Nhiều trường ĐH của Việt Nam được tổ chức “Mạng lưới các trường ĐH châu Á” (Asia University Network: AUN) tổ chức khảo sát, đánh giá chất lượng chương trình đào tạo. Nhiều chương trình[r]
Trang 1CỦA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM “PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU”
Trịnh Ngọc Thạch1 Tóm tắt
Bài viết tập trung vào hai khía cạnh là: chính sách “Nhà nước ưu tiên bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước” và Chính sách đầu tư tài chính cho Giáo dục đại học theo mô hình “chia sẻ chi phí” giữa Nhà nước, người học và cộng đồng xã hội Qua đó, phân tích chính sách ưu tiên đầu
tư tài chính cho giáo dục của Việt Nam theo quan điểm “Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu”
Từ khóa: Chính sách; Tài chính cho giáo dục; Chính sách phát triển giáo dục.
Mở đầu
Từ quan điểm “phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” đã được thể chế hóa trong Hiến pháp 2013 Chính sách ưu tiên đầu tư tài chính cho giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) được nêu trong Nghị quyết 29/NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ Tám BCHTƯ Khóa
XI, 14/11/2013: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển GD&ĐT Ngân sách nhà nước (NSNN) chi cho GD&ĐT tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách… từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục công lập; hoàn thiện chính sách học phí, tín dụng; có chế
độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục…”.
Báo cáo này chỉ tập trung phân tích chính sách ưu tiên (NSNN) chi cho GD&ĐT tối thiểu
ở mức 20% tổng chi ngân sách…, từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục công lập (chủ yếu dành cho các cấp học của GDPT) và chính sách “chia sẻ chi phí” đối với Giáo dục đại học (GDĐH) thông qua hành lang pháp lý về đa dạng hóa nguồn thu của các cơ sở GDĐH
1 Về chính sách “Nhà nước ưu tiên bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước”
1.1 Thực trạng chi NSNN cho GD&ĐT
So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam là quốc gia chi ngân sách cho GD&ĐT thuộc vào nhóm cao
1 Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN,TN&NĐ của Quốc hội; Điện thoại:
0913249386; Email: ngocthach74@gmail.com.
Trang 2Hình 1: So sánh chi tiêu cho GDĐT của Việt Nam và các nước
(Nguồn: Số liệu nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, 2016)
Để đánh giá tác động của chính sách đầu tư tài chính từ NSNN (chi tối thiểu 20% trong tổng chi NSNN) cho GD&ĐT để đưa vào Luật GD sửa đổi 2018, nhóm nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khảo sát và đánh giá thực trạng chi NSNN cho GD&ĐT những năm vừa qua và rút ra một số nhận xét sau đây:
- Mặc dù đặt mục tiêu là chi tối tiểu 20% trong tổng chi NSNN, nhưng trên thực tế vẫn chưa đạt mục tiêu này Theo báo cáo mới đây, giai đoạn 2012 – 2016, tổng chi NSNN theo dự toán của Quốc hội chỉ dao động từ 17% - 18%
Bảng 1: Quyết toán chi NSNN dành cho GD&ĐT 2012-2016
2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Trung bình 2012-2016
A GDP (giá thực tế) 3.245.419 3.584.262 3.937.856 4.192.862 4.651.980
B
Tổng quyết toán chi
NSNN theo dự toán
Quốc hội
978.463 1.088.153 1.103.983 1.265.625 1.295.061
1 Chi NSNN cho giáo
dục - đào tạo 188.915 208.087 218.395 229.592 240.905
1.1 Chi từ nguồn thu
1.2 Chi NSNN cho
GD&ĐT (trừ học phí) 176.061 194.146 203.747 212.378 222.786
C
Tỷ trọng chi cho
GD&ĐT (gồm cả học
phí)/ Chi dự toán
quốc hội
19,30% 19,10% 19,80% 18,10% 18,60% 18,98%
Trang 3NỘI DUNG Năm 2012 Năm
2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Trung bình 2012-2016
D
Tỷ trọng chi cho
GD&ĐT/ Chi dự toán
quốc hội (không tính
học phí)
18,00% 17,80% 18,50% 16,80% 17,20% 17,66%
E
Tỷ lệ chi NSNN cho
GD&ĐT (cả học
phí)/ GDP
Tỷ lệ chi NSNN cho
GD&ĐT (không tính
học phí)/ GDP
(Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai Bộ Tài chính
và quyết toán của KBNN nhiều năm)
- Cơ cấu chi NSNN cho GD&ĐT mất cân đối giữa chi đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi
thường xuyên (CTX)
Bảng 2: Cơ cấu chi NSNN cho GD&ĐT phân loại theo chi thường xuyên và chi đầu tư (2012 - 2016)
Đơn vị tính: Tỷ đồng
NỘI DUNG
Quy
mô
Tỷ trọng
Quy mô
Tỷ trọng
Quy mô
Tỷ trọng
Quy mô
Tỷ trọng Quy mô
Tỷ trọng
Tổng số 188.915 208.087 218.395 229.592 240.905
Chi đầu tư
phát triển 37.801 20% 39.959 19% 36.306 17% 39.216 17% 42.926 17% Chi
thường
xuyên
151.114 80% 168.128 81% 182.089 83% 190.376 83% 197.978 83%
(Nguồn: Tổng hợp số liệu quyết toán chi NSNN từ KBNN)
Theo bảng số liệu trên, trong cơ cấu chi NSNN cho GD&ĐT giai đoạn 2012 - 2016, tỷ trọng CTX tăng và tỷ trọng chi ĐTPT giảm, cụ thể:
+ CTX có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn gần đây, nguyên nhân chính là do việc tăng lương cho giáo viên, tăng chỉ số giá tiêu dùng Tốc độ tăng CTX trung bình giai đoạn
2012 - 2016 là 107% giảm đi so với trung bình giai đoạn 2011 - 2015 là 116,4%
+ Chi ĐTPT giảm mạnh về tỷ lệ (gần 5% từ 2011 đến 2016), lý do chính là Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu công để giảm gánh nặng nợ côngvà giảm đầu tư do giai đoạn trước được tăng cường đầu tư cơ sở trường lớp Tốc độ tăng chi đầu tư trung bình chỉ là 103,6%
Trang 4Trong chi ĐTPT, chi đầu tư XDCB chiếm tỷ trọng cao nhất, dao động từ 80% - 84% trong tổng chi ĐTPT từ NSNN dành cho GD&ĐT
Bảng 3: Cơ cấu chi NSNN phân loại theo cấp học
Đơn vị tính:%
Giáo dục phổ thông trung học cơ sở 22,7 22,5 21,9 22,3 21,9 22,2 Giáo dục trung học phổ thông 11,2 10,5 10,5 10,2 10,2 10,1 Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên 3,4 3,3 3,2 2,9 2,7 2,8 Giáo dục trung học chuyên nghiệp 1,1 1,0 0,9 0,7 0,7 0,6
(Nguồn: Tổng hợp số liệu quyết toán chi NSNN từ KBNN)
Theo Bảng 3, cơ cấu chi NSNN cho GD&ĐT phân loại theo cấp học cho thấy chi cho GDTH và THCS chiếm tỷ lệ cao nhất Tỷ trọng này cũng ít thay đổi qua 6 năm Số chi của NSNN cho GDĐH (bao gồm chi cho hệ đào tạo ĐH và đào tạo SĐH) chiếm trung bình khoảng 9,58% giai đoạn 2012-2016 nhưng biến động qua các năm, trong khi chi NSNN cho giáo dục THPT có xu hướng giảm xuống (điều này phù hợp với xu hướng XHH giáo dục và thay đổi dân số trong giai đoạn gần đây)
Giáo dục mầm non có sự gia tăng đáng kể trong cơ cấu chi NSNN, năm 2011, chi cho cấp học này chỉ là 13,5% nhưng đến năm 2016 đã chiếm 17,8% tổng chi NSNN cho giáo dục Điều này cho thấy chủ trương của Việt Nam là tăng cường chi NSNN cho các cấp học cơ sở, đáp ứng nhu cầu về quyền tiếp cận cơ bản của người dân với GD&ĐT
Nếu loại trừ học phí của từng cấp học, số thực chi từ NSNN cho từng cấp học có thay đổi đôi chút Ngân sách vẫn chi nhiều nhất cho GDPT, nhất là GDMN và tiểu học, tỷ lệ chi thực từ NSNN cho các cấp học này tăng lên so với cơ cấu chi (bao gồm cả học phí) Ngược lại, tỷ lệ chi cho GDĐH và SĐH từ NSNN lại giảm mạnh, năm 2015 từ 10% xuống 6% Nói cách khác, một tỷ lệ khá lớn chi cho GDĐH và SĐH là đến từ người học (học phí) Điều này cũng phù hợp với chủ trương XHH giáo dục của Nhà nước
Cách thức thống kê chi NSNN theo luật NSNN 2002 (coi học phí là khoản chi quản
lý theo ngân sách), vì vậy có thể làm sai lệch đi khi phân tích ngân sách Điều này đã được
Trang 5sửa đổi khi luật NSNN 2015 quy định học phí là một loại giá dịch vụ và không được xem như khoản chi quản lý qua NSNN Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc lập dự toán và quyết toán NSNN có tính đến khoản thu từ học phí của các trường học hay không
Trong tổng chi NSNN cho GD&ĐT: Chi NSTƯ chiếm tỷ trọng bình quân 12,9% và chi
NSĐP chiếm tỷ trọng 87,1% giai đoạn 2011-2016 Từ năm 2011 đến năm 2016, quy mô chi NSTƯ và chi NSĐP cho GD&ĐT luôn tăng về số tuyệt đối cùng với tốc độ tăng chi NSNN cho GD&ĐT Tuy nhiên, tỷ trọng chi cho GD&ĐT của NSTƯ có xu hướng tăng dần từ 10% năm 2011 đến 13% năm 2016 (tăng 4% trong tổng chi NSNN cho GD&ĐT), còn tỷ trọng chi cho GD&ĐT của NSĐP có xu hướng giảm nhẹ từ 90% năm 2011 còn 87% năm 2016
Khi tách riêng mục quyết toán chi ĐTPT và CTX, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận xét như sau:
+ Trong chi ĐTPT cho GD&ĐT: Chi NSTƯ chiếm tỷ trọng bình quân 13,8% và chi NSĐP
chiếm tỷ trọng 86,2% Mức chi NSTƯ và chi NSĐP thay đổi không đồng đều qua các năm Mức chi NSĐP khá ổn định trong cả giai đoạn, có thay đổi về tỷ trọng trong tổng chi ĐTPTtừ NSNN cho GD&ĐT, nhưng chủ yếu do thay đổi tỷ trọng chi của NSTƯ
+ Trong tổng CTX cho GD&ĐT: Chi NSTƯ chiếm tỷ trọng bình quân 11% và chi NSĐP
chiếm tỷ trọng quan trọng là 89% Từ năm 2011 đến năm 2016, quy mô chi NSTƯ và chi NSĐP luôn tăng về số tuyệt đối cùng với tốc độ tăng CTX NSNN cho GD&ĐT Chi NSTƯ tăng 14.836 tỷ đồng năm 2016 so với năm 2011, chi NSĐP tăng 76.451 tỷ đồng năm 2016 so với năm 2011 Tuy nhiên, tỷ trọng chi của ngân sách trung ương có xu hướng tăng dần từ 11% năm 2011 đến 13% năm 2016 (tăng 6%), ngược lại tỷ trọng chi thường xuyên của ngân sách địa phương có xu hướng giảm nhẹ, từ 89% năm 2011 xuống còn 86% ngay năm 2012 tiếp theo và các năm còn lại đều có tỷ trọng 87%
Như vậy, chi NSNN cho GD&ĐT chủ yếu dành cho CTX, trong CTX thì chi cho tiền lương chiếm trung bình 60% Chi đầu tư có xu hướng giảm đi trong vài năm gần đây Trong các cấp học, chi NSNN chủ yếu vẫn dành cho tiểu học và mầm non, chi cho GDĐH (nếu trừ học phí) có xu hướng giảm đi trong giai đoạn 2011-2016 Điều này phù hợp với xu thế chung của thế giới: GDĐH và GDNN là những bậc học có thể tạo nguồn thu từ xã hội hóa dễ hơn
so với các bậc học phổ thông và mầm non Hơn nữa, chủ trương của Nhà nước là ưu tiên đầu tư NSNN chi cho các cấp học của GDPT, nhất là các cấp học Tiểu học và THCS (cấp học giáo dục phổ cập 9 năm)
1.2 Kết quả đánh giá khái quát về chi NSNN cho GD&ĐT của nhóm nghiên cứu thuộc
Bộ Giáo dục và Đào tạo
a) Những mặt tích cực
Với việc tập trung một nguồn lực đáng kể dành cho GD&ĐT, Việt Nam đã đạt được những thành quả ấn tượng như có tới 96,8% người trong độ tuổi đi học biết chữ; tỷ lệ nhập học ở GDMN diện phổ cập đạt 98,3%, (gần chạm đến ngưỡng phổ cập hoàn toàn)
Trang 6(Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2017)
Hình 2: Học sinh Việt Nam thuộc nhóm có kết quả đánh giá PISA rất cao
Gần đây, kết quả đánh giá học sinh quốc tế do PISA công bố đã thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà hoạch định chính sách giáo dục trên thế giới Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) là cuộc khảo sát do OECD thực hiện cứ 3 năm một lần để đánh giá về hệ thống giáo dục trên toàn thế giới thông qua việc kiểm tra kiến thức và kỹ năng của học sinh
ở độ tuổi 15 (tương đương HS lớp 9 ở Việt Nam) Trong cuộc khảo sát mới nhất của PISA (thực hiện 2015) có hơn 500.000 học sinh đại diện cho khoảng 28 triệu em đến từ 72 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới tham gia Kết quả mới được công bố cuối năm 2017 cho thấy Singapore là nước được xếp đầu tiên, Việt Nam được xếp thứ 8 trong bảng xếp hạng, cao hơn Anh, Mỹ, Trung Quốc
Chất lượng GDĐH mặc dù được đánh giá thấp hơn so với GDPT những gần đây đã có bước tiến đáng ghi nhận Trong khoảng 3 năm trở lại đây, một số tổ chức đánh giá và xếp hạng các đại học quốc tế (World University Rankings), như: Quacquarelli Symonds (QS), Time Higher Education (THE), Viện nghiên cứu Giáo dục, thuộc ĐH Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc đã tiến hành khảo sát, đánh giá và xếp hạng các trường ĐH trên thế giới
và châu lục Năm 2018, theo công bố của QS, Việt Nam có 2 ĐH lọt vào nhóm 1000 ĐH tốt nhất thế giới (ĐHQG HN và ĐHQG TP Hồ Chí Minh) và 5 ĐH được xếp vào nhóm 150 ĐH tốt nhất Châu Á Nhiều trường ĐH của Việt Nam được tổ chức “Mạng lưới các trường ĐH châu Á” (Asia University Network: AUN) tổ chức khảo sát, đánh giá chất lượng chương trình đào tạo Nhiều chương trình đào tạo của các trường ĐH Việt Nam được công nhận và xếp hạng cao trong so với các ĐH của châu lục Mới đây, tháng 9/ 2019, THE đã công bố bảng xếp hạng ĐH cho năm 2020 Trong đó, hai ĐH của Việt Nam lọt vào top 1000 trường ĐH tốt nhất thế giới; đó là ĐHQGHN và ĐHQG TP Hồ Chí Minh
Trang 7Đạt được kết quả này ít nhất một phần nhờ cam kết cao của Chính phủ Việt Nam thể hiện trong tỷ lệ chi NSNN cho GD&ĐT luôn ở mức xấp xỉ 20% tổng chi NSNN, một tỷ lệ khá cao trong khu vực châu Á và trên thế giới Mặc dù luôn khó để chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa chi tiêu và kết quả trong GD&ĐT nhưng rõ ràng chi tiêu cao cho GD&ĐT của Việt Nam
có mối tương quan với các thành quả ấn tượng về tỷ lệ người biết chữ, về kết quả đánh giá PISA, trong khi Việt Nam vẫn chỉ là một quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp
b) Những tồn tại, hạn chế
- Thứ nhất, mặc dù tỷ lệ chi cao nhưng nếu nhìn nhận khách quan, có thể thấy rằng:
do quy mô GDP của Việt Nam còn thấp nên dù tỷ lệ chi cho GD&ĐT trên GDP cao nhưng nguồn lực tài chính huy động được vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu cho phát triển GD&ĐT Ngoài ra, so sánh trong cùng nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp (LMICs) thì tỷ lệ chi tiêu cho GD&ĐT của Việt Nam không phải quá cao (mức trung bình của nhóm LMICs là 5,1% GDP)
- Thứ hai, kết quả phân tích ở trên cho thấy quyết toán chi NSNN cho GD&ĐT nếu loại trừ học phí (là phần đóng góp của người học) trong giai đoạn 2012 - 2016 chưa khi nào NSNN đáp ứng được 20% tổng chi NSNN như quy định trong Nghị quyết của Quốc hội
- Thứ ba, tỷ trọng chi NSNN của địa phương cho GD&ĐT cũng luôn cao hơn mức 20%, song còn có sự khác nhau giữa các địa phương
Đơn vị tính:%
(Nguồn: Quyết toán NSNN từ KBNN)
Hình 3: Tỷ trọng chi cho GD&ĐT so với tổng chi NSĐP 2011-2016
c) Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
- Thứ nhất, do chỉ có quy định về tỷ lệ 20% trong Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 của Quốc hội mà không được thể chế hóa thống nhất bởi một văn bản quy phạm pháp luật ở cấp
độ luật và văn bản dưới luật nên việc xác định chính xác tỷ lệ chi cho GD&ĐT hàng năm chỉ mang tính tương đối, chưa có sự thống nhất
Trang 8- Thứ hai, hiện không có bất kỳ quy định nào ràng buộc các cấp chính quyền địa phương phải đảm bảo chi 20% NSĐP cho GDĐT Tỷ trọng chi cho GD&ĐT/Tổng chi NSĐP giữa các địa phương trong cả nước khá chênh lệch So sánh chi NSĐP cho GD&ĐT so với tổng chi NSĐP của các địa phương trung bình trong 6 năm từ 2011 đến 20161 giữa địa phương cao nhất và thấp nhất thì con số này chênh lệch khá lớn Trong số 63 tỉnh, thành, Vĩnh Long là địa phương có tỷ trọng chi cho GD&ĐT/Tổng chi NSĐP cao nhất (trung bình
cả giai đoạn là 35,3%) và địa phương thấp nhất là TP Đà Nẵng (chỉ có 10%) Tỷ trọng chi cho GD&ĐT/Tổng chi NSĐP luôn duy trì ở mức trên 20% trong cả giai đoạn 2011-2016 Tỷ trọng chi có xu hướng tăng liên tục trong 4 năm đầu và đạt mức cao nhất là 25,5% vào năm
2014, tuy nhiên lại giảm đi trong năm 2016, chỉ đạt mức 22,6% Trung bình cả giai đoạn tỷ lệ này là 23,7% Tỷ lệ chi NSNN cho GD&ĐT rất khác nhau giữa các vùng và các địa phương
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về chi tiêu ngân sách cho giáo dục
Xét trên phạm vi quốc tế, hầu hết các nước đã và đang tăng các khoản chi tiêu công dành cho giáo dục (Szirmai, 2005) Khi thu nhập (đo bằng GDP bình quân đầu người) đang tăng trên toàn thế giới, điều này có nghĩa là tổng số tài nguyên toàn cầu chi cho giáo dục cũng gia tăng về mặt tuyệt đối
Hình 4: Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong GDP ở nhóm các quốc gia
Ghi chú: LICs – Các nước có thu nhập thấp, LMICs – các nước có thu nhập trung bình thấp, UMICs – các nước có thu nhập trung bình cao (Nguồn từ số liệu của UIS nhiều năm)
Giữa năm 2002 và 2012, chi tiêu trung bình trên tổng số giáo dục là một phần GDP tăng
từ 3,1 đến 3,8% trong khối các nước thu nhập thấp (LICs) Chi tiêu trong các nước có thu nhập trung bình thấp (LMIC) tăng từ 4,4 đến 5,1%, với các nước thu nhập trung bình cao
1 Riêng 2015 vì chưa có số liệu quyết toán NSNN chi tiết theo địa phương nên chưa tính.
Trang 9(UMICs) có mức tăng nhẹ, từ 5,0 đến 5,2 phần trăm (hình 4) Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng
kể giữa các quốc gia Với 70 quốc gia có dữ liệu sẵn có cho năm 2002 đến năm 2012, hai phần
ba tăng tỷ lệ chi tiêu công dành cho giáo dục so với GDP Song ở vài quốc gia cá biệt như Cộng hòa Uganda và Chad, đã có tỷ lệ chi tiêu thấp dưới 2,5% GDP, chi tiêu công cho giáo dục có sự suy giảm hơn nữa trong thập kỷ này Mặc dù dữ liệu ở các quốc gia có thu nhập thấp là hạn chế, vẫn có thể thấy xu hương tăng chi tiêu cho giáo dục cơ bản từ 1,5% đến 2% trong GDP giai đoạn từ 2002 đến 2012 Tỷ lệ chi tiêu cho GD&ĐT trong NSNN về cơ bản khá
ổn định ở các nước có thu nhập trung bình
Nếu xét cụ thể trong vài năm gần đây, ở một số quốc gia chi tiêu công cho giáo dục không còn được coi là khoản chi tiêu công được ưu tiên nhất, đặc biệt là ở các quốc gia nghèo châu Phi khi họ phải dành chi NSNN cho y tế Tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển
có thu nhập trung bình và khá vẫn tiếp tục duy trì tỷ lệ cao chi NSNN cho GD&ĐT
Việt Nam có thể nhìn nhận khách quan là do quy mô GDP còn nhỏ nên mặc dù có tỷ
lệ chi NSNN cho GD&ĐT khá cao nhưng nguồn lực tài chính từ NSNN huy động được vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của GD&ĐT
Mức chi NSNN của Việt Nam năm 2013 cho 01 học sinh tiểu học tính theo USD sức mua tương đương chỉ là 1108 USD (PPP) trong khi con số tương tự của Malaysia là 4074 USD và Thái Lan là 3800 USD1
Tương tự, nếu so sánh về mức chi của NSNN cho mỗi sinh viên đại học thì Việt Nam (năm 2013) chỉ đạt 1749 USD (giá cố định) trong khi số liệu của các nước năm 2014
là Indonesia đạt 2058 USD/sinh viên, Malaysia là 7293 USD/sinh viên, Hàn Quốc là 5128 USD/ sinh viên Nếu so với Pháp, “quốc gia bao cấp” cho GD&ĐT thì mức chi còn lớn hơn rất nhiều khi nước này chi NSNN trung bình mỗi sinh viên năm 2015 là 13373 USD (giá
cố định)2
Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thấy Việt Nam là quốc gia có chính sách ưu tiên đầu tư tài chính cho giáo dục, chú trọng việc tập trung đầu tư NSNN cho GDPT, đầu tư
có chọn lọc một số cơ sở GDĐH trọng điểm Chính sách này đã được thể hiện rõ trong Luật
GD sửa đổi 2018 (có hiệu lực từ 1/7/2019):
“- Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu là 20% tổng chi ngân sách nhà nước
- Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục được phân bổ theo nguyên tắc công khai, dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; bảo đảm ngân sách để thực hiện phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số
và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Nhà nước có trách nhiệm bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời để thực hiện phổ cập giáo dục
và phù hợp với tiến độ của năm học”
1 Số liệu của Ngân hàng Thế giới và thống kê của Unesco, 2018
2 Số liệu của Ngân hàng Thế giới và thống kê của Unesco, 2018
Trang 102 Chính sách đầu tư tài chính cho Giáo dục đại học theo mô hình “chia sẻ chi phí” giữa Nhà nước, người học và cộng đồng xã hội
Theo báo cáo của Quốc hội năm 2013, trong 20% NSNN chi cho giáo dục thì GDĐH (trong đó bao gồm cả dạy nghề) đã chiếm khoảng hơn 7%, phần còn lại phải chi cho tất cả các bậc học của GDPT, đặc biệt phải dành sự ưu tiên cao cho cấp tiểu học trong diện phổ cập bắt buộc được Hiến pháp 2013 quy định, đồng thời hướng tới chính sách miễn học phí cho
HS cấp THCS (kể cả trường công lập và tư thục) trong cấp học phổ cập theo quy định của Luật GD sửa đổi 2018
Hiện nay, việc cắt giảm NSNN cho GDĐH đang là một xu hướng chung của thế giới, bởi vì, GDĐH được xếp vào loại hình dịch vụ công, có khả năng thu hút nguồn lực từ “xã hội hóa” cao hơn Theo một số tài liệu mới công bố, các trường ĐH công ở Mỹ chỉ được NSNN cấp không quá 30%, phần còn lại các trường phải tự tìm kiếm ở các nguồn khác, trong đó học phí của người học chiếm một tỷ lệ quan trọng Nhưng ở các nước châu Âu mức đầu tư cho ĐH công dường như lại cao hơn Mỹ Có thể tham khảo số liệu về chi phí cho GDĐH ở một số quốc gia trong Bảng 4 dưới đây:
Bảng 4 So sánh chi phí cho GDĐH so với GDP của một số quốc gia
(Nguồn: Phạm Phụ (2016) [4])
Qua các số liệu trong Bảng 4, có thể nhận thấy chi phí cho GDĐH của Việt Nam tương đồng với Canada, Trung Quốc và Indonesia, những quốc gia có nền GDĐH tương đối phát triển
Về kinh nghiệm “giải bài toán” đầu tư tài chính cho GDĐH ở một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu của Phạm Phụ đã rút ra một số nhận xét quan trọng [5]:
Thứ nhất, nói cho cùng thì với nhà nước, với một trường ĐH và cả với từng sinh viên (SV), cơ bản vẫn là cơ cấu “chia sẻ chi phí” (Cost-sharing): chi phí đơn vị sẽ được chia sẻ, tính
theo (%), như thế nào giữa: 1) ngân sách nhà nước (NSNN); 2) học phí từ người học và 3) đóng góp của cộng đồng
Thứ hai, hiện nay đang thực hiện chính sách thu học phí đều, gần giống nhau cho các
đối tượng xã hội khác nhau trong bối cảnh cung ở ĐH chỉ xấp xỉ 25% của cầu, một tỉ lệ lớn
SV thuộc nhóm gia đình trung và thượng lưu, chưa thật sự thu “lũy tiến” trong thuế trực thu Theo lập luận của trường phái kinh tế học “Tân tự do”, đấy là tạo thêm mất công bằng
xã hội