Nh÷ng con sè thèng kª Chương 4 Lựa chọn chính sách xã hội theo quan điểm phát triển bền vững 4 1 Khái niệm và sự lựa chọn chính sách xã hội theo phương pháp truyền thống 4 2 Lựa chọn chính sách theo q[.]
Trang 1Chương 4.
Lựa chọn chính sách xã hội theo quan điểm phát
triển bền vững
4.1 Khái niệm và sự lựa chọn chính sách xã hội theo phương pháp truyền thống
4.2 Lựa chọn chính sách theo quan điểm phát triển bền vững
4.3 Cơ sở lý luận và phương thức kết hợp hài hòa gữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế
4.4 Cơ sở lý luận và phương thức kết hợp hài hòa giữa chính sách phát triển kinh tế - xã hội với các chính sách bảo vệ môi trường
4.5 Những đề cần lưu ý khi lựa chọn chính sách xã hội theo quan điểm phát triển bền vững
Trang 24.1 Khái niệm và sự lựa chọn chính sách xã hội theo phương pháp truyền thống
4.1.1 Khái niệm lựa chọn chính sách xã hội
Lựa chọn chính sách xã hội là việc Nhà nước xây dựng hệ thống các chính sách xã hội; xác định mức độ quan trọng và thứ bậc ưu tiên; xác định phương thức, mức độ tham gia của Nhà nước và thị trường vào quá trình thực thi các chính sách trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm.
Định nghĩa bao gồm:
Nhà nước có vai trò hoạch định chính sách xã hội ,Trong đó,
+ Xác định mức độ quan trọng của từng chính sách và xếp thứ tự ưu tiên
+ Xác định phương thức, mức độ tham gia của mình vào từng chính sách là tham gia trực tiếp hay tham gia gián tiếp;
+ Tạo ra cơ chế, để khuyến khích các tổ chức kinh tế xã hội (thị trường) tham gia vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội
+ Chính sách phải thể hiện rõ quan điểm nhà nước và thị trường cùng làm, phân định rõ ranh giới cái gì nhà nước làm cái gì thị trường làm.
+ Quan điểm:Hướng đầu tư nhà nước vào hạ tâng xã hội, dịch vụ công đảm bảo cho những người nghèo, tầng lớp yếu thế, nhường các dịch vụ khác cho thị trường doang nghiệp
Trang 34.1.2 Lựa chọn chính sách theo quan điểm truyền thống
Các căn cứ lựa chọn chính sách xã hội
Mục tiêu phát triển: hướng đến mục tiêu vì hạnh phúc con người, có thể chia thành mục tiêu dài hạn và từng giai đoạn
Trình độ phát triển kinh tế: là tổng hợp các chỉ tiêu đo lường,
năng suất lao động, thu nhập theo đầu người, cơ cấu kinh tế, chỉ số (HDI)
Truyền thống văn hoá và pháp luật
Mức độ hội nhập và mở cửa với thế giới
Trang 4Các nguyên tắc lựa chọn chính sách xã hội
Mỗi thể chế chính trị khác nhau, các nguyên tắc lựa chọn chính sách
xã hội cũng khác nhau Tuy nhiên, trong thức tế có 4 nguyên tắc cơ bản
về lựa chọn chính sách xã hội thường được áp dụng
Ổn định hoặc thay đổi.
Nguyên tắc ổn định là các chính sách nhằm hướng đến việc duy trì,
hỗ trợ các chuẩn mực, các giá trị phổ biến hiện thời
Nguyên tắc ổn định sẽ được thiết kế theo hướng duy trì địa vị cũ của một nhóm người nên có xu hướng trao đặc quyền cho nhóm người này, nhưng lại tạo ra bất lợi cho nhóm người khác
Được áp dụng cho cả khâu thiết kế và cả khi lựa chọn chính sách là
ưu tiên thúc đẩy phát triển hay ưu tiên công bằng xã hội
Trang 5Công bằng hay đặc quyền
Là việc thiết kế chính sách, nhằm tới mục tiêu đối xử công bằng cho mọi công dân, hay dành đặc quyền cho một nhóm người nào đó, bao gồm cả công bằng theo chiều ngang
và cả công bằng theo chiều dọc.
Trong thiết kế và lựa chọn chính sách người ta sử dụng thị trường để thực hiện công bằng ngang và sự can thiệp của nhà nước để thực hiện công bằng dọc.
Ví dụ: trong giáo dục và y tế, có thể xây dựng các gói chính sách cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao với chi phí cao giành cho người có khả năng chi trả; đồng thời xây dựng các gói chính sách đảm bảo các nhu cầu giáo dục, chăm sóc y
tế tối thiểu cho người có thu nhập thấp
Trang 6Bình đẳng hay bất bình đẳng
Nguyên tắc bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá không phân biệt thành phần và địa
vị xã hội của các đối tượng chính sách.
Khi xây dựng và lựa chọn chính sách theo nguyên tắc bình đẳng sẽ làm giảm sự khác biệt giữa các nhóm người.
Những nhà nước tôn thờ chủ nghĩa tự do cá nhân do tạo cơ hội
để được tự do tăng của cải, tài sản nên khó đảm bảo nguyên tắc bình đẳng.
Những quốc gia đi theo xu hướng chủ nghĩa tập thể, thì các chính sách thường hướng đến sự bình đẳng
Xu hướng chung của chính sách xã hội hiện hiện nay là vừa nhấn mạnh quyền tự do của các cá nhân, vừa mang tính tập thể hoặc tập trung hoá các phúc lợi dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế.
Trang 7Thống nhất hay đa dạng
- Xã hội là một thể thống nhất trong sự đa dạng, do đó, khi xây dựng và lựa chọn chính sách phải hướng đến duy trì sự thống nhất hoặc sự đa dạng.
- Nguyên tắc đa dạng thường phức tạp, khó xã định, khó quản lý, nhưng chúng có tác động thúc đẩy và gắn với bình đẳng về cơ hội, tạo nên sự công bằng xã hội.
-Nguyên tắc thống nhất thì đơn giản, dễ xác định, nhưng theo hướng duy trì cái cũ, tạo ra đặc quyền, bất bình đẳng giữa các đối tượng.
-Trong một số chính sách được lựa chọn có thể vừa theo nguyên tắc thống nhất nhằm duy trì sự ủng hộ, nhưng cũng có những yếu tố đa dạng khuyến khích sự đổi mới.
Trang 84.2 Lựa chọn chính sách theo quan điểm phát triển bền vững
4.2.1 Chính sách xã hội theo quan điểm phát triển bền vững
Một là: Chính sách đó phải tập trung vào giải quyết vấn đề con
người, vì con người và lấy con người làm động lực của sự phát triển
Hai là, bảo đảm tái sản xuất sức lao động cho xã hội (bằng các
chính sách phân phối thu nhập, đào tạo, giáo dục, bảo vệ sức khỏe…) đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển
Ba là, bảo đảm cơ sở và những điều kiện cơ bản cho đời sống vật
chất và tinh thần hôm nay và mai sau
Bốn là, hướng dẫn tiêu dùng lành mạnh, vừa phát triển kinh tế, vừa
bảo vệ truyền thống văn hóa Cho phép mọi người làm giàu hợp pháp, nhưng
có có một lối sống hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng tạo môi trường ưu việt cho sự tăng trưởng kinh tế
Năm là, một chính sách xã hội theo hướng bền vững phải gián tiếp
giáo dục lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ môi trường của con người thông qua con người…
Trang 94.2.2 Yêu cầu đối với chính sách xã hội theo quan điểm phát triển bền vững
Yêu cầu trước hết đối với một chính sách xã hội theo quan điểm PTBV là lồng ghép được các vấn đề kinh tế và môi trường vào chính sách xã hội
Một chính sách xã hội, trước hết phải thể hiện được nội dung xã hội mà chính sách đó muốn đề cập đến Sự tác động của chính sách xã hội đối với khía cạnh kinh tế và môi trường thường là gián tiếp Do đó khi hoạch định một chính sách xã hội phải lường hết được các tác động gián tiếp đó
CSXH phải góp nhần tạo ra dư luận xã hội để mọi người hiểu được tầm quan trọng của PTBVvà tự nguyện để thực hiện
Về mặt kinh tế, Thông qua các chính sách xã hội tạo dư luận hạn chế
việc sản xuất và tiêu dùng không thân thiện với môi trường và không phù hợp với truyền thống văn hóa của xã hội
Về mặt môi trường: lên án các hành vi xâm hại môi trường, tạo dư luận
xã hội tẩy chay những sản phẩm không thân thiện với môi trường
Về mặt xã hội Tạo cơ sở để phát triển xã hội Một quốc gia thật sự phát
triển không chỉ là quốc gia trong đó người dân có thu nhập cao, mà còn là một quốc gia có đời sống văn hoá sung mãn vì văn hoá và xã hội còn có vai trò là thành tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 104.2.2.2 Tạo điều kiện để phát triển nguồn vốn xã hội
Khi nghiên cứu về PTBV, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman
(1926-1995) đã phân biệt ba loại vốn là: vốn vật thể, vốn con người và vốn xã
hội.
“Vốn xã hội" có ba đặc tính: Thứ nhất, nó tùy thuộc vào mức độ mà người trong xã hội tin cậy nhau Thứ hai, nó có giá trị vì là gói ghém những liên hệ xã hộivà những liên hệ này mang đặc tính của kênh truyền thông Thứ
ba, vốn xã hội càng lớn nếu xã hội càng có nhiều lề thói (nhất là những lề thói
mà người không tuân theo sẽ bị trừng phạt)
Còn theo nhà kinh tế Kenneth Arrow (Nobel 1972) thì, “ưu điểm của
vốn xã hội là nó không cạn kiệt qua sử dụng, song cái nguy hiểm là loại vốn này dễ bị suy mòn nếu chính sách phát triển là không đúng và không thể một sớm một chiều tái tạo hay vay mượn nó được
Thiếu vốn xã hội (hoặc nếu vốn xã hội không được kịp thời thay thế bởi những loại vốn khác) thì phát triển sẽ không bền vững Một quốc gia thiếu tính cộng đồng, thiếu tính dân tộc thì đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người (dù thu nhập vật chất có là cao), tức là một quốc gia không phát trỉển bền vững”
Trang 114.3 Cơ sở lý luận và phương thức kết hợp hài hòa gữa chính sách
xã hội với chính sách kinh tế
4.3.1 Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách xã hội và chính
sách kinh tế
Mọi CSKT và CSXH có quan hệ mật thiết với nhau, chúng đều hướng vào mục tiêu phát triển con người, đầu tư cho chính sách xã hội chính là đầu tư cho phát triển kinh tế
Chính sách kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở tạo việc làm, tạo nên sự phồn vinh của cả cộng đồng Nhu cầu của con người được thỏa mãn ngày càng cao thì càng tạo cho con người năng lực
và nhiệt tình lao động để phát triển kinh tế
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội, vì vậy, đòi hỏi phải có các chính sách, chương trình xã hội riêng biệt
Chính sách xã hội còn tạo ra động lực của sự phát triển, bởi vì giải quyết tốt các vấn đề xã hội chính là thực hiện giải phóng sức sản xuất, hướng tới xây dựng con người làm chủ xã hội Vì vậy, không thể coi chính sách xã hội là “cái đuôi” và đi sau chính sách kinh tế
Trang 124.3.2 Phương thức kết hợp hài hòa giữa chính sách xã hội với chính sách
kinh tế
Chính sách xã hội không thể thoát ly khỏi chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô
Song đi vào những chính sách cụ thể lại thường phát sinh những mâu thuẫn, Vì
vậy: cần chú ý một số vấn đề có tính chất nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, trong hoạch định chính sách phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
luật của nền kinh tế thị trường hóa để phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế, đồng thời phải lường trước những mặt khiếm khuyết để chủ động điều chỉnh thông qua cơ chế và chính sách phù hợp và kịp thời
Thứ hai, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình hoạt động của
các chủ thể kinh tế, mà bằng cách tạo ra môi trường pháp lý cho họ Nhà nước phải tăng cường can thiệp đến mức tối đa vào giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là các vấn đề chương trình mục tiêu
Thứ ba, cần phải hết sức coi trọng việc xã hội hóa cả trong nhận thức và
hành động về mối quan hệ quốc gia giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội; phải quán triệt trong tất cả các ngành, các cấp và mọi người, đặc biệt là trong các
cơ quan và cán bộ hoạch định và triển khai thực hiện chính sách
Thứ tư, trong việc kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
phải biết lựa chọn ra những chính sách gốc, xác định những vấn đề xã hội cần ưu tiên giải quyết trước
Trang 13Phương hướng kết hợp giữa chính sách xã hội và chính sách kinh tế
Mối quan hệ hợp lý giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội phải được xác định trong định hướng chính sách ở tầm vĩ mô và trong xây dựng phương án chính sách cụ thể Có ba phương thức lựa chọn chủ yếu:
-Thực hiện chính sách xã hội sau chính sách kinh tế
- Thực hiện chính sách xã hội trước chính sách kinh tế
- Thực hiện chính sách xã hội đồng thời với chính sách kinh tế
Bài học kinh nghiệm lịch sử của các nước cho thấy:
Nếu chọn phương thức đầu thì sẽ sa vào quan điểm chạy theo kinh tế coi
nhẹ các vấn đề xã hội kìm hãm sự phát triển (gây hậu quả lâu dài)
Nếu lựa chọn phương thức thứ hai thì lại rất dễ mắc sai lầm chủ quan, duy
ý chí Chính sách thì đúng nhưng không có điều kiện vật chất để thực hiện sẽ
trở thành nói suông, hứa hão, mất lòng tin (thiếu động lực phát triển)
Vì vậy, phương thức lựa chọn của chúng ta là: Thực hiện chính sách xã
hội đồng thời với chính sách kinh tế
Trang 14Sự lựa chọn ở nước ta
Để kết hợp đồng thời giữa mục tiêu KT và XH phương thức hướng lựa chọn của nước ta ở tầm vĩ mô là nhập lại làm một và gọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Trong đó:
- Kết hợp trong mục tiêu và phương hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
- Kết hợp trong quy hoạch tổng thể, trong kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội 5 năm;
- Kết hợp trong việc xây dựng và thể chế hóa, luật pháp hóa các chính sách xã hội;
- Kết hợp trong kế hoạch và cân đối ngân sách hàng năm Trong đó, xác định rõ tỷ lệ và quy mô đầu tư cho chính sách xã hội, có lựa chọn các vấn đề ưu tiên;
- Kết hợp trong việc lồng ghép các chương trình dự án kinh
tế với các chương trình, dự án xã hội…
Trang 154.4 Cơ sở lý luận và phương thức kết hợp hài hòa giữa chính sách phát triển kinh tế - xã hội với các chính sách bảo vệ môi trường.
4.4.1 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế- xã hội và môi trường Giữa môi trường tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ
hết sức chặt chẽ đó là sự mâu thuẫn trong thống
Sự thống nhất: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế- Xã hội phát triển và kinh tế phát triển là cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường tự nhiên theo hướng ngày càng tốt hơn
Mâu thuẫn: Mọi của cải vật chất mà con người sản xuất ra xét đến cùng bằng cách này hay cách khác đều lấy vật liệu từ tự nhiên Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, một mặt chúng ta phải đảm bảo cho sự phát triển, gia tăng đầu
tư cho tăng trưởng kinh tế Nhưng;
Việc chi phí cho việc bảo vệ môi trường quá mức có thể cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế,giảm tính cạnh tranh
Nếu không chi phí cho bảo vệ môi trường đúng mức, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, dẫn đến sự xuống cấp về môi trường và sự xuống cấp này sẽ hạn chế tăng trưởng triển kinh tế
Vấn đề: Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, khả năng cạnh tranh
Trang 164.4.2 Phương thức kết hợp giữa chính sách phát triển kinh tế-
xã hội và môi trường
Tiếp cận “kinh tế xanh”
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)
Trang 17Kinh tế xanh
Theo UNEP, “kinh tế xanh” là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và khủng hoảng sinh thái Hiểu một cách đơn giản, “kinh tế xanh” là nền kinh tế ít phát thải carbon, tiết kiệm tài nguyên và tạo ra công bằng xã hội Đồng thời, nó là chiến lược kinh tế để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Kinh tế Xanh là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng cho xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro, tai biến về môi trường và khủng hoảng sinh thái
Kinh tế Xanh góp phần giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Kinh tế Xanh là xu hướng phát triển tất yếu và là lựa chọn của nhiều quốc gia trên thế giới
Đối với Việt Nam, chuyển đổi mô hình Kinh tế Xanh sẽ mang lại hiệu quả lâu dài, trong đó cần chú trọng đầu tư phát triển một số ngành Kinh tế Xanh mũi nhọn như nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái, công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, tái sinh rừng tự nhiên…