1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trung tu hộp tốc độ máy bào b365

40 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trung tu hộp tốc độ máy bào B365
Tác giả Đàm Đình Dũng
Người hướng dẫn Đào Chí Cường
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Chuyên ngành Cơ khí động lực
Thể loại Đồ án môn học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 0,9 MB
File đính kèm Trung tu hộp tốc độ máy bào B365.rar (843 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trường ĐHSPKT Hưng Yên Khoa Cơ khí động lực ĐỒ ÁN MÔN HỌC Giáo viên hướng dẫn Đào Chí Cường Sinh viên thực hiện Đàm Đình Dũng Page 1 Trung tu hộp tốc độ máy bào B365 Trường ĐHSP.

Trang 1

Trung tu hộp tốc độ

máy bào B365

Trang 2

Lời Nói Đầu

Hiện nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới nhằm CNH, HĐH đất nước Trong công nghiệp hóa xã hội, nước ta các nhà máy xí nghiệp được trang bị các máy công cụ với số lượng ngày càng tăng và chủng loại ngày càng phong phú Bên cạnh công tác thiết bị thiết kế, chế tạo thì công tác phục hồi máy công nghiệp Nói chung , máy công cụ nói riêng đã và đang chở thành nhiệm vụ cấp bách ở tất

cả các cơ sơ ở nước ta

Để đáp ứng được nhu cầu này, ở nước ta đã có một số trường mở ngành BC

và CTBCN, cụ thể là trường ĐHSPKTHY Là một sinh viên của trường trong ngành cơ khí sửa chưa , em thấy mình cần phải cố gắng học tập để khi ra trường mình có thể góp sức mình vào nền công nghiệp của đất nước ta

Trong quá trình học tại trường Sau 3 năm để đánh giá lượng kiến thức mình

đã tích luỹ được trong quá trình học , em được thầy cô trong khoa giao cho đề tài

môn học là Trung tu hộp tốc độ máy bào B365

Được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Đặc biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy : Đào Chí Cường để em có điều kiện hoàn thành đồ án môn học này

Trong đồ án, em không tránh khỏi những sai sót, do nhầm lẫn, do năng lực bản thân còn hạn chế chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tế Em mong các thầy

cô chỉ bảo thêm để cho em có thể hoàn thiện mình hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Hưng Yên ,Ngày 06 tháng 12 năm 2011 Sinh viên thực hiện : Đàm Đình Dũng

Trang 3

Chương 1 : Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1 Lịch sử bảo trì

Bảo trì đã xuất hiện kể từ khi con người biết sử dụng các loại dụng cụ, đặc biệt

là từ khi bánh xe được phát minh Nhưng chỉ hơn mười lăm năm qua bảo trì mới

được coi trọng đúng mức khi có sự gia tăng khổng lồ về số lượng và chủng loại của

các tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng trong sản xuất công nghiệp

Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới người ta đã tính trung bình rằng khoảng từ 4 đến

40 lần chi phí mua sắm sản phẩm và thiết bị để dùng để duy trì chúng vận hành đạt

yêu cầu bằng các hoạt động bảo trì phòng ngừa và phục hồi trong suốt tuổi đời của

chúng Theo tạp chí Control Magazine (October, 1996) các nhà sản xuất trên toàn

thế giới chi 69 tỉ USD cho bảo trì mỗi năm và con số này sẽ không ngừng gia tăng

Hình 1

Bảo trì đã trải qua ba thế hệ sau:

Thế hệ thứ nhất: (Bắt đầu từ xa xưa mãi đến đầu chiến tranh thế giới thứ

II)

Trong giai đoạn này công nghiệp chưa được phát triển Việc chế tạo và sản xuất

được thực hiện bằng các máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng

đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất đơn giản Bảo trì không ảnh hưởng

lớn về chất lượng và năng suất Vì vậy ý thức ngăn ngừa các thiết bị hư hỏng chưa

được phổ biến trong đội ngũ quản lý Do đó không cần thiết phải có các phương

Trang 4

pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc Bảo trì lúc bấy giờ là sửa chữa các máy móc

và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra

Thế hệ thứ hai: Mọi thứ đã thay đổi trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II

Những áp lực trong thời gian chiến tranh đã làm tăng nhu cầu của các loại hàng hóa trong khi nguồn nhân lực cung cấp cho công nghiệp lại sút giảm đáng kể Do

đó cơ khí hóa đã được phát triển mạnh để bù đắp lại nguồn nhân lực bị thiếu hụt Vào những năm 1950, máy móc các loại đã được đưa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng

Do sự phụ thuộc ngày càng tăng, thời gian ngừng máy đã được ngày càng được quan tâm nhiều hơn Đôi khi có một câu hỏi được nêu ra là "con người kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con người" Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sẽ kiểm soát được máy móc, ngược lại máy móc hư hỏng sẽ gây khó khăn cho con người

Vì vậy đã có ý kiến cho rằng những hư hỏng của thiết bị có thể và nên được phòng ngừa, để tránh làm mất thời gian khi có những hư hỏng hay tình huống khẩn cấp xảy ra Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm bảo trì phòng ngừa mà mục tiêu

chủ yếu là giữ cho thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ổn định chứ không phải

sửa chữa khi có hư hỏng Trong những năm 1960 giải pháp này chủ yếu là đại tu

lại thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định

Chi phí bảo trì cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với chi vận hành khác Điều này dẫn đến việc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo trì

Cuối cùng tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định đã gia tăng đáng kể nên người ta bắt đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuổi thọ của các tài sản này

Thế hệ thứ ba: Từ giữa những năm 1970, công nghiệp thế giới đã có những thay đổi lớn lao Những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo trì ngày càng

nhiều hơn

Trang 5

1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000

Hình 1 : Những mong đợi đối với bảo trì đang ngày càng tăng

1.1.3 Những mong đợi mới

1 Thời gian ngừng máy luôn luôn ảnh hưởng đến năng lưc sản xuất của thiết bị

do làm giảm sản lượng, tăng chi phí vận hành và gây trở ngại cho dịch vụ khách hàng Vào những năm 1960 và 1970 điều này đã là một mối quan tâm chủ yếu trong một số nghành công nghiệp lớn như chế tạo máy, khai thác mỏ và giao thông vận tải Những hậu quả của thời gian ngừng máy lại trầm trọng thêm do công

nghiệp chế tạo thế giới có xu hướng thực hiện các hệ thống sản xuất đúng lúc(just

-in -time), trong đó lượng tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm giảm rất nhiều nên chỉ những hư hỏng nhỏ của một thiết bị nào đó cũng đủ làm ngừng toàn bộ một nhà máy Trong những năm gần đây sự phát triển của cơ khí hóa và tự động hóa đã làm cho độ tin cậy và khả năng sẵn sàng trở thành những yếu tố quan trọng hàng đầu trong các ngành công nghiệp và dịch vụ như y tế, xử lý dữ liệu, viễn thông, tin học và xây dựng Vào tháng 6/2000 chỉ một giờ mất điện đã làm cho các công ty tin học ở Silicon Valley (Mỹ) thiệt hại hơn 100 triệu đô la

2 Tự động hóa nhiều hơn cũng có nghĩa rằng những hư hỏng ngày càng ảnh hưởng lớn hơn đến các tiêu chuẩn chất lượng và dịch vụ Ví dụ các máy móc hư hỏng có thể ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống điều hòa nhiệt độ trong các tòa nhà và

sự đúng giờ của hệ thống giao thông vận tải và chúng gây trở ngại cho khả năng đạt dung sai cho phép trong chế tạo máy

3 Những hư hỏng ngày càng gây các hậu quả về an toàn và môi trường nghiêm trọng trong khi nhưng tiêu chuẩn ở các lĩnh vực này đang ngày càng tăng nhanh chóng Tại nhiều nước trên thế giới, đã có những công ty, nhà máy đóng cửa vì không đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn và môi trường Điển hình là những tai nạn và rò rỉ ở một số nhà máy điện nguyên tử đã làm nhiều người lo ngại Một số

Trang 6

nước như Thụy Điển, Đức đã có kế hoạch đóng cửa toàn bộ những nhà máy điện nguyên tử trên lãnh thổ của mình trong những năm tới

4 Sự phụ thuộc của con người vào tài sản cố định, máy móc, thiết bị ngày càng tăng thì đồng thời chi phí vận hành và sở hữu chúng cũng tăng Để thu hồi tối đa vốn đầu tư cho các thiết bị, chúng phải được duy trì hoạt động với hiệu suất cao và

có tuổi thọ càng lâu càng tốt

5 Cuối cùng chính chi phí bảo trì cũng đang tăng lên, tính theo giá tuyệt đối và tính như là một thành phần của tổng chi phí Trong một số ngành công nghiệp, chi phí bảo trì cao thứ nhì hoặc thậm chí cao nhất trong các chi phí vận hành Kết quả

là trong vòng 30 năm gần đây, chi phí bảo trì từ chỗ không được ai quan tâm đến chỗ đã vượt lên đứng đầu trong các chi phí mà người ta ưu tiên kiểm soát

6 Hiện nay xu thế cho rằng:" hơn 90% các chi phí bảo đảm chất lượng, khả năng bảo trì và độ tin cậy trong công nghiệp được dùng để phục hồi lại những sai sót khuyết tật do thiết kế sản phẩm sau khi chúng đã xảy ra, trong khi chỉ gần 10% được chi để làm đúng sản phẩm ngay từ đầu" Những nỗ lực của bảo trì trong tương lai là phải đảo ngược xu thế này

NHỮNG NGHIÊ N CỨU MỚI VỀ BẢO TRÌ

Những nghiên cứu mới đã làm thay đổi quan niệm cơ bản nhất về tuổi đời thiết

bị và hư hỏng Hiển nhiên rằng có mối quan hệ giữa mức độ hư hỏng và tuổi đời của thiết bị Trước kia người ta nghĩ rằng hư hỏng là do thiết bị "già"̀ đi Trong thế

hệ thứ hai đã có thêm quan niệm cho rằng giai đoạn "làm nóng máy" ban đầu cũng ảnh hưởng đến hư hỏng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở thế hệ thứ ba đã chứng tỏ rằng trong thực tế không phải chỉ có một hoặc hai mà là sáu dạng hư hỏng

· Những kỹ thuật mới của bảo trì

· Đã có sự phát triển bùng nổ về những khái niệm và kỹ thuật bảo trì mới Hàng

trăm kỹ thuật bảo trì mới được triển khai vào sản xuất trong hai mươi năm qua

và hiện nay hàng tuần lại xuất hiện một vài kỹ thuật mới

· Những phát triển mới của bảo trì bao gồm :

· Các công cụ hỗ trợ quyết định: nghiên cứu rủi ro, phân tích dạng và hậu quả

hư hỏng

Trang 7

· Những kỹ thuật bảo trì mới: giám sát tình trạng, vv…

· Thiết kế thiết bị với sự quan tâm đặc biệt đến độ tin cậy và khả năng bảo trì

· Một sự nhận thức mới về mặt tổ chức công tác bảo trì theo hướng thúc đẩy sự tham gia của mọi người, làm việc theo nhóm và tính linh hoạt khi thực hiện

1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000

Hình 2: Những kỹ thuật bảo trì đang thay đổi

1.2 Tầm quan trọng của bảo trì

Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất,

có thể so sánh như một đội cứu hỏa Đám cháy một khi đã xảy ra phải được dập tắt càng tốt để tránh những thiệt hại lớn Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm vụ chính của đội cứu hỏa mà công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám chảy xảy ra Cho nên vai trò chính của bảo trì là:

· Phòng ngừa để tránh cho máy móc bị hỏng

· Cực đại hóa năng suất

· Nhờ đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy lâu hơn

· Nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để bảo trì nhỏ nhất

· Nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất

Trang 8

· Máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn

· Tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn

· Hiện nay, bảo trì ngày càng trở nên quan trọng Ở những nước đang phát triển,

có nhiều máy móc cũ đang hoạt động Vấn đề phụ tùng là yếu tố cần quan tâm, bởi

vì khó tìm được phụ tùng thay thế cho thiết bị, nếu có tìm thấy thì giá cũng rất cao

và phải trả bằng ngoại tệ Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của những hỏng hóc đã

được đề phòng thì những vấn đề này phần nào đã được giải quyết

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI BẢO TRÌ

Kỹ thuật càng phát triển, máy móc và thiết bị sẽ càng đa dạng và phức tạp hơn Những thách thức chủ yếu đối với những nhà quản lý bảo trì hiện đại bao gồm:

· Lựa chọn kỹ thuật bảo trì thích hợp nhất

· Phân biệt các loại quá trình hư hỏng

· Đáp ứng mọi mong đợi của người chủ thiết bị, người sử dụng thiết bị và của toàn xã hội

· Thực hiện công tác bảo trì có kết quả nhất

· Hoạt động công tác bảo trì với sự hỗ trợ và hợp tác tích cực của mọi người

có liên quan

1.3 Các giải pháp bảo trì

- Bảo trì không kế hoạch: chiến lược này được xem như là vận hành cho tới khi hư hỏng nghĩa là không hề có bất kỳ một kế hoạch nàohay hoạt đọng bảo trì nào trong khi thiết bị đang hoạt động cho tới khi hư hoảng và có hai loại giải pháp phổ biến trong chiến lược bảo trì ( bảo trì phục hồi và bảo trì khẩn cấp)

- Bảo trì có kế hoạch: là bảo trì được tổ chức và thực hiện theo một chương trình dadx được hoạch định và kiểm soát chiến lược bảo trì có kế hoạch gồm các loại sau:

Trang 9

+ Bảo trì phòng ngừa: là hoạt đọng lập kế hoạch trước và thực hiện một chương trình nhất định để ngăn ngừa các hư hỏng xảy ra hoặc phát triển các hư hỏng trước khi chúng phát triển đến mức làm ngừng máy và gián đoạn sản xuất có hai giải pháp thực hiện chiến lược bảo trì phòng ngừa (Boả trì phòng ngừa trưc tiếp

và boả trì phòng ngừa gián tiếp)

+ Bảo trì cải tiến: Được tiến hành khi cần thay đổi thiết bị cũng như tình trạng bảo trì, mục tiêu của bảo trì của cải tién là thiét kế lại

+ Bảo trì chính xác thực hiện bằng cáhc thu thập các dữ liệu của bảo trì dự đoán để hiệu chỉnh môi trường và các thông số vận hành của máy móc từ đó cực đại hoá năng xuất, hiệu xuất và tuổi thọ của máy

+ Bảo trì phòng ngừa (RET) được thực hiện bằng cách bố trí máy hoặc thiết

bị máy, phụ tùng thay thế song song với cái hiện có

+ Bảo trì năng xuất toàn bộ (TPM) được thực hiện bởi tất cả các nhân viên tông qua các nhóm nhỏ nhằm đạt hiệu xuất máy móc thiết bị

+ Bảo trì tập trung và độ tin cậy (RCM) là một quá trình mang tính trí hệ thống được áp dụng để đạt được các yêu cầu về bảo trì và nhấn mạnh khả năng sẵn sàng của máy móc

+ Bảo trì phục hồi là hoạt động bảo trì phục hồi phù hợp với kế hoạch, sản xuất, các phụ tùng tài liệu và nhân viên bảo trì được chuẩn đoán trước khi tiến hành công việc

Trang 10

Chương 2 : Xây dựng kế hoạch

2.1 Giới thiệu chung về máy bào B365

- máy bào B365 là máy dùng để gia công kim loại máy có hai chuyển động chính :

+ chuyển động của bàn dao là chuyển động tịnh tiến , cứ hồi theo phương ngang của đầu bào mang theo dao dọc và chuyển động lên xuống của máy mang theo phôi

+ các chuyển động đó nhận từ một động cơ có N = 4,5 kw và n = 1440

vòng/phút hoặc từ tay quay của hệ bàn dao

-Công dụng :

+ máy bào dùng để gia công các loại mặt phẳng : mặt phẳng đơn , mặt

phẳng song song , vuông góc mặt bậc , mặt phẳng nghiêng

+ gia công các loại rãnh : rãnh vuông , rãnh mang cá , rãnh chữ T

2.1.1 các thông số kĩ thuật

 Ngang tối đa

 Lên xuống tối đa

mm

600

300 Khoảng cách từ đầu trượt đến bàn

máy

mm

370

Trang 11

 Max

 Min

65

Tốc độ tiến ngang của bàn máy mm/htk 0,33-3,33 Tốc độ tiến ngang của đầu trượt htk/ph 12,5-73 Động cơ chính

 Công suất

 Tốc độ

 Điện áp

kW v/ph

V

4,0

1440 380/220 Kích thước máy

Trang 12

Hình 2

1 : Động cơ 4:Bàn máy 7:Đầu trượt

2: Đế máy 5:Đầu gá dao 8:Mâm biên

3:Giá đỡ 6:Đai ốc hãm 9:Tay gạt

Vi trí của mâm biên nằm ở bên phải , giữa thân máy

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo và nguyên lý làm việc của máy

2.1.2.1 Cấu tạo máy bào

2.1.2.1.1 Đầu bào

- Đầu bào là một bộ phận được làm bằng gang xám YC 15-32

- Đầu bào có hai phần

Trang 13

góc cố định Một đầu thanh biên được lắp với đai ốc , đai ốc tịnh tiến khi trục vít

me làm cho trục quay và điều chỉnh đầu bào Phía trước đầu trượt có lắp một đầu

gá dao bằng mối ghép ren

2.1.2.1.1.2 Đầu gá dao

Đầu gá dao được bắt trong lỗ định tâm của đầu trượt , và bắt chặt vào mặt vào mặt trước của đầu ttruotwj bằng mối ghép ren

• Đĩa quay có thước chia độ

Đĩa quay được đúc bằng thanh ngang xám và được bắt chặt với đầu trượt bằng 2 bu lông Thước của đĩa quay khắc độ -60 đến +60, mặt trước của đĩa

có rãnh mang cá để lắp đế trượt

• Giá dao:

Giá dao lắp lỏng với miếng đỡ bằng trục côn, do đó khi cầu trượt chạy lùi dao bị đội đen và trượt nhẹ trên bề mặt chi tiết gia công Khi bào mặt phẳng nằm ngang thì đĩa quay ở vị trí 0, còn miếng tựa phải quay nghiêng về phía mặt tinh chế để trượt nhẹ trên bề mặt gia công

Khi đầu giao quay nghiêng 20 thì đầu trượt chạy được với tât cả các khoảng chạy Khi đầu dao quay nghiêng lớn hơn 20 thì đầu dao cách thân máy ít nhất là 10mm

• Miếng đỡ bắt chặt vào đế trượt và có thể dịch chuyển được một khoảng nhất định

2.1.2.1.2 Thân máy

Trang 14

Thân máy hình hộp được đúc bằng gang, được bắt trên đế máy bằng 6 bo lông Phía trong thân máy có các đường gân để tăng độ cứng vững và đằng sau

có lắp động cơ điện bằng giá đỡ và các bu lông Phía trên thân có gia công hai bậc vuông quay vào nhau, phần mặt dưới để lắp hai căn dài Hai miếng căn dài này được ghép với thân máy tạo thanhg mộng lỗ mang cá để cầu trượt tịnh tiến quay lại Phía trong thân máy có hai bộ phận quan trọng là hộp tốc độ và bộ phận chuyển động chính

2.1.2.1.3 Hộp tốc độ

Hộp tốc độ máy B365 gồm ba trục chính được bố trí phía trong thân máy

và có sáu tỉ số truyền

-Trục I: là hai trục nhận chuyển động từ động cơ 4,5 Kuqua bộ truyền đai (95/350) Trên trục 1 có lắp khối bánh răng di trượt ba bậc, được lắp ghép với trục bằng mối ghép then bằng dài và then bằng này đươc bắt chặt với trục bằng

ba vít chìm

-Trục II: là trục trung gian có lắp các bánh răng cố định Z40, Z22, Z35, Z30 được lắp ghép với trục nhờ then bằng và cố định bánh răng bằng vít đầu chìm, tay quay trục đầu vuông có lắp chắn, lò xo an toàn, tay quay này sử dụng cho việc thử hành trình đầu máy ứng với chiều dài khi gá chi tiết gia công

-Trục III: là trục đưa chuyển động ra cho cơ cấu khác, nó có kết cáu trục bậc phức tạp có nhiều kích thước Trên trục có một bánh răng nghiêng Z23 cố định với trục để ăn khớp với bánh răng nghiêng Z102 lắp trên cơ cấu chuyển động chính

Tại các đầu trục được lắp ổ bi đỡ lồng cầu hai dãy, phía trái trục III có lắp thêm ổ bi chặn, có tác dụng khử lực dọc trục do bánh răng Z23 gây ra

Cơ cấu điều khiển các bánh răng di trượt trên trục I và trục III là hai tay gạt trực tiếp thông qua trục dẫn hướng mang ngàm gạt Các tay gạt được định vị bằng lò xo đế tránh nhảy số

2.1.2.1.4 Bộ phận chuyển động chính

Là bộ phận truyền mô men từ hộp tốc độ đến đầu bào, nhiệm vụ của bộ phận chuyển động chính là biến chuyển động quay tròn thành chuyển động tịnh tiến qua lại của đầu bào Bộ phận chuyển động chính gồm ba phần:

Trang 15

được gia công một rãnh then để lắp với bánh răng Z102, bên trong trục rỗng được lắp trục bậc thông qua hai bậc chặn Đầu ngoài của trục bậc được gia công vuông để lắp tay quay Đầu trong của trục được lắp bánh răng côn Z20

ăn khớp với bánh răng Z36 lắp trên trục vít Trục vít quay trong gối đỡ, gối

đỡ được lắp trên bánh răng Z102 bằng hai bu lông đầu chìm

• Bánh răng culit: mặt đầu của bánh răng được lắp hai căn tạo thành hệ thống mặt trượt đuôi én ghép con trượt hình thang chuyển động tịnh tiến trong đó Hai căn cố định với bánh răng culit nhờ các bu lông lục giác và điều chỉnh được khe hở giữa căn trượt với con trượt hình thang, trên lưng con trượt hình thang được gia công một khối trụ để lắp với con trượt vuông Phần thân của con trượt hình thang được gia công lỗ ren để lắp với trục vít và đầu của trục vít này được lắp bánh răng côn Z36 ăn khớp với bánh răng côn ổ đầu trục Đầu ngoài cùng của trục vít me được gia công ren để lắp đai ốc điều chỉnh trục vít được đỡ bởi một gối đỡ lắp cố định với bánh răng culit thông qua các

bu lông đầu chìm Con trươt vuông nằm trong rãnh trượt của thanh biên và được cố định với khối trụ của con trượt thang nhờ mặt bích và vít đầu chìm

• Thanh biên: là một chi tiết được làm bằng gang có nhiều gân gờ để tăng độ cứng vững, phía dưới có gia công rãnh có mặt cong để lắp với con trượt cầu, phía trên thân có gia công rãnh chữ nhật để con trượt vuông trượt trên đó

2.1.2.1.5 Bản máy

Bản máy dùng gá kẹp các chi tiết gia công, hệ bàn máy chuyển động lên xuống, sang phải, sang trái nhờ các tay quay Bàn máy được chia thành hai cụm chi tiết chính: -Bàn giá

-Xà ngang

• Bàn giá: là phần chủ yếu để gá kẹp các chi tiết gia công, nó được chế tạo bằng gang (bàn giá được gia công đạt cấp chính xác cấp 2) Trên bề mặt có gia công các rãnh chữ T để thuận tiện cho việc gá kẹp các chi tiết gia công Bàn gá không gia công thành một khối mà gia công thành nhiều khối, rồi ghép lại trượt trên xà ngang Bên trong có gia công một đai ốc được bắt chặt với bàn gá để khi trục vít quay thì mang đai ốc chuyển động

• Xá ngang: là một chi tiết được chế tạo bằng gang nó có nhiệm vụ dẫn hướng cho bàn gá chuyển động ngang và mang bàn gá chuyển động thẳng đứng Xà

Trang 16

ngang được chế tạo thành hai hệ mặt trượt Các cơ cấu thực hiện các chuyển dộng lên xuống là bánh răng côn, đai ốc trục vít, mặt trượt Bộ phận thực hiện bước tiến tự động của bàn gá là cơ cấu cóc, làm việc theo nguyên lý ăn khớp bánh răng Z23 với bánh răng Z102 rồi truyền tới cặp bánh răng

Z36/Z36 thông qua thanh truyền làm cơ cấu cóc quay và trền vào trục vít me làm đai ốc mang bàn giá chuyển động tịnh tiến ngang Trên hai hệ mặt trượt

xà ngang người ta bố trí kết cấu mộng hình chữ nhật, do đó các miếng căn cũng là hình chữ nhật

2.1.2.1.6 Đế máy

- Đế máy được đúc bằng gang có tác dụng nhằm đảm bảo độ cứng vững cho toàn máy Đế máy được gia công sáu lỗ để bắt chặt với móng máy nhằm đảm bảo vị trí và độ cứng vững cho toàn máy

2.1.2.2 Nguyên lý làm việc

2.1.2.2.1 Chuyển động của cơ cấu culit

Từ trục III của hộp tốc độ qua cặp bánh răng nghiêng Z23/Z102 làm con trượt thang quay tròn Khi con trượt thanh quay làm cho con trượt vuông vừa tịnh tiến trong thanh biên vừa quay một góc nhất định Cứ như vậy thanh biên lắc qua lắc lại mang đầu bào chuyển động

2.1.2.2.2 Chuyển động của bàn máy

• Chuyển động tự động ngang: chuyển động từ bánh răng Z36 của cơ cấu culit

ăn khớp với bánh răng Z36 Nhờ thanh truyền nối với cơ cấu cóc làm cho cơ cấu cóc mang trục vít quay tròn Khi trục vít quay làm cho đai ốc tịnh tiến và mang bàn gá tịnh tiến ngang

• Chuyển động bằng tay quay: ta chỉ việc quay tay quay vô lăng lắp cố định với trục bằng một chốt côn và làm trục vít quay thực hiện chuyển động quay tròn và đai ốc tịnh tiến mang theo bàn máy tịnh tiến ngang

• Chuyển động lên xuống của bàn máy: khi quay tay quay làm trục mang bánh răng côn Z36 Dẫn tới khi bánh răng Z36 quay tròn làm cho trục vít quay theo, trục vít quay và mang hệ bàn máy chuyển động đi lên hoặc đi xuống

2.1.2.2.3 Chuyển động của đầu gá dao

Trang 17

Đầu giá dao được bắt chặt với đầu bào dùng để gá dao và có thể thay đổi được

góc độ của dao khi cần bào những mặt phẳng nằm nghiêng, góc quay của đầu gá

dao là -60 +60 Đầu gá dao được chuyển động đi lên đi xuống nhờ tay quay

cố định với trục vít quay trong đai ốc (đai ốc tịnh tiến, trục vít quay tròn) Đầu

gá dao xoay bằng cách nới lỏng hai đai ốc và xoay đi một góc tùy ý trong phạm

vi 60, khi đã chọn được góc nghiêng ta chỉ việc xoáy chặt hai đai ốc lại

2.1.2.2.4 Điều chỉnh khoảng chạy của đầu bào

Khi điều chỉnh khoảng chạy của đầu bào ta nới tay hãm thanh biên với đầu bào

Sau đó lắp tay quay vào đầu trục vuông và quay trục, khi trục quay truyền lực

cho bộ bánh răng côn làm theo trục vít me quay theo, và lắp với đai ốc cố định

thanh biên Lúc này trục vít me vừa quay vừa đứng yên tại chỗ đai ốc chuyển

động mang cả thanh biên di chuyển làm cho con trượt vuông chuyển động cả

hai chiều về phía trước hay về phía sau và làm cho gần hoặc xa tâm bánh răng

Z102 nghiêng 15 Khi con trượt gần tâm thì khoảng chạy ngắn, khi con trượt xa

tâm thì khoảng cách dài, khi chọn khoảng chạy xong phải xiết chặt tay quay lại

2.2 Giới thiệu về nguyên lí làm việc của hộp tốc độ máy bào

Hộp tốc độ máy bào B365 gồm ba trục chính được bố trí phía trong than

máy và co sáu tỷ số truyền

Trục I : là trục nhận chuyển động từ động cơ qua bộ truyền đai (95/350)

Trên trục I có lắp khối bánh răng di trượt ba bậc được lắp ghép với trục bằng

mối ghép then bằng dài và then này được lắp ghép với trục bằng ba vít trí

Truc II: là trục trung gian có lắp ghép các bánh răng cố định Z40

,Z22,Z35,Z30 được lắp ghép với trục bằng mối lắp ghép then bằng và cố

định bánh răng bằng vít đàu chìm , đầu bên phải là kết cấu tay quay trục đầu

vuông có nắp chắn , lò xo an toàn , tay quay này sử dụng cho việc thử hành

trình đầu máy ứng với chiều dài chi tiết gia công

Trục III :là trục đưa chuyển động ra cho cơ cấu khác , nó có kết cấu trục bậc

phức tạp có nhiều kích thước Trên trục co bánh răng nghieng Z23 cố định

với trục để ăn khớp với bánh răng nghieng Z102 lắp trên cơ cấu chuyển động

chính

Tại các đầu trục được lắp các bi lồng cầu hai rãnh , phía trái trục III có lắp

them ổ bi chặn để khử lực dọc trục do bánh răng Z23 gây ra

Cơ cấu điều khiển trên các bánh răng trên trục I và trục III là do hai tay gạt

trực tiếp thong qua trục dẫn hướng mang ngàm gạt các tay gạt được định vị

bằng bi và lò xo để tránh nhảy số

Trang 18

+Đặc điểm làm việc của hộp tốc độ

-hộp tốc độ máy bào B365 làm việc ở tải trọng cao , khoảng cách trục dài nên được lắp các ổ bi đỡ lồng cầu 2 dãy tự lựa , quá trình làm việc lâu ngày ổ

bi sẽ bị vỡ

- các bánh răng của hộp có kết cấu lớn được lắp cố định , di trượt trên các trục bằng then bằng do hộp được bôi trơn bằng chế độ thủ công nên thường phải để ý đến các bánh răng xem có bị sứt mẻ khi hộp phát ra tiếng kêu và do các then bằng dài nên phải kiểm tra các vít then

- hộp bánh răng nghiêng Z23 ăn khớp và truyền chuyển động lên bánh răng Z102 của mâm biên , thường phải chú ý độ ăn khớp , khe hở giữa cặp bánh răng này

* Xích tốc độ

- Chuyển động chính của máy bào B365 là chuyển động tạo ra tốc độ cắt của dao tốc độ được lấy từ động cơ có công suất N=4,5kw với n=950v/p và có xích tốc độ là

N=4,5kw

40 20

30 40

- Chuyển động tròn quay của động cơ tới trục I, từ trục I truyền tới trục II của ba cặp bánh răng ăn khớp là

, Từ trục II truyền chuyển động sang trục

III nhờ hai cặp bánh răng ăn khớp là

Trang 19

quay làm cho con trướt vuông vừa chuyển động tịnh tiến trong thanh biên vừa quay một góc nhất định, cứ như vậy làm cho thanh biên lắc qua lắc lại mang đầu bào có lắp với đầu gá rao tịnh tiến trên thân máy để đi gia công chi tiết

Như vậy hộp tốc độ có 6 tỷ số truyền cụ thể như sau:

Tốc độ thứ 1: 950v/p

350

90 40

20 48

22 102

25 48

22 102

30 48

22 102

20 20

40 102

25 20

40 102

30 20

40 102 23

=73 hành trình kép trong 1 phút

Trang 20

Bản vẽ lắp hộp tốc độ

2.2.1 Xây dựng quy trình tháo lắp

2.2.1.1 Quy trình tháo

Ngày đăng: 11/02/2023, 05:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w