phút đầu,nếu chất độc nhiều và là miếng to có thể trong 2 - 3 giờ đầu sau khi bị ngộ độc vẫn tốt.Khi rửa lấy 250 - 300ml dịch rửa đầu tiên để phân tích xác định chất độc Dung dịch đểrửa dạ dày có thể là:

- Dung dịch KMnO4 1 - 2 %; là chất oxy hóa phản ứng dễ với các chất hữu cơ

- Dung dịch Natri hydrocarbonat 5‰ (nếu ngộ độc bằng acid thì không dùng vìgiải phóng khí CO2 gây chướng bụng, thủng dạ dày)

- Dung dịch Magnesium oxyd hoặc Magnesium hydroxyd để trung hòa acid dùngnồng độ 2,5 % (tính cho MgO)

- Huyết thanh mặn đẳng trương: dùng cho mọi trường hợp

- Rửa dạ dày (ngựa) bằng nước có than hoạt tính 3%, Tanin 1% (trong trường hợp

ngộ độc Ancaloid).

Những bệnh súc bị ngộ độc acid hoặc Base mạnh, Strychnin, uống phải chất dầuhoặc hôn mê sâu thì không rửa dạ dày

* Hấp phụ chất độc trong dạ dày, ruột

+ Than hoạt tính hấp phụ các chất độc, giảm thiểu tác dụng độc hại Hấp thụ hầu

hết các chất độc, thuốc, thức ăn có trong dạ dày, ruột non Có hiệu quả nhất với các phân

tử lớn, không phân cực Một số chất hấp thụ kém với than hoạt, đó là: sắt, lithium, kali,cyanide, acid muối và rượu

Chống chỉ định: Không dùng cho bệnh súc hôn mê, co giật trừ khi có điều kiện đã

được đặt ống nội khí quản và cho thuốc chống co giật

Liều lượng than hoạt tính: 2 - 5 g/kg thể trọng hòa trong nước theo tỷ lệ 2g/5mlnước Theo tài liệu của Nikov: Đại gia súc (ĐGS): 400 - 700 g, tiểui gia súc (TGS): 30 -80g/con

+ Các chất nhuận tràng:

Trang 34

Các chất này kích thích nhu động ruột, thải những chất chưa bị hấp phụ hết bởithan hoạt, giảm hấp thu chất độc trong ruột và ngăn bị táo bón do than hoạt

- Magie sulfat và Natri sulfat: liều lượng 250 mg/kg pha dung dịch 6 - 10% Tácdụng sẽ nhanh hơn nếu cho cùng một lượng nước lớn - dung dịch

- Sorbitol 70%: Liều lượng 3 ml/kg cho uống

- Lợn, chó, mèo dùng chất tẩy dầu như dầu Thầu dầu, tuy nhiên các chất tẩy dầuchống chỉ định khi ngộ độc các chất Phosphor, Santonin, DDT, PPHC hoặc những chấtđộc tan trong dầu

+ Thụt trực tràng:

Nên kết hợp thụt trực tràng với rửa dạ dày, thường dùng dung dịch NaCl 0,9% 1 - 2lít/giờ

* Mở dạ dày hoặc mở dạ cỏ bằng phẫu thuật

Trong trường hợp không can thiệp được bằng các biện pháp khác như gây nôn, rửa dạdày, hấp phụ bằng than hoạt có thể mở dạ dày hoặc dạ cỏ bằng phẫu thuật Ví dụ: vật nuôinuốt phải thỏi kim loại đặc biệt là kim loại nặng hoặc nhựa đường, hắc ín, dầu công nghiệp

c Thải chất độc qua đường khác

* Qua đường hô hấp

Một số chất độc ở thể khí hoặc dễ bay hơi có thể loại nhanh chóng ra khỏi cơ thể bằng

đường hô hấp Để con bệnh nằm ở nơi thoáng, mát (trừ trường hợp ngộ độc những chất gây

phù phổi: Phosgen, Clo, SO2 ) Có điều kiện dùng máy trợ hô hấp nồng độ oxy 50 %

* Qua đường thận

+ Để thải nhanh chất độc ra khỏi cơ thể dùng các chất lợi tiểu, chất gây toát mồ hôinhư Liqmor Kali Acetic, Diuretin , dùng Pilocarpin ở trạng thái tim phổi bình thường

- Truyền nhiều dịch, có thể cho dung dịch đường ưu trương, thuốc lợi niệu (nếu

không bị bệnh thận) Chú ý là khi đái nhiều có thể mất chất điện giải Na+, K+, Cl-

- Một số chất độc có tính acid yếu thường đào thải nhanh trong môi trường kiềm(Barbiturat) hoặc giảm tác dụng ở môi trường kiềm (PPHC); thường đưa dung dịch kiềmvào cơ thể bệnh súc nhưng cần theo dõi pH của máu không để vượt quá 7,6 vì nếu kiềmquá sẽ ức chế hô hấp Một số chất độc giảm tác dụng trong môi trường acid nhưng tronglâm sàng giảm pH của máu dễ gây biến chứng nên ít áp dụng để điều trị

- Trong nhân y dùng phương pháp lọc máu bằng thận nhân tạo Phương pháp nàynhanh hơn nhưng rất tốn kém

Trang 35

* Pha loãng máu

Nếu chất độc đã hấp thu vào trong máu, cần tiến hành các biện pháp làm loãng,trung hòa và đào thải nhanh chất độc

Chất độc có thể được pha loãng bằng cách: thải bớt máu (chích máu) ĐGS: 1lmáu/100kg thể trọng Sau đó truyền dung dịch nước muối sinh lý hoặc glucose hoặc chovật nuôi uống một lượng nước lớn qua ống thông thực quản Thải bớt máu có chất độc làbiện pháp hiệu quả nhất ở giai đoạn sớm của ngộ độc đặc biệt khi có các triệu chứng thần

kinh, tim mạch và tích nước phổi Chống chỉ định khi trụy tim mạch (niêm mạc nhợt nhạt,

mạch nhỏ, nhanh, huyết áp thấp) Ví dụ nhiễm độc Barbiturat, các chất phá vỡ hồng cầu,

như Hydro Arsenic hoặc chất độc làm biến đổi Hemoglobin (tạo hemoglobin)

Trong mọi trường hợp dùng nước đường ưu trương, có ảnh hưởng tốt đến trao đổichất, đến cơ tim, kích thích Glycogenase và chức năng giải độc của gan, khả năng khángđộc của cơ thể càng cao nếu dự trữ glycogen càng cao

+ Sử dụng vitamin trong một số trường hợp ngộ độc:

B complex trong tổn thương thần kinh do ngộ độc

Vitamin K trong tổn thương gan Vitamin P trong ngộ độc có tổn thương thànhmạch và tăng tính thấm thành mạch (Asen, Bensol)

Trong hầu hết các trường hợp ngộ độc có nguồn gốc khoáng vật và các chất tổnghợp, cần thiết bổ sung vitamin đặc biệt Vitamin C và B, tiêm tĩnh mạch kết hợp vớiGlucose

2.2.2 Phá hủy hoặc trung hòa chất độc bằng các chất kháng độc

a Nguyên lý trong điều trị đối kháng

* Định nghĩa chất kháng độc: Chất kháng độc (chất đối kháng-antidot) là những

chất có tác dụng đặc biệt, đối lập với tác dụng của một chất độc

* Nguyên lý trong điều trị đối kháng

Chất đối kháng thường được sử dụng khi vật nuôi bị phơi nhiễm với chất độc và cóbiểu hiện ngộ độc trên lâm sàng

+ Lựa chọn chất đối kháng và liều lượng dựa trên:

- Liều lượng được xác định dựa trên liều đã sử dụng cho động vật thí nghiệm hoặckinh nghiệm của nhân y

- Thời gian tác dụng của chất đối kháng sẽ khác nhau phụ thuộc vào thời gian tácdụng của chất độc

- Một số chất đối kháng có thể gây độc nếu dùng quá liều hoặc thời gian điều trịquá kéo dài

Trang 36

- Hiệu quả điều trị sẽ ngược lại nếu dùng chất đối kháng trong trường hợp khôngphát hiện đúng chất gây độc Vì vậy chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây độc là bướcrất quan trọng để dùng chất đối kháng trong giải độc.

+ Hiệu quả điều trị đối kháng bị hạn chế do:

- Chưa thực hiện sự khử độc (decontamination) ở vật nuôi bị ngộ độc

- Liên quan đến loài giống, lứa tuổi vật nuôi

b Các chất kháng độc (chất đối kháng-antidot) - Cơ chế giải độc

* Các chất đối kháng hóa học

Các chất đối kháng hóa học thường tương tác với chất độc hoặc trung hòa chất độc

+ Chất đối kháng liên kết với chất độc tạo thành phức hợp không qua được màng tế

bào hoặc làm cho chất độc không gắn được với thụ thể đặc hiệu nữa Ví dụ:

- Acid Dimercaprol và Acid Dimercaptosuccinic là các hợp chất sulfhydryl liên kếtvới kim loại nặng như Asen, Chì làm chúng không được gắn với thụ thể của chúng

- Chất EDTA (Ethylen Diamin Tetraacetic Acid), Deferoxamin, D - penicillamin tạochelat với kim loại nặng, tạo thành phức hợp dễ tan trong nước, dễ thải trừ qua nước tiểu

- Antivenin chống nọc rắn và kháng thể chống Digitoxin là các tác nhân miễn dịchgắn đặc hiệu với nọc độc hoặc độc tố

+ Chất đối kháng thông qua chuyển hóa:

Một số chất đối kháng tham gia chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm ít độc hơn

Ví dụ:

- Nitrit kết hợp với Hemoglobin và Cyanid tạo thành Cyanmethemoglobin ít độc hơnCyanid, giải phóng Cytocrom oxydase trở lại hoạt động cứu con vật khỏi bị ngạt nội hôhấp Thiosulfate có nhóm Sulfate liên kết với Cyanid tạo thành Thiocyanate để dễ thảiqua nước tiểu Dùng khi giải độc các Glucoside chứa cyanhydric

* Các chất đối kháng dược lý

Các chất đối kháng này có tác dụng trung hòa hoặc đối lập với tác dụng của chấtđộc thông qua các cơ chế:

+ Ngăn chặn quá trình chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm độc hơn

Ví dụ: Ethanol và 4-Methylpyrazole (4-MP) cạnh tranh với AlcoholDehydrogenase ngăn cản sự tạo thành chất trung gian độc hại từ Ethylen glycol

+ Làm tăng đào thải chất độc.

Các chất đối kháng trong nhóm này làm thay đổi bản chất lý hóa của chất độc, dẫnđến làm tăng lọc chất độc qua tiểu cầu thận và giảm tái hấp thu ở ống thận

Ví dụ: Molybden và Sulfate kết hợp với Đồng tạo phức hợp dễ tan trong nước và

dễ đào thải qua nước tiểu

Trang 37

+ Chất đối kháng cạnh tranh thụ thể với chất độc.

Cơ chế tác dụng trong trường hợp này là đối kháng cạnh tranh

Ví dụ: Naloxon phong bế tác dụng của các Opioid thông qua cạnh tranh thụ thể vớicác chất độc này

+ Chất đối kháng phong bế thụ thể của chất độc.

Ví dụ: Atropin phong bế tác dụng của Acetylcholin tại synap thần kinh và ở đầunối thần kinh - cơ

+ Chất đối kháng hồi phục chức năng bình thường của cơ thể bị ngộ độc:

Ví dụ: Trong trường hợp bị ngộ độc Nitrit, chất đối kháng là Xanh Methylen kếthợp với NADPH (Nicotine Adenine Dinucleotide phosphate hormon) để khử ion Fe3+ củaMethaemoglobin thành ion Fe2+ của Haemoglobin, tham gia vận chuyển oxy

c Các chất kháng độc thường dùng trong thú y

Acetylcystein: điều trị ngộ độc Acetaminophen Liều cho uống: 70 mg/kg 6 giờ cho

một lần, không quá 7 lần Tương kỵ với Amphotericin B, Tetracyclin, Erythromycin,Ampicillin, nước oxy già

Amonium molybdat: điều trị ngộ độc Đồng ở cừu Liều cho uống 200 mg/ngày, cho 3

tuần Nếu ngộ độc cấp tiêm tĩnh mạch 1,7 - 3,4 mg/ngày, tiêm 3 lần cách nhật

Antivenin: điều trị ngộ độc độc tố nọc rắn, tiêm tĩnh mạch 1 ống, tiêm 1 lần.

Atropin sulfat: điều trị ngộ độc các chất ức chế men Cholinesterase (anticholinesterase).

Liều lượng 2 mg/kg: tiêm tĩnh mạch 1/4 liều, tiêm dưới da 3/4 liều Tương kỵ với thuốc tiêmNatri bicarbonat

Calci EDTA (Calci Ethylen Diamin Tetraacetic Acid): là chất gắp kim loại nặng,

dùng điều trị ngộ độc Chì, Kẽm Liều lượng 110 mg/kg/ngày, chia 3 - 4 liều/ngày, liềuđầu tiêm tĩnh mạch, 3 liều sau tiêm dưới da, không dùng quá 5 ngày Trong nhân y códạng ống 500 mg, pha 1 - 2 ống trong dung dịch glucose 30 - 50%, tiêm tĩnh mạch nhiềulần Theo Holm và cộng sự, tiêm tĩnh mạch cho ngựa 66 mg/kg Theo Radeleff: 110mg/kg cho bò (Trích theo Phạm Khắc Hiếu)

Dimercaprol (BAL - British Anti –Lewisite):là chất gắp kim loại nặng, điều trị ngộ

độc Asen, Thủy ngân, Chì và Vàng Liều tiêm bắp trước khi xuất hiện triệu chứng 3 mg/kg, 8giờ tiêm 1 lần, khi đã có triệu chứng ngộ độc tiêm 6 mg/kg 8 giờ 1 lần, tiêm 3 - 5 ngày Cầntheo dõi chức năng thận trong quá trình điều trị

D-Penicillamin: điều trị ngộ độc Chì, liều cho uống 110 mg/kg cho 1 - 2 tuần Khám lại

bệnh súc 1 tuần sau đợt điều trị đầu tiên Liều điều trị ngộ độc Đồng ở chó là 10 - 15mg/kg cho uống 2 lần trong ngày, cho hàng ngày

Trang 38

Ethanol 20%: điều trị ngộ độc Ethylen glycol Tiêm tĩnh mạch cho chó 5,5 ml/kg

tiêm 5 lần cách nhau 4 giờ, sau đó tiêm tiếp 4 lần cách 6giờ Đối với mèo: 5 ml/kg tiêm tĩnhmạc, 5 lần cách 6 giờ, rồi 4 lần cách 8 giờ

Natri Nitrit: điều trị ngộ độc Cyanid Liều tiêm tĩnh mạch 22 mg/kg Có thể dùng

Natri Thiosulfat 660 mg/kg tiêm tĩnh mạch

Nước lòng trắng trứng: (hòa tan 6 lòng trắng trứng vào thành 1 lít, có thể thêm

chất thơm cho dễ uống) tạo với kim loại nặng Albuminat không tan

Pralidoxim chlorid (2 – PAM ( Pyridine Aldoxime methyl iodua hoặc clorua)):

điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da liều 10 - 15mg/kg 2 - 3 lần/ngày đến khi khỏi

Tanin: làm kết tủa Ancaloid, Glycosid trong các cây độc thành những chất khó

tan, khó hấp thu, dễ đào thải theo phân Liều cho uống: 5 - 15 g (ngựa), 10 - 25 g (trâubò), 2 - 5g (bê, nghé, ngựa non, dê, cừu), 1 - 2 g với lợn, chó 0,1 - 0,5 g

Vitamin C (acid ascorbic): điều trị ngộ độc Đồng ở chó Liều cho uống hàng ngày

500 - 1000 mg/con Chống Methemoglobinemia ở mèo, liều cho uống 30 mg/kg, 4 lần/ngày

Vitamin K: điều trị ngộ độc các chất chống đông máu Coumarin và Indanedion.

Liều cho uống hoặc tiêm dưới da 2 - 5 mg/ngày chia 2 lần, sau đó cho uống 2 - 3mg/kg/ngày chia 3 lần tiêm 1 tuần

Xanh methylen 1 %: Điều trị ngộ độc Nitrat, Nitrit hoặc Chlorat cho nhiều loài vật

nuôi, gia cầm Liều tiêm tĩnh mạch 4 - 15 mg/kg; có thể tiêm nhắc lại sau 6 - 8 giờ GâyMethemoglobinemia hoặc thể Heinz ở mèo Tương kỵ với chất kiềm, các chất oxy hóa khử

2.2.3 Hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng

Trong điều trị ngộ độc cấp, một mặt vì chưa biết ngay chất độc nào (đang chờ kết

quả phân tích), mặt khác chất chống độc không nhiều, con bệnh có thể bị chết vì rối loạn

các chức phận Vì vậy hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng có vai trò rất quan trọng Sauđây là những hội chứng chính do ngộ độc cần được can thiệp cấp cứu và điều trị kịp thời:

a Điều trị suy hô hấp

Đặt ống nội khí quản, hỗ trợ hô hấp, cho thở oxy hoặc carbogen khi bệnh súc bịkhó thở, ngạt thở Trường hợp ngộ độc Clo, Brom, phosgen, SO2 không làm hô hấpnhân tạo Nếu bị ngạt do tê liệt men phải dùng xanh methylen hoặc glutathion, chúng sẽphản ứng với nước và cung cấp oxy cho cơ thể:

Sau khi làm hô hấp nhân tạo có thể dùng thuốc kích thích hô hấp:

- Ephedrin: tiêm bắp 1- 2 ml dung dịch 3%

- Amphetamin: tiêm tĩnh mạch 0,01- 0,02 g

- Theophylin hòa tan: tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da 0,25 g x 3 lần/24h

Trang 39

- Lobelin dung dịch 1 % tiêm tĩnh mạch tối đa 0,1 g/ngày.

- Doxapram 1 - 10 mg/kg tiêm tĩnh mạch Quá liều gây động kinh hoặc bệnh súcrơi vào trạng thái hôn mê

b Điều trị rối loạn nhịp tim

Atropin sulfat, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 0,01 - 02 mg/kg khi ngộ độc hợp chấtphospho hữu cơ, digitalis

Glycopyrrolat tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 0,005 - 0,01 mg/kg khi ngộ độc

Carbamat, phenothiazin,

c Chống shock

Nguyên nhân shock là do nôn mửa, ỉa chảy, xuất huyết dẫn đến giảm thể tích máu,giảm cung lượng tim đột ngột do rối loạn nhịp tim: truyền tĩnh mạch dung dịch Ringerlactat hoặc chất thay thế huyết tương

d Điều trị triệu chứng thần kinh

Thường là hôn mê hoặc động kinh, co giật Để giảm co giật tiêm tĩnh mạch Diazepam0,5 mg/kg , tiêm nhắc lại sau 10 - 20 phút Có thể dùng Phenobarbital 6 mg/kg tiêm tĩnhmạch

Điều trị hôn mê, ức chế thần kinh bằng Doxapram, Camphora, Cafein

e Chống rối loạn nước, điện giải và toan kiềm

Chống mất nước và chất điện giải bằng cách truyền dung dịch glucose 5 % vàdung dịch NaCl Trường hợp ứ nước (giảm protid máu và Na+ trong huyết tương) thìkhông dùng dung dịch NaCl, dùng đơn thuần glucose

Điều chỉnh toan kiềm bằng các thuốc sau:

- Nếu thừa kiềm dùng thuốc lợi niệu nhóm Fonurit như Acetazolamid thải kiềm ranước tiểu, hoặc bù toan bằng cách truyền dung dịch NH4Cl 0,83%

- Nếu toan huyết thì truyền dung dịch NaHCO3 0,15%

Trang 40

PHẦN B ĐỘC CHẤT HỌC CHUYÊN KHOA

Chương III CÁC CHẤT ĐỘC VÔ CƠ (Anorgantoxins)

Mục tiêu: Học xong chương này sinh viên nắm được sự ngộ độc các chất độc vô cơ, bao gồm: nguồn gốc, nguyên nhân gây ngộ độc, độc tính, cơ chế tác dụng của chất độc vô

cơ, triệu chứng, bệnh tích và biện pháp phòng, trị khi bị ngộ độc

3.1 ĐẠI CƯƠNG

3.1.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng

- Nguyên liệu dùng trong chế biến phân bón cho cây trồng, thức ăn chăn nuôi công nghiệp

- Các kim loại cũng có thể nhiễm lẫn vào thức ăn, do kỹ thuật sản xuất chưa tốt Thí dụ trong kỹ thuật ghép mí đồ hộp, nếu đường mí ghép không kín thì Chì, Thiếc sẽ nhiễm lẫn vào thức ăn trong đồ hộp

- Kim loại lẫn vào thức ăn trong quá trình chế biến: nấu nướng, chứa đựng, bảo quản…

- Do sử dụng nước giếng khoan lấy nước ở tầng sâu đã bị nhiễm kim loại độc hại, nhất là Asen mà thiếu phân tích kiểm tra, dùng lâu ngày nước bị nhiễm kim loại nặng độc hại sẽ gây ra ngộ độc

- Cuối cùng là do ô nhiễm môi trường, các nhà máy hóa chất thải kim loại độc hại vào môi trường, từ đó cây trồng, vật nuôi hấp thụ, làm cho mức kim loại độc hại trong thực phẩm cao, gây độc cho người và động vật

3.1.2 Tác hại của các kim loại nặng

Gây ngộ độc cấp tính: Asen dễ gây chết động vật

Gây ngộ độc mãn tính hay tích lũy: Chì dùng trong bảo quản đồ hộp, Thủy ngân…Trong bảo quản thức ăn dễ làm hư hỏng, giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm: chỉ cần một lượng nhỏ muối kim loại cũng đủ để phân hủy các vitamin C và B1

Ngày đăng: 27/03/2014, 22:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sự hình thành các gốc tự do do hóa chất độc và tác hại của chúng - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Sơ đồ 1 Sự hình thành các gốc tự do do hóa chất độc và tác hại của chúng (Trang 12)
Sơ đồ 2. Tiến trình tế bào bị tổn thương và bị chết do chất độc - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Sơ đồ 2. Tiến trình tế bào bị tổn thương và bị chết do chất độc (Trang 13)
Bảng 3.1 : Liều gây chết của asen vô cơ (As 2 O 3 ) trên động vật - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Bảng 3.1 Liều gây chết của asen vô cơ (As 2 O 3 ) trên động vật (Trang 41)
Sơ đồ 3: Chu trình luân chuyển của hóa chất BVTV trong môi trường - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Sơ đồ 3 Chu trình luân chuyển của hóa chất BVTV trong môi trường (Trang 63)
Hình 1: Cấu trúc cơ bản của thuốc trừ sâu phospho hữu cơ - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 1 Cấu trúc cơ bản của thuốc trừ sâu phospho hữu cơ (Trang 65)
Hình 2: Cấu trúc hoá học của một số thuốc trừ sâu clo hữu cơ - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 2 Cấu trúc hoá học của một số thuốc trừ sâu clo hữu cơ (Trang 77)
Hình 1.6: Cấu trúc hóa học của một số độc tố trichothecene - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 1.6 Cấu trúc hóa học của một số độc tố trichothecene (Trang 105)
Hình 3.6: Cấu trúc hóa học của Aflatoxin - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 3.6 Cấu trúc hóa học của Aflatoxin (Trang 109)
Hình 4.6: Sự chuyển hóa Aflatoxin B 1  trong cơ thể - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 4.6 Sự chuyển hóa Aflatoxin B 1 trong cơ thể (Trang 112)
Hình 6.6: Cơ chế gây độc cấp tính của Aflatoxin B 1 - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 6.6 Cơ chế gây độc cấp tính của Aflatoxin B 1 (Trang 114)
Hình 5.6: Cơ chế gây độc của Aflatoxin ở tế bào gan Aflatoxicosis ở một số loài gia súc, gia cầm - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 5.6 Cơ chế gây độc của Aflatoxin ở tế bào gan Aflatoxicosis ở một số loài gia súc, gia cầm (Trang 115)
Hình 6.7: Cơ chế hấp phụ Aflatoxin của Mycofix Plus - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Hình 6.7 Cơ chế hấp phụ Aflatoxin của Mycofix Plus (Trang 124)
Bảng 7.2: Sự phân bố của acid amin bất thường trong hạt cây họ đậu - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Bảng 7.2 Sự phân bố của acid amin bất thường trong hạt cây họ đậu (Trang 131)
Bảng 7.4: Độc tính của Lathyrogenic amino acid trên hệ thần  kinh  gia cầm - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Bảng 7.4 Độc tính của Lathyrogenic amino acid trên hệ thần kinh gia cầm (Trang 133)
Bảng 7.5: Bảng so sánh về cường độ nọc độc của các loài rắn - BÀI GIẢNG độc CHẤT
Bảng 7.5 Bảng so sánh về cường độ nọc độc của các loài rắn (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w