Nét đẹp qu hương trong tập tản văn "Nét quê"
Trang 1BÀI CHUYÊN ĐỀ
MÔN: THỂ LOẠI VĂN HỌC
ĐỀ TÀI: NÉT ĐẸP QUÊ HƯƠNG TRONG TẢN VĂN
“NÉT QUÊ” CỦA THẾ MẠC VÀ HÀ NGUYÊN HUYẾN
MỤC LỤC
1
Trang 2A) Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài………1
2 Lịch sử vấn đề………1
3 Phương pháp nghiên cứu………2
4 Phạm vi nghiên cứu………2
5 Cấu trúc đề tài……….2
B) Nội dung Chương I Cơ sở lý thuyết chung. I Quan niệm về tản văn……… 3
II Khái quát về tản văn “Nét quê” của Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến……….3
1 Tác giả Thế Mạc và Hà Nguyê Huyến………3
1.1 Tác giả Thế Mạc……… 3
1.2 Tác giả Hà Nguyên Huyến……… 4
2 Tập tản văn “Nét quê”……… 4
Chương II Hồn quê Việt trong tản văn “Nét quê” của Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến. I Bức tranh làng quê Việt……… 6
1 Thiên nhiên……… 6
2 Kiến trúc……… 8
II Tinh hoa ẩm thực……… 9
1 Ẩm thực quê hương……….9
2 Ẩm thực – tinh hoa văn hóa Việt……… 13
III.Con người - Linh hồn mảnh đất quê hương……….14
1 Con người……… 14
2 Kỉ niệm tuổi thơ……….15
Chương III Một số đặc điểm nghệ thuật của tản văn “Nét quê”……… 16
1 Cái “tôi” của tác gải được thể hiện trực tiếp……… 16
2 Ngôn ngữ………16
3 Hình ảnh……….17
4 Giọng điệu……… 17
C) Kết luận
2
Trang 5A) PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX, tản văn dường như không được nhắc đến, và nói như cách nói của giáo sư Trần Đình Sử là “bị quên lãng” Nhưng tản văn chưa bao giờ bị hủy diệt, nó vẫn âm thầm, vẫn sống – một mạch sống ngầm trong dòng chảy tiến trình văn chương Cho đến nay, ta không thể phủ nhận sự tồn tại của
nó Tuyển tập “Tản văn hiện đại Việt Nam” do tác giả Lê Trà My thực hiện đã tạo
một bước ngoặt, tạo một vị thế mới cho thể loại này
Tản văn hiện đại từ khi xuất hiện cho đến nay đã có những thành tựu nhất định Ngay từ thời kì đầu, một loạt tên tuổi xuất hiện như Tản Đà, Xuân Diệu, Thạch Lam, Nguyễn Tuân rồi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Tư, Phùng Tất Đắc và cả những nhà nghiên cứu như Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Mạnh,…họ đã dồn tâm huyết vào thể loại đó và có những đóng góp to lớn Hiện nay, sự xuất hiện của các bài tản văn ngày càng nhiều (bút kí, tùy bút, blog, …) thu hút nhiều độc giả Chính vì vậy việc nghiên cứu về tản văn cũng dần được để ý và chú trọng hơn “Nét quê” – tập tản văn của hai tác giả Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến được “trình làng” năm 2005, đến nay đã có một vị trí nhất định trong dòng tản văn hiện đại
Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều báo cáo khoa học đã tìm hiểu khá kĩ về tản văn của Thạch Lam, Nguyên Tuân, Vũ Bằng, Băng Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Tư…song chưa ai đi sâu vào tập “Nét quê” của hai tác giả Thế Mạc và
Hà Nguyên Huyến
Chính vì vậy, trong bài viết của mình tôi xin đi sâu tìm hiểu tập tản văn và đưa
ra một vài nét cơ bản, đóng góp vào hệ thống những bài nghiên cứu về tản văn hiện đại để có một cái nhìn tổng quan, đầy đủ hơn Đặc biệt là tập tản văn “Nét quê”!
2 Lịch sử vấn đề
Theo khảo sát của người viết bài đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu của nhiều tác giả kì công nghiên cứu về thể lại tản văn
Trang 6Có nhiều bài nghiên cứu, báo cáo khoa học của các tác giả khác nhưng chưa ai tìm hiểu sâu, kĩ về tản văn “Nét quê” của hai tác giả Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến.
3 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp: khảo sát, nhận xét, thống kê,…
Chương I Cơ sở lí thuyết chung
Chương II Bức tranh quê hương trong tản văn “Nét quê” của Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến
Chương III Một số đặc điểm nghệ thuật trong tản văn “Nét quê”
Chương IV Đóng góp của tản văn “Nét quê” trong nền văn học đương đại
C Kết luận
B) NỘI DUNG
Trang 7CHUƠNG I CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG
I Quan niệm về tản văn
Tản văn hiện đại xuất hiện muộn hơn các thể loại khác, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có những kết luận cuối cùng về thể loại này Vì vậy, ở đây, tôi chỉ đề cập đến nhưng quan niệm (không phải khái niệm) của một số nhà khoa học đã
kì công nghiên cứu về tản văn
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hãn chủ biên , các nhà nghiên cứu quan niệm: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật…Trong tản văn hiện đại, tản văn bao gồm các thể kí, tùy bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học,…”
Với luận văn “Bước đầu tìm hiểu tản văn Việt Nam thời kì đổi mới”, tác giả Lê Trà My đề cập đến tản văn như một thể loại (tản văn hiện đại, xuất hiện ở thế kỉ XX) với bốn đặc điểm sau: Hình thức văn bản của tản văn là văn xuôi, tản văn là thể loại bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả, tản văn là loại tác phẩm có cấu tứ, tản văn là loại tác phẩm thừa nhận tính đa dạng của cách thức biểu hiện
Như vậy, nói đền tản văn, có những cách hiểu, cách quan niệm khác nhau Song các nhà nghiên cứu đều nêu lên những điểm cơ bản để hiểu rõ về thể loại này
II Khái quát về tản văn “Nét quê” của Thế Mạc
đi Tây Bắc, sau đó từng là cán bộ của Viện Nghiên cứu Giáo dục, Viện Giáo dục Dân tộc và cuối cùng
về giảng dạy tại Trường THPT Sơn Tây Tác phẩm
chính đã xuất bản: Thơ: Hồ
Trang 8(1994); Nguồn (1998); Thơ - Thế Mạc, Trường ca Núi Tỏ, Phùng Hưng đánh hổ, Đồi
Hổ Gầm cùng nhiều tác phẩm văn xuôi và phê bình văn học Ông đoạt Giải
thưởng báo Văn nghệ năm 1960, Giải thưởng UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 1994, Giải thưởng VHNT Nguyễn Trãi lần thứ Nhất và thứ Hai
1.2 Hà Nguyên Huyến
Nhà văn Hà Nguyên Huyến sinh năm 1958, quê
ở Sơn Tây – Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)
Ông đã đạt nhiều giải thưởng văn chương: Giải thưởng
cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 1998 -2000; Giải
thưởng cuộc thi sáng tác Văn học cho thiếu niên nhi
đồng – NXB Trẻ; Giải thưởng văn học Nguyễn Trãi –
Hội VHNT Hà Tây; Giải thưởng cuộc thi Truyện ngắn
Hội VHNT Hà Tây, 2001
II Tập tản văn “Nét quê”
Tập tản văn “Nét quê” của hai tác giả Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến gồm hai phần Phần đầu tiên là các sáng tác của người thầy Thế Mạc được nhà văn Hà Nguyên Huyến tập hợp từ các bài tản văn in rải rác trên báo Phần hai là các sáng tác của chính nhà văn Hà Nguyên Huyến
Tập tản văn được in và xuất bản, gồm 238 trang, Nhà xuất bản Thanh Niên,
năm 2005
Trang 9Mai và cúc của thi hào Nguyễn Trãi
Hình tượng rồng trong sinh vật cảnh
Cảm hứng chơi non bộ
Hình tượng rắn trong cây cảnh
Ăn ốc trông giăng
Kẹo bột đông sang
Cá trình – đặc sản vùng sông tíchQua đi những mùa cau
Nỗi niềm đá ong
Làng Đường Lâm – Hà Tây đất hai vua
CHƯƠNG II HỒN QUÊ VIỆT TRONG TẢN VĂN “NÉT QUÊ” CỦA THẾ MẠC VÀ HÀ NGUYÊN HUYẾN
I Bức tranh làng quê Việt.
Trang 10“ Quê hương là chùm khế ngọt – Cho con trèo hái mỗi ngày” Quê hương, hai tiếng thân thương ấy luôn tồn tại trong tiềm thức người Việt Bức tranh phong cảnh, bức tranh thiên nhiên luôn ẩn chứa những vẻ đẹp độc đáo Độc giả đã từng được say đắm trong những tản đầy hương sắc, dư vị của Thạch Lam, Nguyễn Tuân hay Vũ Bằng Mỗi nhà văn có một cách riêng khiến người đọc say sưa không chán Thạch Lam nhẹ nhàng tinh tế, Nguyến Tuân uyên bác mà đầy thẩm mĩ…Đến với tản văn “Nét quê” của Hà Nguyên Huyến, người đọc lại thêm một lần “hưng phấn” với những vẻ đẹp đậm chất quê hương, những vẻ đẹp tinh hoa văn hóa của một vùng đất nước.
1 Thiên nhiên
Cúc, hoa hải đường,cẩm cù, sen, lộc vừng, mai, cây cơm nguội, cây khế,…tất
cả được Thế Mạc tập hợp, tạo thành một khu vườn sinh thái, một công viên cây và hoa lí thú Mỗi loài đều có những vẻ đẹp riêng, gắn với những kỉ niệm riêng của tác giả
Đất Hà thành ngào ngạt hương hoa sữa, nồng nàn trong cái tim tím của bằng lăng song còn có những vẻ đẹp khác rực
rỡ và đẹp không kém Được tác giả Thế
Mạc nhắc đến là cúc và cẩm cù Cúc
sóng đôi với mùa thu, cái đẹp của tiết trời
se se, có chút nắng, một vẻ đẹp đã đi vào
tiềm thức người Việt như một dấu ấn,
một sự thường tình Cúc còn là đề tài
cảm hứng cho thi nhân, hoa cúc đi vào
thơ như một sự tương giao hài hòa, đẹp
đến lạ! Sắc vàng của cúc gây cảm giác ấn
tượng khó phai, cúc còn tượng trung cho
sự ẩn dật
Còn hoa cẩm cù, có lẽ ấn tượng
đầu tiên chính là mùi hương đặc biệt của nó, “lúc như mùi bánh khảo, lúc lẫn nhòe vào ranh giới của dạ lan hương và bạch thiên hương ; lúc lạitưởng như có những hạt hương siêu mịn từ quế lan, mặc lan xen lẫn” Cẩm cù là linh khí của đất trời, tượng trung cho con đường hanh thông
Trang 11Nói đến tản văn Thế Mạc mà không nhắc đến những loài hoa, cây ở quê hương thì quả là một thiếu sót lớn
Vào mùa hạ, đi dọc con đê sông, mùi hương của sen vẫy gọi lòng người Sen là loài hoa đặc trưng của Việt Nam, từ Bắc chí Nam đâu đâu cũng có những ao/ hồ sen Sen là biểu tượng của Phật giáo, sen đẹp một vẻ đẹp hiền lành, từ bi “Sen nở và nở như muôn ngàn cánh tay của Đức Phật Quan Âm đại bi đang cứu vớt chúng sinh”
Và không chỉ đẹp, sen còn có mùi thơm hấp dẫn, kích thích vị giác của con người, bởi vậy mà sen được coi như một nguyên liệu trong ẩm thực “Thịt vịt được chặt ra, mùi thịt vịt quện với hương sen đã tạo thành một mùi vị mà không phải bỗng chốc gọi tên ra được”… “Từng miếng thịt kia được đưa cùng cánh hoa sen béo ngọt nằm gọn trong chiếc bát xinh xinh , đợi chờ một chén rượu quê đông lâu , để chủ nhân đưa
nó vào biến hóa ở thế giới khác Đó là món vịt hấp hoa sen non”.
Cây khế là tượng trưng của quê hương, là kỉ niệm và còn là văn hóa “Quê hương là chùm khế ngọt…Chùm khế ngọt với bóng mẹ già, với tuổi thơ đi học , với đàn bướm, với chiếc cầu tre, với con đò, với chiếc nón lá là những hình tượng được chọn lọc đã trở thành bóng hình của một dân tộc, một vùng văn hóa lúa nước” Cây khế có đủ công dụng trong đời sống hằng ngày, có thể ăn tươi, nấu nướng và chữa bệnh Cây khế qua ngòi bút của Thế Mạc còn là một người bạn gắn với tuổi thơ, là biểu tượng của vùng quê yên bình, ngọt ngào
Cây cơm nguội đỏ rạc cả một bầu trời, rụng xuống mảnh đất mẹ nồng nàn,…Các loài hoa có những vẻ đẹp riêng, hương vị riêng mai và cúc đi vào những sáng tác của nhà thơ, hải đường hay cẩm cù đều đẹp, hương thơm nhẹ nhàng mà ấn tượng,
… Kết thúc khu vườn sinh thái có thể nhắc đến là cau – một loại cây phổ biến ở làng quê Việt Xưa nay, trầu cau vốn là nét văn hóa Việt đẹp đẽ, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trầu cau trở thành câu chuyện tình duyên, là lễ vật không thể thiếu trong cưới hói Và quả cau còn gắn với người bà, người mẹ Cau tạo nên những cảnh quan thật đẹp, đi vào thơ ca một cách
Trang 12bình dị mà sâu lắng Cả tác gải Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến đều nói đến cau như một người bạn thân thiết, một chứng nhân của tuổi thơ Cau gắn với mo quạt của bà, gắn với người mẹ khéo bổ cau, khéo têm trầu cánh phượng,…
Dù đi bất cứ nơi nào trên thế giới cũng không thể tìm đâu ra một không gian thiên nhiên như ở vùng quê Việt, đó không chỉ thiên nhiên đơn thuần mà đó còn là một “linh hồn” Bởi lẽ nó gắn liền với mỗi con người, là kí ức không thể phai mờ trong tiềm thức
Như vậy, chỉ với những bài tản văn ngắn, hai tác giả đã cho bạn đọc được ngao du, chiêm ngưỡng thiên nhiên quê hương Và phải chăng cũng làm thức dậy một nỗi nhớ đối với ai xa quê lâu ngày! Đọc tản văn của họ mà lòng phấp phổng, lắng đọng một nỗi nhớ khôn nguôi
2 Kiến trúc
Nói đến bức tranh làng quê Việt mà không nhắc đến kiến trúc có lẽ bức tranh
ấy chưa thể trọn vẹn, đặc biệt là ở làng cổ Đường Lâm Trong tác phẩm dù chỉ có một bài tản văn song đó lại là một điểm sáng, bao trùm không gian của mảnh đất quê hương
Phần kiến trúc nổi bật và đặc trưng nhất có lẽ là cổng, xây cổng không chỉ làm một lần là xong, đó là công việc của cả dòng họ, mỗi đời làm một phần việc “Cổng được làm theo lối cổ truyền, trên là mặt bia, dùng đá ong vừng (loại đá có nổ nhỏ lì),
trang trí những đường triện vuông theo kiểu triện Tàu, lá nảy Đường triện tinh xảo,
mềm dẻo Lòng bia trạm nổi bốn chữ đại tự :
Danh Sơn Lương Ngọc Nét chữ tươi tắn rắn
rỏi, tinh vi như là không phải trạm trên đá ong vậy” Công việc xây cổng giống như là công cuộc tạo dựng tuyệt tác nghệ thuật, mọi công đoạn làm kĩ lưỡng, tỉ mỉ “Phần cổng là
vòm cuốn quai giỏ, đá triết núi cam , sau khi
nhốt viên khóa các cạnh đá đều hướng về
tâm cổng”… “ tâm cổng là điểm vô hình mà cũng là hữu hình nhờ các cạnh đá…Khách
Trang 13đến cổng, đá xòe ra như nan quạt tựa một lời mời mọc hiếu khách, giảm được tính thâm nghiêm đường bệ của đá ong”.
II Tinh hoa ẩm thực
1 Ẩm thực quê hương
“ Miếng ăn” là một đề tài quen thuộc trong văn học Ăn không chỉ đáp ứng nhu cầu bản năng của con người mà nó còn là một nét văn hóa đẹp đẽ
Thế Mạc và Hà Nguyên Huyến thật biết chiều lòng người khi phô ra những
“thức” khiến người đọc phải nao lòng, họ kích thích người đọc tưởng tượng và nhấm nháp trong suy nghĩ Những thứ tưởng như rất đỗi bình thường, quen thuộc ở một vùng quê lại hóa thành “đặc sản” độc đáo, mỗi nơi có hương vị và âm sắc riêng Song
ẩm thực đâu chỉ đơn giản là những món ăn, những thức uống mà đó là “tinh túy, tinh hoa” của văn hóa Việt!
Trước hết, khảo sát những bài tản văn về ẩm thực của Thế Mạc, ta thấy rằng những thức mà ông đề cập đến đều không phải cao lương mĩ vị, không phải là những
món ăn xa hoa với người nông dân mà đó chỉ là ốc (Ăn ốc trông giăng), kẹo bột (Kẹo bột Đông Sàng), xu xê (Xu xê xuân), bánh tẻ (Bánh tẻ Cầu Liêu), rau muống (Rau muống) Những thức thật đỗi bình dị, thân quen!
Ăn ốc đâu chỉ là ngồi ăn, thưởng thức hương vị thơm ngon của ốc mà ăn ốc thì phải trông giăng, như thế mới “toát lên một phong tục đẹp tương quan giữa con người với trời đất của một vùng văn hóa lúa nước” Một cách ăn hay, cách ăn mà tác giả Thế Mạc gọi là “cách ăn rất Tản Đà” thật độc đáo “Ốc phải ngâm với nước gạo
từ mấy hôm trước để nhả hết rêu và chất bẩn Lấy khăn lau khẽ từng con Lấy những chiếc vỏ sò to cũng rửa sạch và lau khô Một chiếc hỏa thực (lò nướng) đỏ rực than hồng Chọn ngày gió thu se lạnh, hiu hiu, trăng chênh chếch trên ngọn Ba Vì Một liễn mỡ và đĩa hành hoa thái sẵn, một bình rượu hồng, ngâm khởi tử Bộ chén bạch định hạt mít” Cách ăn “ngon” như vậy có lẽ phải được thưởng thức một lần trong đời người đọc mới hiểu hết từng con chữ của Thế Mạc
Rồi kẹo bột Đông Sàng hay xu xê đều toát lên những cảm thức quê hương, mang một hồn quê mang mác mà tinh tế đến kì diệu! Còn gì hơn ? Đó chính là văn
Trang 14hóa Việt! Một số làng quê Việt Nam cũng
có kẹo bột, nhưng kẹo bột Đông Sàng
(Đường Lâm – Hà Tây) có một vị riêng lạ,
“chất ngọt đặc biệt lan tỏa từ miệng tới cơ
thể”, “đậm đà như tình bạn” Nguyên liệu
làm nên kẹo bột cũng cần phải chọn lựa kĩ,
mật phải tốt, gừng phải giã nhỏ,…và cách
làm cũng phải khéo léo, đúng độ Còn xu xê
mang đến hương vị của mùa xuân, hương vị
của mùa cưới xin Xu xê còn gắn với tuổi
thơ của những đứa trẻ hồn nhiên, với người
mẹ, người chị của mình Mỗi miền đất Việt
lại có những nét riêng tạo nên nền văn hóa
chung của dân tộc
Và còn bánh tẻ, rau muống,… tất cả đều có hương sắc riêng, có vị thơm ngon riêng Cái ngon của bánh tẻ khiến những người đã thoát tục cũng phải nao lòng Bánh tẻ phải có độ riêng, “vắt một phần tám quả chanh, đừng chua quá, gắt Sau này thêm cái mì chính, hỏng! Tôi thì chẳng ưa cái cà cuống không hợp vị Chỉ cần lât phất tí bụi hạt tiêu trên mặt bánh hình tròn như áng mây trời là được” Có lẽ phải là người biết thưởng thức mới biết được chi li tới vậy Còn rau muống, một món ăn dân giã và chưa bao giờ xa lạ đối với người Việt ta “Mâm cơm có mấy quả cà và bát canh rau muống là đủ sức hấp dẫn chẳng cần gì cao lương mĩ vị” Người xa quê, được thưởng thức rau muống liền nhớ tới câu ca dao : “ Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” Rau muống kể cũng lạ, cứ tường nó “tầm thường”, chẳng có gì đáng nói vậy mà lại giữ một sứ mệnh quan trọng đến thế! Đó là sợi dây kết nối giữa kẻ ở - người đi Có lẽ chỉ có đến tản văn Thế Mạc độc giả mới nhận ra được điều đó
Tác giả Thế Mạc đã cho người đọc nhấm nháp những hương vị quê giản dị mà nên thơ còn nhà văn Hà Nguyên Huyến thì sao?
Ông bà có câu “Chè Thái, gái Tuyên”, vậy mà đến với làng Cam Lâm người đọc thật sự thích thú với chè tươi qua ngòi bút tinh tế của Hà Nguyên Huyến Chè tươi ở làng Cam Lâm, thuộc xã Đường Lâm được coi là “đạt đến độ tuyệt vời”: “Nhất trong là nước giếng Nghè/ Nhất ngon là bát nước chè Cam Lâm” Lá chè để nấu nước